1. Nghị định 108/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ khẩu

Ngày 19 tháng 08 năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị định 108/2005/NĐ-CP về việc bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định số 51/CP ngày 10/5/1997 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ khẩu:

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Nghị định

của chính phủ Số 108/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2005
Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 51/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ
về đăng ký và quản lý hộ khẩu

Chính phủ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an,

Nghị định:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ khẩu như sau:

1. Điều 11 được sửa đổi như sau:

"Điều 11. Để được đăng ký hộ khẩu tại nơi mới đến, người chuyển đến phải có nhà ở hợp pháp. Nhà ở hợp pháp bao gồm:

1. Nhà ở thuộc sở hữu của người chuyển đến:

a) Nhà ở có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc nhà xây trên đất ở có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Nhà ở có giấy tờ hợp lệ về nhà ở, đất ở theo quy định của pháp luật;

c) Trường hợp nhà ở chưa có một trong các loại giấy tờ quy định tại điểm a, b nêu trên, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn về tình trạng hợp pháp của nhà ở, đất ở.

2. Nhà ở được quyền sử dụng hợp pháp gồm:

a) Nhà ở có hợp đồng thuê nhà của cá nhân với cơ quan, tổ chức, cá nhân có chức năng kinh doanh nhà theo quy định của pháp luật;

b) Nhà ở thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức có quyết định giao cho cá nhân sử dụng.

3. Nhà ở được chủ nhà có nhà quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này cho thuê hoặc cho ở nhờ. Đối với nhà ở nhờ phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ nhà về việc cho nhập hộ khẩu và phải đảm bảo diện tích tối thiểu trên một đầu người theo quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Không giải quyết đăng ký hộ khẩu thường trú vào các loại nhà nêu trên nếu hiện tại đang có tranh chấp hoặc đang trong vùng quy hoạch đã có thông báo di dời trừ trường hợp bố, mẹ, vợ, chồng, con xin đăng ký hộ khẩu về với nhau.”

2. Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 12. Những người sau đây chuyển đến thành phố, thị xã (sau đây gọi tắt là thành phố) được đăng ký hộ khẩu thường trú:

1. Người được cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền điều động, tuyển dụng (kể cả Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đang công tác tại các đơn vị quân đội, công an có trụ sở đóng tại địa bàn thành phố) đến làm việc tại các cơ quan, tổ chức đó, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và có nhà ở hợp pháp thuộc một trong các khoản quy định tại Điều 11 sửa đổi.

2. Người được cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền điều động, tuyển dụng đến làm việc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn trong cơ quan, tổ chức đó (kể cả trong quân đội và công an) có nhà ở theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 11 sửa đổi.

3. Người có nhà ở quy định tại khoản 1 Điều 11 sửa đổi, không bị cấm cư trú ở thành phố.

Riêng đối với các thành phố trực thuộc Trung ương thì cần có thêm điều kiện cư trú liên tục ở thành phố từ ba năm trở lên.

4. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây được chuyển đến đăng ký hộ khẩu với người đang có hộ khẩu thường trú tại thành phố:

a) Cán bộ, công chức đang công tác ngoài tỉnh, thành phố thường xuyên về ở với vợ, chồng, con hoặc bố, mẹ (nếu chưa có vợ, chồng);

b) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc theo khoản 2 Điều 11 Nghị định số 54/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ chuyển đến ở với con hoặc anh, chị, em ruột (nếu không có vợ, chồng, con);

c) Người tàn tật mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi đến ở với bố, mẹ, con.

Trường hợp còn bố mẹ, vợ, chồng, con nhưng bố mẹ, vợ, chồng, con không có khả năng nuôi dưỡng hoặc không có bố, mẹ, vợ, chồng, con thì được chuyển đến ở với anh, chị, em ruột; cô, cậu, dì, chú, bác ruột hoặc người giám hộ;

d) Người dưới 18 tuổi không còn bố mẹ hoặc còn bố, mẹ, nhưng bố mẹ không có khả năng nuôi dưỡng đến ở với ông, bà nội ngoại; anh, chị, em ruột; cô, cậu, dì, chú, bác ruột hoặc người giám hộ.

Người trên 18 tuổi độc thân, hàng ngày sống cùng với bố, mẹ hoặc ông, bà nội, ngoại (nếu không còn bố, mẹ);

đ) Vợ về ở với chồng hoặc ngược lại. Con dâu, con rể về ở với bố mẹ chồng, bố mẹ vợ mà vợ hoặc chồng trước đây đã có hộ khẩu thường trú ở thành phố, nhưng đã bị xóa tên hoặc cắt chuyển hộ khẩu đi nơi khác do chết, đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài hợp pháp hoặc là cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang chuyển công tác đến địa phương khác;

e) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương được cơ quan có thẩm quyền cho cư trú ở thành phố;

g) Người trước đây có hộ khẩu thường trú hoặc quê gốc ở thành phố đã hoàn thành nghĩa vụ phục vụ trong quân đội và công an hoặc đi công tác, học tập, lao động ở nơi khác (kể cả nước ngoài), nay trở về thành phố và những người quy định tại các điểm b, c, d, đ khoản 4 Điều 12 sửa đổi đi theo họ;

h) Người chấp hành xong án phạt tù, chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính trở về thành phố mà không thuộc diện cấm cư trú.

5. Những trường hợp đặc biệt khác thì Giám đốc công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố hoặc Bộ trưởng Bộ Công an quyết định."

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 15 như sau:

"3. Người làm việc theo chế độ hợp đồng xác định thời hạn và không thời hạn tại các cơ quan, tổ chức của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các văn phòng đại diện hoặc các chi nhánh nước ngoài tại tỉnh, thành phố của Việt Nam nếu chưa đủ điều kiện để đăng ký hộ khẩu thường trú".

Điều 2. Đổi các cụm từ "Bộ Nội vụ” quy định tại Nghị định số 51/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ thành cụm từ "Bộ Công an".

Điều 3. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo, thay thế Điều 11, Điều 12, khoản 3 Điều 15 của Nghị định số 51/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997.

Điều 4. Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị định này.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

2. Nghị định 4-HĐBT năm 1988 về điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 4-HĐBT

Hà Nội, ngày 07 tháng 1 năm 1988

NGHỊ ĐỊNH

CỦAHỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 4-HĐBT NGÀY 7-1-1988 BAN HÀNH ĐIỀU LỆ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘKHẨU

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Hiến pháp nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1.- Nayban hành bản Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu kèm theo Nghị định này.

Điều 2.- Điềulệ này thi hành thống nhất trong cả nước và có hiệu lực kể từ ngày ban hành,các văn bản ban hành trước đây trái với bản Điều lệ này đều bị bãi bỏ.

Điều 3.- CácBộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồngBộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộcTrung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 4.- Bộtrưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra đôn đốc việc thi hànhĐiều lệ này.

Phạm Hùng

(Đã ký)

ĐIỀU LỆ
ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU
(Ban hành kèm theo Nghị định số 4-HĐBT ngày 7-1-1988).

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.- Đăngký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quan trọng của Nhà nước để quản lý xã hội; bảovệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; xác định việc cư trú hợppháp để thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân.

Điều2.- Công dân được quyền và có trách nhiệm đăng ký hộ khẩu thường trú tạinơi ở thường xuyên của mình. Không đăng ký hộ khẩu thường trú ở nơi này nhưng lạithường xuyên cư trú ở nơi khác.

Điều 3.-Những người có quan hệ về gia đình hoặc quan hệ thân thuộc cùng ở trong một nhàhoặc một phòng ở thì đăng ký là một hộ.

Mỗi hộ phải cử một người cótrách nhiệm chính làm chủ hộ để thực hiện các quy định về đăng ký và quản lý hộkhẩu trong hộ của mình.

Điều4.- Những người của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội (gọitắt là cơ quan và tổ chức) mà cùng ở chung trong một nhà hoặc một phòng thìđăng ký hộ khẩu ở tập thể và cơ quan đăng ký hộ khẩu phải trực tiếp đăng ký vớitừng người.

Các cơ quan và tổ chức phải cửngười để đôn đốc những người ở trong nhà tập thể của mình chấp hành những quy địnhvề đăng ký và quản lý hộ khẩu.

Điều5.- Cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân ở tập thể trongdoanh trại, nhà ở tập thể của quân đội, công an thì quản lý theo quy định riêngcủa Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ.

Những sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, cán bộ công nhân, nhân viên quốc phòng của quân đội nhân dân và củacông an nhân dân hàng ngày ngoài giờ làm việc về ở với bố, mẹ, vợ hoặc chồng,con cùng trong một thành phố, thị xã, thị trấn, một huyện thì đăng ký hộ khẩuthường trú cùng với hộ gia đình.

Những người không phải là quân đội,công an mà ở trong khu vực doanh trại, nhà ở tập thể của quân đội, của công anđều thực hiện theo những quy định trong Điều lệ này.

Chương 2:

QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ ĐĂNGKÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

Điều6.- Mỗi người từ 15 tuổi trở lên tự khai một bản khai nhân khẩu đầy đủchính xác theo mẫu hướng dẫn thống nhất của Bộ Nội vụ.

Điều7.- Lập sổ hộ khẩu: ở thành phố, thị xã, thị trấn lập theo từng hộ, ở nôngthôn lập theo xóm, ấp, bản. Đối với nhà ở tập thể của cơ quan và tổ chức thì lậptheo từng nhà ở hoặc phòng ở tập thể của cán bộ, công nhân, viên chức, hộiviên.

Điều8.- Khi có những sự thay đổi về hộ khẩu như dưới đây thì người có sự thay đổi,hoặc chủ hộ, hoặc người có trách nhiệm nhiệm của cơ quan, đơn vị chủ quản cónhà ở tập thể đến báo với cơ quan đăng ký hộ khẩu để xác nhận sự thay đổi đóvào sổ hộ khẩu.

- Chia một hộ thành nhiều hộ, hợpnhiều hộ thành một hộ.

- Thay đổi họ, tên, chữ đệm,ngày, tháng, năm sinh sau khi có quyết định cho phép của cơ quan có thẩm quyền.

- Có trẻ em mới sinh, hoặc cóngười chết.

- Có người được tuyển dụng vào lựclượng vũ trang, đi công tác, lao động, học tập dài hạn ở nước ngoài, xuất cảnhra nước ngoài.

- Có người tự bỏ đi nơi khác, mấttích, bị bắt đi tù, đi tập trung giáo dục cải tạo, bắt buộc lao động tập trung.

Điều9.- Khi thay đổi nơi thường trú, trước khi chuyển đi, người có thay đổi hoặcchủ hộ đến cơ quan đăng ký hộ khẩu sở tại để làm thủ tục chuyển đi. Đến nơi ở mới,nếu ở thành phố, thị xã trong thời hạn không quá 2 ngày, nếu ở nông thôn khôngquá 5 ngày người chuyển đến hoặc chủ hộ nơi chuyển đến báo với cơ quan đăng kýhộ khẩu sở tại để làm thủ tục chuyển đến.

Điều10.- Việc chuyển hộ khẩu đến nội thành, nội thị của các thành phố, thị xãdo Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương nơi đến xétduyệt.

Những trường hợp sau đây đượcchuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú ở nội thành, nội thị của các thành phố,thị xã:

1. Cán bộ, công nhân, nhân viênbao gồm cả công nhân, nhân viên quốc phòng và công nhân của công an, học sinh tốtnghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghềđược cấp có thẩm quyền ra quyết định điều động, hoặc tuyển dụng vào biên chế củacơ quan, xí nghiệp theo quy chế về điều động, tuyển dụng.

2. Cán bộ, công nhân, nhân viêncông tác ở các tỉnh, thành phố giáp ranh thường xuyên về ở với vợ hoặc chồng lànhân khẩu thường trú ở thành phố, thị xã.

3. Những người đã là nhân khẩuthường trú ở nội thành, nội thị đi nghĩa vụ quân sự, đi công tác, đi lao động,đi học tập ở nơi khác kể cả trong và ngoài nước, đã làm xong nhiệm vụ hoặc nghỉhưu, phục viên, nghỉ mất sức, được xuất ngũ, thôi việc.

4. Những người già yếu, hết tuổilao động đến ở với vợ hoặc chồng, con là nhân khẩu thường trú để nương tựa.

5. Những người dưới 18 tuổi chưatự lập được, những người bị bệnh tật không có khả năng tự lập được không có ngườinuôi dưỡng về ở với bố, mẹ, ông bà hoặc anh, chị ruột là nhân khẩu thường trú.

6. Những người mới kết hôn đến ởvới vợ hoặc chồng là nhân khẩu thường trú.

7. Những người đã là nhân khẩuthường trú ở nội thành, nội thị bị bắt buộc lao động tập trung, đi trường phổthông công nông nghiệp, đi tập trung cải tạo, đi tù đã hết hạn mà không thuộc diệnphải thi hành lệnh cấm cư trú được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy cho về.

8. Những trường hợp ngoại lệkhác được Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương xétduyệt cho phép đăng ký hộ khẩu vào nội thành, nội thị.

Điều11.- Những trường hợp sau đây không được chuyển đến đăng ký hộ khẩu thườngtrú ở nội thành các thành phố trực thuộc Trung ương, các xã biên giới, hải đảo:

a) Những người đang bị quản chế.

b) Những người đang cải tạo tạichỗ.

c) Những người đã có hành độngphạm pháp chờ xét xử.

d) Những người đang trong thời hạnthi hành án phạt của Toà án nhân dân về cấm cư trú.

e) Những người đang thi hành quyếtđịnh của cơ quan có thẩm quyền cấm cư trú hoặc cư trú bắt buộc.

Điều12. - Những người từ 15 tuổi trở lên đến tạm trú ở nơi khác ngoài phạm vi nộithành, nội thị và huyện nơi ở thường trú của mình phải khai báo tạm trú.

- Tạm trú trong các nhà trọ,khách sạn thì người phụ trách các nhà trọ, khách sạn phải khai báo với cơ quanđăng ký hộ khẩu sở tại.

- Tạm trú trong các nhà khách,nhà ở tập thể của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, thì người tạm trú báocho Ban bảo vệ trực tiếp quản lý nhà khách, nhà ở tập thể đó.

- Tạm trú trong các nhà ở tập thểkhông thuộc cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và tạm trú trong các hộ gia đìnhthì người tạm trú hoặc chủ hộ gia đình báo cho tổ trưởng nhân dân nơi tạm trú.

- Những người là bố, mẹ, vợ, chồng,con đến tạm trú ở nhà nhau cũng phải khai báo.

Thời hạn tạm trú không quá 6tháng, hết hạn nếu còn tạm trú phải khai báo lại.

Điều13.- Những người từ 15 tuổi trở lên đi vắng khỏi nội thành, nội thị và huyệnnơi thường trú của mình phải khai báo tạm vắng.

- Người ở các nhà tập thể của tổchức không thuộc cơ quan Nhà nước và hộ gia đình thì người đi vắng hoặc chủ hộbáo cho tổ trưởng nhân dân nơi thường trú.

- Người ở các nhà tập thể củacác cơ quan, tổ chức của Nhà nước thì báo cho Ban bảo vệ trực tiếp quản lý nhà ởtập thể.

- Thời hạn tạm vắng không quá 6tháng, người nào vắng quá 6 tháng không có lý do rõ ràng thì cơ quan đăng ký hộkhẩu nơi thường trú xoá tên trong sổ hộ khẩu. Khi người ấy trở về sẽ xét đăngký hộ khẩu trở lại.

- Người đi công tác, họp hội nghị,học tập hoặc đi chữa bệnh trong thời hạn nói trên cũng phải khai báo tạm vắng.

Chương 3:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều14.- Bộ Nội vụ có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra việc thực hiệncông tác đăng ký và quản lý hộ khẩu; quy định những thủ tục, biểu mẫu sổ sách cầnthiết về đăng ký và quản lý hộ khẩu để thi hành thống nhất.

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thànhphố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tácđăng ký và quản lý hộ khẩu ở địa phương mình.

Điều 15.- Cấmgiả mạo giấy tờ, kê khai gian dối để đăng ký hộ khẩu sai quy định.

Không cơ quan,tổ chức nào được tuỳ tiện thay đổi hoặc làm trái quy định của Điều lệ đăng lý,quản lý hộ khẩu. Đối với những trường hợp quy định trái Điều lệ này, Bộ Nội vụcó quyền đình chỉ việc thi hành và kiến nghị lên Hội đồng Bộ trưởng để ra lệnhbãi bỏ.

Điều 16.-Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước về những việc đăng kýhộ khẩu không đúng. Cơ quan nhận được khiếu nại, tố cáo phải xem xét giải quyếttheo đúng Pháp lệnh ngày 23-11-1981 của Hội đồng Nhà nước quy định việc xét vàgiải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.

Điều 17.- Cơquan, tổ chức hoặc cá nhân nào có thành tích trong việc thực hiện công tác đăngký, quản lý hộ khẩu, tuỳ theo mức độ của thành tích sẽ được khen thưởng theo chếđộ khen thưởng của Nhà nước.

Điều18.- Nếu vi phạm những quy định về đăng ký quản lý hộ khẩu theo Điều lệnày, tuỳ mức độ sai phạm và xử lý kỷ luật hành chính đến truy tố trước pháp luật.

3. Nghị dịnh 32-CP thống nhất công tác đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và thống kê dân số

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 32-CP

Hà Nội, ngày 29 tháng 02 năm 1968

NGHỊ ĐỊNH

VỀ VIỆC THỐNG NHẤT CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH, HỘ KHẨU VÀ THỐNG KÊ DÂN SỐ

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Để cải tiến hơn nữa công tác đăng ký hộ tịch và hộ khẩu, giảm bớt những phiền phức không cần thiết cho nhân dân trong việc đăng ký hộ tịch, hộ khẩu;
Để đảm bảo cung cấp cho các cơ quan Nhà nước những số liệu chính xác về nhân khẩu, hộ khẩu trong việc lập và chỉ đạo thực hiện kế hoạch Nhà nước tổ chức thực hiện các chính sách và pháp luật của Nhà nước về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm tăng cường hiệu lực công tác quản lý của Nhà nước, đáp ứng kịp thời những nhu cầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước;
Theo đề nghị của các ông Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng cục Trưởng Tổng cục Thống kê;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội nghị thường vụ Hội đồng Chính phủ ngày 7 tháng 12 năm 1967,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Nay thống nhất việc đăng ký hộ tịch và đăng ký hộ khẩu vào một sổ duy nhất gọi là sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu.

Điều 2. Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu là cơ sở duy nhất để tất cả các ngành, các cấp khai thác số liệu, lập các biểu báo thống kê dân số sử dụng trong mọi mặt công tác kế hoạch và quản lý của Nhà nước.

Những số liệu về dân số dựa vào những nguồn tài liệu khác sổ này đều không có giá trị.

Điều 3. Việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận về hộ tịch, hộ khẩu, việc quản lý sổ và cung cấp các số liệu về dân số do những cơ quan sau đây đảm nhiệm:

- Ở nông thôn, do Ủy ban hành chính xã, thị trấn đảm nhiệm. Ủy ban hành chính xã, thị trấn phải cử một cán bộ chuyên trách công tác này.

- Ở thành thị, do Ủy ban hành chính thành phố, khu phố, thị xã đảm nhiệm với sự giúp đỡ của các cơ quan công an cùng cấp. Ủy ban hành chính có thể ủy nhiệm cho cơ quan công an phụ trách hẳn công tác đăng ký hộ khẩu.

Điều 4. Bộ Công an chỉ đạo các Ủy ban hành chính về công tác hộ tịch và hộ khẩu.

Bộ Công an và Tổng cục Thống kê quy định mẫu sổ; chế độ bảo quản và sử dụng sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, quy định các thể thức báo cáo thống kê dân số và hướng dẫn Ủy ban hành chính các cấp thi hành.

Điều 5. Việc thống nhất đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và việc lập sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu sẽ thi hành thống nhất trên miền Bắc kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1968.

Điều 6. Những quy định về việc lập sổ đăng ký hộ tịch, về nhiệm vụ chỉ đạo công tác hộ tịch của Bộ Nội vụ ghi trong bản điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo nghị định số 04-CP ngày 16-1-1961 và những quy định về việc lập sổ hộ khẩu ghi trong điều lệ đăng ký hộ khẩu ban hành kèm theo nghị định số 104-CP ngày 27-6-1964 sẽ hết hiệu lực thi hành.

Điều 7. Bộ Nội vụ có nhiệm vụ bàn giao công tác hộ tịch (tài liệu, sổ sách, biên chế) cho Bộ công an và hướng dẫn việc bàn giao công tác hộ tịch ở địa phương.

Điều 8. Các ông Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Lê Thanh Nghị

4. Nghị định 32-CP năm 1968 về việc thống nhất công tác đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và thống kê dân số do Hội đồng Chính phủ ban hành

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 32-CP

Hà Nội, ngày 29 tháng 02 năm 1968

NGHỊ ĐỊNH

VỀ VIỆC THỐNG NHẤT CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH, HỘ KHẨU VÀ THỐNG KÊ DÂN SỐ

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Để cải tiến hơn nữa công tác đăng ký hộ tịch và hộ khẩu, giảm bớt những phiền phức không cần thiết cho nhân dân trong việc đăng ký hộ tịch, hộ khẩu;
Để đảm bảo cung cấp cho các cơ quan Nhà nước những số liệu chính xác về nhân khẩu, hộ khẩu trong việc lập và chỉ đạo thực hiện kế hoạch Nhà nước tổ chức thực hiện các chính sách và pháp luật của Nhà nước về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm tăng cường hiệu lực công tác quản lý của Nhà nước, đáp ứng kịp thời những nhu cầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước;
Theo đề nghị của các ông Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng cục Trưởng Tổng cục Thống kê;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội nghị thường vụ Hội đồng Chính phủ ngày 7 tháng 12 năm 1967,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Nay thống nhất việc đăng ký hộ tịch và đăng ký hộ khẩu vào một sổ duy nhất gọi là sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu.

Điều 2. Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu là cơ sở duy nhất để tất cả các ngành, các cấp khai thác số liệu, lập các biểu báo thống kê dân số sử dụng trong mọi mặt công tác kế hoạch và quản lý của Nhà nước.

Những số liệu về dân số dựa vào những nguồn tài liệu khác sổ này đều không có giá trị.

Điều 3. Việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận về hộ tịch, hộ khẩu, việc quản lý sổ và cung cấp các số liệu về dân số do những cơ quan sau đây đảm nhiệm:

- Ở nông thôn, do Ủy ban hành chính xã, thị trấn đảm nhiệm. Ủy ban hành chính xã, thị trấn phải cử một cán bộ chuyên trách công tác này.

- Ở thành thị, do Ủy ban hành chính thành phố, khu phố, thị xã đảm nhiệm với sự giúp đỡ của các cơ quan công an cùng cấp. Ủy ban hành chính có thể ủy nhiệm cho cơ quan công an phụ trách hẳn công tác đăng ký hộ khẩu.

Điều 4. Bộ Công an chỉ đạo các Ủy ban hành chính về công tác hộ tịch và hộ khẩu.

Bộ Công an và Tổng cục Thống kê quy định mẫu sổ; chế độ bảo quản và sử dụng sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, quy định các thể thức báo cáo thống kê dân số và hướng dẫn Ủy ban hành chính các cấp thi hành.

Điều 5. Việc thống nhất đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và việc lập sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu sẽ thi hành thống nhất trên miền Bắc kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1968.

Điều 6. Những quy định về việc lập sổ đăng ký hộ tịch, về nhiệm vụ chỉ đạo công tác hộ tịch của Bộ Nội vụ ghi trong bản điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo nghị định số 04-CP ngày 16-1-1961 và những quy định về việc lập sổ hộ khẩu ghi trong điều lệ đăng ký hộ khẩu ban hành kèm theo nghị định số 104-CP ngày 27-6-1964 sẽ hết hiệu lực thi hành.

Điều 7. Bộ Nội vụ có nhiệm vụ bàn giao công tác hộ tịch (tài liệu, sổ sách, biên chế) cho Bộ công an và hướng dẫn việc bàn giao công tác hộ tịch ở địa phương.

Điều 8. Các ông Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Lê Thanh Nghị

5. Nghị định 51/CP của Chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ khẩu

Nghị định

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNHPHỦ SỐ 51/CP NGÀY 10 THÁNG 5 NĂM 1997
VỀ VIỆC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chứcChính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Để thực hiện thốngnhất việc đăng ký và quản lý hộ khẩu, tăng cường quản lý xã hội, bảo vệ quyềntự do cư trú hợp pháp của công dân;

Theo đề nghị của Bộtrưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.- Đăng ký và quản lý hộ khẩu làbiện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định việc cư trú của côngdân, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường quản lý xã hội,giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ phụ trách việc đăng ký và quảnlý hộ khẩu.

Điều 2.- Mọi công dân nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam có quyền và có nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký và quảnlý hộ khẩu với cơ quan công an theo quy định.

Mọi công dân phải đăng ký hộ khẩu ở nơi cư trú gọi là hộkhẩu thường trú. Khi chuyển đến cư trú ở nơi mới phải thực hiện đầy đủ chế độđăng ký, quản lý hộ khẩu lại theo quy định.

Điều 3.- Những người đang trong thờigian thi hành bản án của Toà án và những người đang phải thi hành quyết định cưtrú bắt buộc, chịu sự quản lý hành chính của chính quyền địa phương thì chưađược chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú nơi khác.

Những người đang thi hành bản án, quyết định của Toà án hoặcquyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấm cư trú thì không được đăng kýhộ khẩu thường trú ở khu vực bị cấm.

Điều 4.- Những người có quan hệ về giađình, cùng ở chung một nhà thì đăng ký thành một hộ gia đình.

Mỗi hộ gia đình phải có một người đứng tên chủ hộ. Chủ hộ cótrách nhiệm chính trong việc thực hiện các quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩutrong hộ của mình.

Điều 5.- Những người đang làm việctrong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội sống độc thân tại nhàở tập thể của cơ quan thì đăng ký theo nhân khẩu tập thể và từng người phảitrực tiếp đăng ký hộ khẩu với cơ quan công an. Mỗi nhà ở tập thể có một ngườiphụ trách, người phụ trách có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc chấp hànhnhững quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu của những nhân khẩu sống trong nhà ởtập thể của mình.

Điều 6.- Sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, hạ sĩ quan, công nhân, nhân viên của Quân đội nhân dân và Công an nhândân ở trong doanh trại hoặc nhà ở tập thể của quân đội, công an thì đăng ký,quản lý hộ khẩu theo quy định định riêng của Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ.

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức củaquân đội nhân dân và công an nhân dân hàng ngày ở với gia đình hoặc có nhà hợppháp thì được đăng ký hộ khẩu gia đình theo quy định của Nghị định này.

Những công dân đang trong thời gian làm nghĩa vụ quân sự thìkhông được đăng ký hộ khẩu gia đình.

Những công dân không phục vụ trong quân đội, công an mà cưtrú trong khu vực doanh trại, nhà ở tập thể của quân đội, công an thì thực hiệnđăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định chung.

CHƯƠNG II
ĐĂNG KÝ, QUẢN LÝ HỘ KHẨU

Điều 7.- Công dân từ 15 tuổi trở lên cónghĩa vụ phải làm bản tự khai nhân khẩu chính xác, đầy đủ theo mẫu thống nhấtcủa Bộ Nội vụ.

Điều 8.- Cơ quan công an lập sổ hộ khẩugốc theo khu vực dân cư của đơn vị hành chính hoặc nhà ở tập thể để phục vụviệc đăng ký, quản lý hộ khẩu.

Ngoài sổ lưu ở cơ quan công an, mỗi cơ quan, tổ chức có đăngký hộ khẩu tập thể, phải có bản sao sổ nhân khẩu tập thể của mình để theo dõivà quản lý. Sổ này không thay thế cho sổ hộ khẩu gốc lưu tại cơ quan công an.

- Mỗi hộ gia đình có một sổ hộ khẩu gia đình.

- Trong một nhà có nhiều gia đình ở thì mỗi gia đình đượclập một sổ hộ khẩu gia đình riêng.

- Mỗi người đăng ký nhân khẩu tập thể được cấp một giấychứng nhận nhân khẩu tập thể.

Sổ hộ khẩu gốc, sổ hộ khẩu gia đình và giấy chứng nhận nhânkhẩu tập thể nói trên do cơ quan công an cấp theo mẫu thống nhất của Bộ Nội vụvà là tài liệu có giá trị pháp lý, là cơ sở để xác định việc cư trú hợp phápcủa công dân.

Điều 9.- Khi có những thay đổi sau đâythì chủ hộ gia đình, người phụ trách nhà ở tập thể, hoặc người có sự thay đổiphải làm thủ tục đăng ký bổ sung, điều chỉnh tại cơ quan công an nơi đăng ký hộkhẩu thường trú.

- Tách hộ, nhập hộ, lập hộ mới.

- Thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, nămsinh.

- Có trẻ em mới sinh.

- Có người chết hoặc mất tích.

- Có người đi làm nghĩa vụ quân sự.

- Có người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép xuấtcảnh từ 12 tháng trở lên.

- Có người bị thi hành án tù giam, tập trung giáo dục chữabệnh và đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục.

Điều 10.- Khi chuyển nơi cư trú ngườichuyển đi hoặc chủ hộ gia đình, người phụ trách nhà ở tập thể có người chuyểnđi phải đến cơ quan công an nơi đang cư trú để làm thu tục chuyển đi.

Đến nơi cư trú mới trong vòng không quá 7 ngày nếu ở thànhphố, thị xã và không quá 10 ngày nếu ở nông thôn, người mới chuyển đến hoặc chủhộ gia đình mới chuyển đến phải làm thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú với cơquan công an nơi đến.

Thủ tục đăng ký gồm các giấy tờ sau đây:

- Giấy chứng minh nhân dân (người từ 15 tuổi trở lên).

- Giấy chứng nhận chuyển đi.

- Phiếu báo thay đổi nơi thường trú.

- Giấy xác nhận nhà ở hợp pháp.

- Các giấy tờ khác liên quan trực tiếp đến việc thay đổi nơicư trú (nếu có).

Kể từ này nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định, cơ quan côngan phải giải quyết xong trong thời hạn 10 ngày đối với trường hợp chuyển vềnông thôn, 20 ngày đối với trường hợp chuyển vào thành phố, thị xã.

Điều 11.- Để được đăng ký hộ khẩuthường trú tại nơi mới đến, người chuyển đến phải có nhà ở hợp pháp. Nhà ở hợppháp bao gồm:

1. Nhà ở thuộc sở hữu của mình.

2. Nhà ở được quyền sử dụng hợp pháp: có quyết định phânnhà, có hợp đồng thuê.

3. Được chủ hộ gia đình đồng ý cho ở nhà hợp pháp của chủhộ. Nhà ở phải đảm bảo vệ sinh, môi trường và đủ diện tích ở tối thiểu theo quyđịnh. Không trong diện đang tranh chấp, vùng quy hoạch phải dời chuyển.

Nhà ở hợp pháp nói trên phải có đủ giấy tờ xác nhận về quyềnsở hữu hoặc sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Điều 12.- Ngoài việc có nhà ở hợp phápquy định tại Điều 11 nêu trên, người chuyển hộ khẩu thương trú đến các thànhphố, thị xã (gọi chung là thành phố) phải có thêm các điều kiện sau:

1. Đối với những người được cơ quan nhà nước cấp có thẩmquyền điều động, tuyển dụng vào làm việc ở địa bàn thành phố:

a. Công chức, viên chức được cấp có thẩm quyền điều độngtrong ngành hoặc khác ngành nhưng cùng nghề chuyên môn đến thay thế cho nhữngcông chức, viên chức được thuyên chuyển đi nơi khác, nghỉ hưu, nghỉ mất sức,thôi việc, hoặc được điều động đến công tác.

b. Công chức, viên chức được cơ quan tổ chức cử đi học, đicông tác, biệt phái ở nơi khác, nay được cơ quan có thẩm quyền quyết định trởlại công tác nơi thường trú cũ.

c. Học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trunghọc và dạy nghề được cơ quan có thẩm quyền cấp Bộ (đối với cơ quan, tổ chứcthuộc Trung ương) hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối với cơ quan, tổ chức thuộctỉnh, thành phố) ra quyết định tuyển dụng trong chỉ tiêu biên chế.

2. Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viênchức thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân đang công tác ổn định tại địabàn thành phố thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được đăng ký hộ khẩugia đình riêng:

a. Về ở với bố, mẹ, vợ, chồng, con đang là nhân khẩu thườngtrú ở thành phố.

b. Nữ công an, quân đội đã thành lập gia đình hoặc có con.

c. Đã công tác liên tục tại địa bàn thành phố từ 3 năm trở lên.

d. Nghỉ hưu.

3. Ngoài quy định tại điểm 1 và 2 nêu trên, những ngườithuộc một trong các trường hợp sau đây cũng được chuyển hộ khẩu đến ở với ngườicó hộ khẩu thường trú thuộc thành phố.

a. Công chức, viên chức đang làm việc ở các tỉnh, thành phốgiáp ranh, hàng ngày về ăn ở với bố, mẹ (nếu chưa có vợ, chồng), vợ, chồng, conđang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

b. Những người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, về nghỉ mất sứcxin chuyển đến ở với con hoặc anh, chị, em ruột (nếu không có vợ, chồng, con)đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

c. Những người mất khả năng lao động bao gồm: người tàn tật,mất trí, bệnh tật đến ở với bố, mẹ, con hoặc anh, chị, em ruột, chú bác, cô, dìruột, hoặc người đỡ đầu (nếu không có bố, mẹ, không có vợ, chồng, con) đang lànhân khẩu thường trú ở thành phố.

d. Người dưới 18 tuổi đến ở với hoặc ông, bà, anh, chị, emruột, chú, bác, cô, dì ruột hoặc người đỡ đầu, người giám hộ (nếu không còn bốmẹ) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

đ. Vợ xin về ở với chồng hoặc chồng xin về ở với vợ mà mộttrong hai người đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

e. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương được cấp cóthẩm quyền cho về cư trú ở thành phố.

g. Những người đã là nhân khẩu thường trú hoặc quê gốc ởthành phố đi nghĩa vụ quân sự, đi công tác, học tập, lao động... ở nơi khác (kểcả ở nước ngoài) nay trở về hợp pháp và người đi theo được quy định tại cácđiểm b, c, d, đ khoản 3 Điều này.

h. Những người đã là nhân khẩu thường trú ở thành phố đi tù,đi thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại các trường giáo dưỡng, cơsở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hết hạn trở về không thuộc diện cấm cư trú ở thànhphố.

4. Những trường hợp đặc biệt khác thì Giám đốc Công an thànhphố báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố và Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyếtđịnh.

Điều 13.- Bộ Nội vụ chỉ đạo công an cáccấp phải thường xuyên nắm vững số lượng các loại nhân khẩu, hộ khẩu ở từng địaphương; thống kê điều chỉnh kịp thời các biến động về nhân hộ khẩu và có biệnpháp quản lý chặt chẽ từng loại hộ khẩu, nhân khẩu; tuyên truyền phổ biến cácquy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu; kiểm tra việc chấp hành và xử lý các viphạm trong lĩnh vực này theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG III
ĐĂNG KÝ, QUẢN LÝ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG

Điều 14.- Người từ 15 tuổi trở lên ởqua đêm ngoài nơi thường trú của mình thuộc phạm vi phường, thị trấn, xã khácphải trình báo tạm trú theo quy định. Trường hợp cha, mẹ, vợ, chồng, con thườngđến tạm trú ở nhà nhau thì khai báo lần đầu trong năm.

Điều 15.- Các trường hợp sau đây phảiđăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định:

1. Người thực tế đang cư trú tại địa phương nhưng chưa đủthủ tục, điều kiện để được đăng ký hộ khẩu thường trú.

2. Người ở nơi khác đến học tập, làm việc, lao động tự do.

3. Những người được tuyển vào làm việc tại các cơ quan, tổchức của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các văn phòngđại diện hoặc các chi nhánh nước ngoài tại tỉnh, thành phố của Việt Nam.

Điều 16.- Người từ 15 tuổi trở lên cóviệc riêng phải vắng mặt qua đêm khỏi quận, thành phố, thị xã, huyện nơi đangthường trú của mình phải khai báo tạm vắng theo quy định.

Người đi vắng khỏi nơi đã đăng ký hộ khẩu thường trú quá 6tháng mà không khai báo tạm vắng, không có lý do chính đáng sẽ bị xoá tên trongsổ hộ khẩu; khi trở lại phải khai xin đăng ký lại hộ khẩu thường trú theo quyđịnh.

Người có hộ khẩu thường trú, nhưng thực tế không cư trú ởnơi đăng ký hộ khẩu thường trú mà không có lý do chính đáng; hoặc không thể ởnơi đó được thì cơ quan quản lý hộ khẩu phải xoá tên trong sổ hộ khẩu.

- Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký tạm trú và tạmvắng.

CHƯƠNG IV
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 17.- Các cơ quan, tổ chức địaphương không được tự thay đổi hoặc làm trái những quy định về đăng ký, quản lýhộ khẩu nói trong Nghị định này. Đối với các trường hợp làm trái, Bộ Nội vụ cóquyền đình chỉ hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ ra quyết định bãi bỏ.

Điều 18.- Công dân có trách nhiệm thựchiện việc đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định của Nghị định này và có quyềnkhiếu nại, tố cáo những cá nhân hoặc tổ chức không thực hiện đúng những quyđịnh, hoặc từ chối, cố ý kéo dài, gây khó khăn, sách nhiễu khi giải quyết đăngký, quản lý hộ khẩu.

Cơ quan tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xemxét giải quyết theo Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân.

Điều 19.- Mọi hành vi sửa chữa giấy tờ,tài liệu, kê khai không đúng sự thật để đăng ký hộ khẩu; lợi dụng việc đăng ký,quản lý hộ khẩu để hoạt động phi pháp thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà xử phạthành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người có trách nhiệm giải quyết đăng ký, quản lý hộ khẩu viphạm những quy định của Nghị định này hoặc lợi dụng công việc này để sáchnhiễu, gây phiền hà cho công dân thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà xửlý kỷ luật hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 20.-Nghị định này thay thế Nghịđịnh 04/HĐBT ngày 07 tháng 01 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chínhphủ) ban hành Điều lệ đăng ký quản lý hộ khẩu và có hiệu lực thi hành từ ngày15 tháng 7 năm 1997. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,Uỷ ban quốc gia dân số kế hoạch hoá gia đình và Tổng cục Thống kê có tráchnhiệm phối hợp giữa công tác hộ khẩu với các công tác hộ tịch, đăng ký laođộng, thống kê dân số và kế hoạch hoá gia đình... bảo đảm sự thống nhất về tìnhhình và số liệu báo cáo để phục vụ các yêu cầu quản lý xã hội và phục vụ nhândân của Nhà nước.

Bộ Nội vụ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để ứng dụngcông nghệ tiên tiến và cải cách thủ tục hành chính trong công tác đăng ký, quảnlý hộ khẩu.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu ở địaphương mình.

Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi chỉ đạo, kiểmtra đôn đốc việc thực hiện thống nhất Nghị định này trong cả nước.

Điều 21.- Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởngcơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dâncác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị địnhnày.

6. Nghị định 51-CP đăng ký và quản lý hộ khẩu

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 51-CP

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1997

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 51-CP NGÀY 10 THÁNG 5 NĂM 1997 VỀ VIỆC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để thực hiện thống nhất việc đăng ký và quản lý hộ khẩu, tăng cường quản lý xã hội, bảo vệ quyền tự do cư trú hợp pháp của công dân;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.- Đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ phụ trách việc đăng ký và quản lý hộ khẩu.

Điều 2.- Mọi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền và có nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ khẩu với cơ quan công an theo quy định.

Mọi công dân phải đăng ký hộ khẩu ở nơi cư trú gọi là hộ khẩu thường trú. Khi chuyển đến cư trú ở nơi mới phải thực hiện đầy đủ chế độ đăng ký, quản lý hộ khẩu lại theo quy định.

Điều 3.- Những người đang trong thời gian thi hành bản án của Toà án và những người đang phải thi hành quyết định cư trú bắt buộc, chịu sự quản lý hành chính của chính quyền địa phương thì chưa được chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú nơi khác.

Những người đang thi hành bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấm cư trú thì không được đăng ký hộ khẩu thường trú ở khu vực bị cấm.

Điều 4.- Những người có quan hệ về gia đình, cùng ở chung một nhà thì đăng ký thành một hộ gia đình.

Mỗi hộ gia đình phải có một người đứng tên chủ hộ. Chủ hộ có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu trong hộ của mình.

Điều 5.- Những người đang làm việc trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội sống độc thân tại nhà ở tập thể của cơ quan thì đăng ký theo nhân khẩu tập thể và từng người phải trực tiếp đăng ký hộ khẩu với cơ quan công an. Mỗi nhà ở tập thể có một người phụ trách, người phụ trách có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc chấp hành những quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu của những nhân khẩu sống trong nhà ở tập thể của mình.

Điều 6.- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, công nhân, nhân viên của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ở trong doanh trại hoặc nhà ở tập thể của quân đội, công an thì đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định định riêng của Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ.

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức của quân đội nhân dân và công an nhân dân hàng ngày ở với gia đình hoặc có nhà hợp pháp thì được đăng ký hộ khẩu gia đình theo quy định của Nghị định này.

Những công dân đang trong thời gian làm nghĩa vụ quân sự thì không được đăng ký hộ khẩu gia đình.

Những công dân không phục vụ trong quân đội, công an mà cư trú trong khu vực doanh trại, nhà ở tập thể của quân đội, công an thì thực hiện đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định chung.

Chương 2:

ĐĂNG KÝ, QUẢN LÝ HỘ KHẨU

Điều 7.- Công dân từ 15 tuổi trở lên có nghĩa vụ phải làm bản tự khai nhân khẩu chính xác, đầy đủ theo mẫu thống nhất của Bộ Nội vụ.

Điều 8.- Cơ quan công an lập sổ hộ khẩu gốc theo khu vực dân cư của đơn vị hành chính hoặc nhà ở tập thể để phục vụ việc đăng ký, quản lý hộ khẩu.

Ngoài sổ lưu ở cơ quan công an, mỗi cơ quan, tổ chức có đăng ký hộ khẩu tập thể, phải có bản sao sổ nhân khẩu tập thể của mình để theo dõi và quản lý. Sổ này không thay thế cho sổ hộ khẩu gốc lưu tại cơ quan công an.

- Mỗi hộ gia đình có một sổ hộ khẩu gia đình.

- Trong một nhà có nhiều gia đình ở thì mỗi gia đình được lập một sổ hộ khẩu gia đình riêng.

- Mỗi người đăng ký nhân khẩu tập thể được cấp một giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể.

Sổ hộ khẩu gốc, sổ hộ khẩu gia đình và giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể nói trên do cơ quan công an cấp theo mẫu thống nhất của Bộ Nội vụ và là tài liệu có giá trị pháp lý, là cơ sở để xác định việc cư trú hợp pháp của công dân.

Điều 9.- Khi có những thay đổi sau đây thì chủ hộ gia đình, người phụ trách nhà ở tập thể, hoặc người có sự thay đổi phải làm thủ tục đăng ký bổ sung, điều chỉnh tại cơ quan công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.

Tách hộ, nhập hộ, lập hộ mới.

Thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh.

Có trẻ em mới sinh.

Có người chết hoặc mất tích.

Có người đi làm nghĩa vụ quân sự.

Có người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép xuất cảnh từ 12 tháng trở lên.

Có người bị thi hành án tù giam, tập trung giáo dục chữa bệnh và đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục.

Điều 10.- Khi chuyển nơi cư trú người chuyển đi hoặc chủ hộ gia đình, người phụ trách nhà ở tập thể có người chuyển đi phải đến cơ quan công an nơi đang cư trú để làm thu tục chuyển đi.

Đến nơi cư trú mới trong vòng không quá 7 ngày nếu ở thành phố, thị xã và không quá 10 ngày nếu ở nông thôn, người mới chuyển đến hoặc chủ hộ gia đình mới chuyển đến phải làm thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú với cơ quan công an nơi đến.

Thủ tục đăng ký gồm các giấy tờ sau đây:

Giấy chứng minh nhân dân (người từ 15 tuổi trở lên).

Giấy chứng nhận chuyển đi.

Phiếu báo thay đổi nơi thường trú.

Giấy xác nhận nhà ở hợp pháp.

Các giấy tờ khác liên quan trực tiếp đến việc thay đổi nơi cư trú (nếu có).

Kể từ này nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định, cơ quan công an phải giải quyết xong trong thời hạn 10 ngày đối với trường hợp chuyển về nông thôn, 20 ngày đối với trường hợp chuyển vào thành phố, thị xã.

Điều 11.- Để được đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi mới đến, người chuyển đến phải có nhà ở hợp pháp. Nhà ở hợp pháp bao gồm:

1. Nhà ở thuộc sở hữu của mình.

2. Nhà ở được quyền sử dụng hợp pháp: có quyết định phân nhà, có hợp đồng thuê.

3. Được chủ hộ gia đình đồng ý cho ở nhà hợp pháp của chủ hộ. Nhà ở phải đảm bảo vệ sinh, môi trường và đủ diện tích ở tối thiểu theo quy định. Không trong diện đang tranh chấp, vùng quy hoạch phải dời chuyển.

Nhà ở hợp pháp nói trên phải có đủ giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Điều 12.- Ngoài việc có nhà ở hợp pháp quy định tại Điều 11 nêu trên, người chuyển hộ khẩu thương trú đến các thành phố, thị xã (gọi chung là thành phố) phải có thêm các điều kiện sau:

1. Đối với những người được cơ quan nhà nước cấp có thẩm quyền điều động, tuyển dụng vào làm việc ở địa bàn thành phố:

a. Công chức, viên chức được cấp có thẩm quyền điều động trong ngành hoặc khác ngành nhưng cùng nghề chuyên môn đến thay thế cho những công chức, viên chức được thuyên chuyển đi nơi khác, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, thôi việc, hoặc được điều động đến công tác.

b. Công chức, viên chức được cơ quan tổ chức cử đi học, đi công tác, biệt phái ở nơi khác, nay được cơ quan có thẩm quyền quyết định trở lại công tác nơi thường trú cũ.

c. Học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học và dạy nghề được cơ quan có thẩm quyền cấp Bộ (đối với cơ quan, tổ chức thuộc Trung ương) hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối với cơ quan, tổ chức thuộc tỉnh, thành phố) ra quyết định tuyển dụng trong chỉ tiêu biên chế.

2. Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân đang công tác ổn định tại địa bàn thành phố thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được đăng ký hộ khẩu gia đình riêng:

a. Về ở với bố, mẹ, vợ, chồng, con đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

b. Nữ công an, quân đội đã thành lập gia đình hoặc có con.

c. Đã công tác liên tục tại địa bàn thành phố từ 3 năm trở lên.

d. Nghỉ hưu.

3. Ngoài quy định tại điểm 1 và 2 nêu trên, những người thuộc một trong các trường hợp sau đây cũng được chuyển hộ khẩu đến ở với người có hộ khẩu thường trú thuộc thành phố.

a. Công chức, viên chức đang làm việc ở các tỉnh, thành phố giáp ranh, hàng ngày về ăn ở với bố, mẹ (nếu chưa có vợ, chồng), vợ, chồng, con đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

b. Những người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, về nghỉ mất sức xin chuyển đến ở với con hoặc anh, chị, em ruột (nếu không có vợ, chồng, con) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

c. Những người mất khả năng lao động bao gồm: người tàn tật, mất trí, bệnh tật đến ở với bố, mẹ, con hoặc anh, chị, em ruột, chú bác, cô, dì ruột, hoặc người đỡ đầu (nếu không có bố, mẹ, không có vợ, chồng, con) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

d. Người dưới 18 tuổi đến ở với hoặc ông, bà, anh, chị, em ruột, chú, bác, cô, dì ruột hoặc người đỡ đầu, người giám hộ (nếu không còn bố mẹ) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

đ. Vợ xin về ở với chồng hoặc chồng xin về ở với vợ mà một trong hai người đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

e. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương được cấp có thẩm quyền cho về cư trú ở thành phố.

g. Những người đã là nhân khẩu thường trú hoặc quê gốc ở thành phố đi nghĩa vụ quân sự, đi công tác, học tập, lao động... ở nơi khác (kể cả ở nước ngoài) nay trở về hợp pháp và người đi theo được quy định tại các điểm b, c, d, đ khoản 3 Điều này.

h. Những người đã là nhân khẩu thường trú ở thành phố đi tù, đi thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hết hạn trở về không thuộc diện cấm cư trú ở thành phố.

4. Những trường hợp đặc biệt khác thì Giám đốc Công an thành phố báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố và Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định.

Điều 13.- Bộ Nội vụ chỉ đạo công an các cấp phải thường xuyên nắm vững số lượng các loại nhân khẩu, hộ khẩu ở từng địa phương; thống kê điều chỉnh kịp thời các biến động về nhân hộ khẩu và có biện pháp quản lý chặt chẽ từng loại hộ khẩu, nhân khẩu; tuyên truyền phổ biến các quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu; kiểm tra việc chấp hành và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực này theo quy định của pháp luật.

Chương 3:

ĐĂNG KÝ, QUẢN LÝ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG

Điều 14.- Người từ 15 tuổi trở lên ở qua đêm ngoài nơi thường trú của mình thuộc phạm vi phường, thị trấn, xã khác phải trình báo tạm trú theo quy định. Trường hợp cha, mẹ, vợ, chồng, con thường đến tạm trú ở nhà nhau thì khai báo lần đầu trong năm.

Điều 15.- Các trường hợp sau đây phải đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định:

1. Người thực tế đang cư trú tại địa phương nhưng chưa đủ thủ tục, điều kiện để được đăng ký hộ khẩu thường trú.

2. Người ở nơi khác đến học tập, làm việc, lao động tự do.

3. Những người được tuyển vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các văn phòng đại diện hoặc các chi nhánh nước ngoài tại tỉnh, thành phố của Việt Nam.

Điều 16.- Người từ 15 tuổi trở lên có việc riêng phải vắng mặt qua đêm khỏi quận, thành phố, thị xã, huyện nơi đang thường trú của mình phải khai báo tạm vắng theo quy định.

Người đi vắng khỏi nơi đã đăng ký hộ khẩu thường trú quá 6 tháng mà không khai báo tạm vắng, không có lý do chính đáng sẽ bị xoá tên trong sổ hộ khẩu; khi trở lại phải khai xin đăng ký lại hộ khẩu thường trú theo quy định.

Người có hộ khẩu thường trú, nhưng thực tế không cư trú ở nơi đăng ký hộ khẩu thường trú mà không có lý do chính đáng; hoặc không thể ở nơi đó được thì cơ quan quản lý hộ khẩu phải xoá tên trong sổ hộ khẩu.

- Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký tạm trú và tạm vắng.

Chương 4:

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 17.- Các cơ quan, tổ chức địa phương không được tự thay đổi hoặc làm trái những quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu nói trong Nghị định này. Đối với các trường hợp làm trái, Bộ Nội vụ có quyền đình chỉ hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ ra quyết định bãi bỏ.

Điều 18.- Công dân có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định của Nghị định này và có quyền khiếu nại, tố cáo những cá nhân hoặc tổ chức không thực hiện đúng những quy định, hoặc từ chối, cố ý kéo dài, gây khó khăn, sách nhiễu khi giải quyết đăng ký, quản lý hộ khẩu.

Cơ quan tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét giải quyết theo Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân.

Điều 19.- Mọi hành vi sửa chữa giấy tờ, tài liệu, kê khai không đúng sự thật để đăng ký hộ khẩu; lợi dụng việc đăng ký, quản lý hộ khẩu để hoạt động phi pháp thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người có trách nhiệm giải quyết đăng ký, quản lý hộ khẩu vi phạm những quy định của Nghị định này hoặc lợi dụng công việc này để sách nhiễu, gây phiền hà cho công dân thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử lý kỷ luật hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 20.- Nghị định này thay thế Nghị định 04/HĐBT ngày 07 tháng 01 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ đăng ký quản lý hộ khẩu và có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 7 năm 1997. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban quốc gia dân số kế hoạch hoá gia đình và Tổng cục Thống kê có trách nhiệm phối hợp giữa công tác hộ khẩu với các công tác hộ tịch, đăng ký lao động, thống kê dân số và kế hoạch hoá gia đình... bảo đảm sự thống nhất về tình hình và số liệu báo cáo để phục vụ các yêu cầu quản lý xã hội và phục vụ nhân dân của Nhà nước.

Bộ Nội vụ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để ứng dụng công nghệ tiên tiến và cải cách thủ tục hành chính trong công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu ở địa phương mình.

Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện thống nhất Nghị định này trong cả nước.

Điều 21.- Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

7. Nghị định 51-CP năm 1997 về việc đăng ký và quản lý hộ khẩu

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 51-CP

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1997

NGHỊ ĐỊNH

CỦACHÍNH PHỦ SỐ 51-CP NGÀY 10 THÁNG 5 NĂM 1997 VỀ VIỆC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để thực hiện thống nhất việc đăng ký và quản lý hộ khẩu, tăng cường quản lýxã hội, bảo vệ quyền tự do cư trú hợp pháp của công dân;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.-Đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằmxác định việc cư trú của công dân, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ côngdân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội.

Chính phủgiao cho Bộ Nội vụ phụ trách việc đăng ký và quản lý hộ khẩu.

Điều 2.-Mọi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền và có nghĩa vụ thựchiện việc đăng ký và quản lý hộ khẩu với cơ quan công an theo quy định.

Mọi công dân phải đăng ký hộ khẩuở nơi cư trú gọi là hộ khẩu thường trú. Khi chuyển đến cư trú ở nơi mới phải thựchiện đầy đủ chế độ đăng ký, quản lý hộ khẩu lại theo quy định.

Điều 3.-Những người đang trong thời gian thi hành bản án của Toà án và những người đangphải thi hành quyết định cư trú bắt buộc, chịu sự quản lý hành chính của chínhquyền địa phương thì chưa được chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú nơi khác.

Những người đang thi hành bảnán, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấmcư trú thì không được đăng ký hộ khẩu thường trú ở khu vực bị cấm.

Điều 4.-Những người có quan hệ về gia đình, cùng ở chung một nhà thì đăng ký thành mộthộ gia đình.

Mỗi hộ gia đình phải có một ngườiđứng tên chủ hộ. Chủ hộ có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các quy địnhvề đăng ký, quản lý hộ khẩu trong hộ của mình.

Điều 5.-Những người đang làm việc trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xãhội sống độc thân tại nhà ở tập thể của cơ quan thì đăng ký theo nhân khẩu tậpthể và từng người phải trực tiếp đăng ký hộ khẩu với cơ quan công an. Mỗi nhà ởtập thể có một người phụ trách, người phụ trách có trách nhiệm hướng dẫn, kiểmtra việc chấp hành những quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu của những nhân khẩusống trong nhà ở tập thể của mình.

Điều 6.-Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, công nhân, nhân viên của Quân độinhân dân và Công an nhân dân ở trong doanh trại hoặc nhà ở tập thể của quân đội,công an thì đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định định riêng của Bộ Quốc phòngvà Bộ Nội vụ.

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,công nhân, viên chức của quân đội nhân dân và công an nhân dân hàng ngày ở vớigia đình hoặc có nhà hợp pháp thì được đăng ký hộ khẩu gia đình theo quy định củaNghị định này.

Những công dân đang trong thờigian làm nghĩa vụ quân sự thì không được đăng ký hộ khẩu gia đình.

Những công dân không phục vụtrong quân đội, công an mà cư trú trong khu vực doanh trại, nhà ở tập thể củaquân đội, công an thì thực hiện đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định chung.

Chương 2:

ĐĂNG KÝ, QUẢN LÝ HỘ KHẨU

Điều 7.-Công dân từ 15 tuổi trở lên có nghĩa vụ phải làm bản tự khai nhân khẩu chínhxác, đầy đủ theo mẫu thống nhất của Bộ Nội vụ.

Điều 8.-Cơ quan công an lập sổ hộ khẩu gốc theo khu vực dân cư của đơn vị hành chính hoặcnhà ở tập thể để phục vụ việc đăng ký, quản lý hộ khẩu.

Ngoài sổ lưu ở cơ quan công an,mỗi cơ quan, tổ chức có đăng ký hộ khẩu tập thể, phải có bản sao sổ nhân khẩu tậpthể của mình để theo dõi và quản lý. Sổ này không thay thế cho sổ hộ khẩu gốclưu tại cơ quan công an.

- Mỗi hộ gia đình có một sổ hộkhẩu gia đình.

- Trong một nhà có nhiều giađình ở thì mỗi gia đình được lập một sổ hộ khẩu gia đình riêng.

- Mỗi người đăng ký nhân khẩu tậpthể được cấp một giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể.

Sổ hộ khẩu gốc, sổ hộ khẩu giađình và giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể nói trên do cơ quan công an cấp theomẫu thống nhất của Bộ Nội vụ và là tài liệu có giá trị pháp lý, là cơ sở để xácđịnh việc cư trú hợp pháp của công dân.

Điều 9.-Khi có những thay đổi sau đây thì chủ hộ gia đình, người phụ trách nhà ở tập thể,hoặc người có sự thay đổi phải làm thủ tục đăng ký bổ sung, điều chỉnh tại cơquan công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.

Tách hộ, nhập hộ, lập hộ mới.

Thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chínhngày, tháng, năm sinh.

Có trẻ em mới sinh.

Có người chết hoặc mất tích.

Có người đi làm nghĩa vụ quân sự.

Có người được cơ quan nhà nướccó thẩm quyền cho phép xuất cảnh từ 12 tháng trở lên.

Có người bị thi hành án tù giam,tập trung giáo dục chữa bệnh và đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục.

Điều 10.-Khi chuyển nơi cư trú người chuyển đi hoặc chủ hộ gia đình, người phụ trách nhàở tập thể có người chuyển đi phải đến cơ quan công an nơi đang cư trú để làmthu tục chuyển đi.

Đến nơi cư trú mới trong vòngkhông quá 7 ngày nếu ở thành phố, thị xã và không quá 10 ngày nếu ở nông thôn,người mới chuyển đến hoặc chủ hộ gia đình mới chuyển đến phải làm thủ tục đăngký hộ khẩu thường trú với cơ quan công an nơi đến.

Thủ tục đăng ký gồm các giấy tờsau đây:

Giấy chứng minh nhân dân (ngườitừ 15 tuổi trở lên).

Giấy chứng nhận chuyển đi.

Phiếu báo thay đổi nơi thườngtrú.

Giấy xác nhận nhà ở hợp pháp.

Các giấy tờ khác liên quan trựctiếp đến việc thay đổi nơi cư trú (nếu có).

Kể từ này nhận đủ giấy tờ hợp lệtheo quy định, cơ quan công an phải giải quyết xong trong thời hạn 10 ngày đốivới trường hợp chuyển về nông thôn, 20 ngày đối với trường hợp chuyển vào thànhphố, thị xã.

Điều 11.-Để được đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi mới đến, người chuyển đến phải cónhà ở hợp pháp. Nhà ở hợp pháp bao gồm:

1. Nhà ở thuộc sở hữu của mình.

2. Nhà ở được quyền sử dụng hợppháp: có quyết định phân nhà, có hợp đồng thuê.

3. Được chủ hộgia đình đồng ý cho ở nhà hợp pháp của chủ hộ. Nhà ở phải đảm bảo vệ sinh, môitrường và đủ diện tích ở tối thiểu theo quy định. Không trong diện đang tranhchấp, vùng quy hoạch phải dời chuyển.

Nhà ở hợp pháp nói trên phải cóđủ giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp theo quy định củapháp luật.

Điều 12.-Ngoài việc có nhà ở hợp pháp quy định tại Điều 11 nêu trên, người chuyển hộ khẩuthương trú đến các thành phố, thị xã (gọi chung là thành phố) phải có thêm cácđiều kiện sau:

1. Đối với những người được cơquan nhà nước cấp có thẩm quyền điều động, tuyển dụng vào làm việc ở địa bànthành phố:

a. Công chức, viên chức được cấpcó thẩm quyền điều động trong ngành hoặc khác ngành nhưng cùng nghề chuyên mônđến thay thế cho những công chức, viên chức được thuyên chuyển đi nơi khác, nghỉhưu, nghỉ mất sức, thôi việc, hoặc được điều động đến công tác.

b. Công chức, viên chức được cơquan tổ chức cử đi học, đi công tác, biệt phái ở nơi khác, nay được cơ quan cóthẩm quyền quyết định trở lại công tác nơi thường trú cũ.

c. Học sinh tốt nghiệp các trườngđại học, cao đẳng, trung học và dạy nghề được cơ quan có thẩm quyền cấp Bộ (đốivới cơ quan, tổ chức thuộc Trung ương) hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối vớicơ quan, tổ chức thuộc tỉnh, thành phố) ra quyết định tuyển dụng trong chỉ tiêubiên chế.

2. Đối với sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân viên chức thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dânđang công tác ổn định tại địa bàn thành phố thuộc một trong các trường hợp sauđây thì được đăng ký hộ khẩu gia đình riêng:

a. Về ở với bố, mẹ, vợ, chồng,con đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

b. Nữ công an, quân đội đã thànhlập gia đình hoặc có con.

c. Đã công tác liên tục tại địabàn thành phố từ 3 năm trở lên.

d. Nghỉ hưu.

3. Ngoài quy định tại điểm 1 và 2nêu trên, những người thuộc một trong các trường hợp sau đây cũng được chuyển hộkhẩu đến ở với người có hộ khẩu thường trú thuộc thành phố.

a. Công chức, viên chức đang làmviệc ở các tỉnh, thành phố giáp ranh, hàng ngày về ăn ở với bố, mẹ (nếu chưa cóvợ, chồng), vợ, chồng, con đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

b. Những người hết tuổi lao động,nghỉ hưu, về nghỉ mất sức xin chuyển đến ở với con hoặc anh, chị, em ruột (nếukhông có vợ, chồng, con) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

c. Những người mất khả năng laođộng bao gồm: người tàn tật, mất trí, bệnh tật đến ở với bố, mẹ, con hoặc anh,chị, em ruột, chú bác, cô, dì ruột, hoặc người đỡ đầu (nếu không có bố, mẹ,không có vợ, chồng, con) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

d. Người dưới 18 tuổi đến ở vớihoặc ông, bà, anh, chị, em ruột, chú, bác, cô, dì ruột hoặc người đỡ đầu, ngườigiám hộ (nếu không còn bố mẹ) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

đ. Vợ xin về ở với chồng hoặc chồngxin về ở với vợ mà một trong hai người đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

e. Người Việt Nam định cư ở nướcngoài hồi hương được cấp có thẩm quyền cho về cư trú ở thành phố.

g. Những người đã là nhân khẩuthường trú hoặc quê gốc ở thành phố đi nghĩa vụ quân sự, đi công tác, học tập,lao động... ở nơi khác (kể cả ở nước ngoài) nay trở về hợp pháp và người đitheo được quy định tại các điểm b, c, d, đ khoản 3 Điều này.

h. Những người đã là nhân khẩuthường trú ở thành phố đi tù, đi thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chínhtại các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hết hạn trở về khôngthuộc diện cấm cư trú ở thành phố.

4. Những trườnghợp đặc biệt khác thì Giám đốc Công an thành phố báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhândân thành phố và Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định.

Điều 13.-Bộ Nội vụ chỉ đạo công an các cấp phải thường xuyên nắm vững số lượng các loạinhân khẩu, hộ khẩu ở từng địa phương; thống kê điều chỉnh kịp thời các biến độngvề nhân hộ khẩu và có biện pháp quản lý chặt chẽ từng loại hộ khẩu, nhân khẩu;tuyên truyền phổ biến các quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu; kiểm tra việcchấp hành và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực này theo quy định của pháp luật.

Chương 3:

ĐĂNG KÝ, QUẢN LÝ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG

Điều 14.-Người từ 15 tuổi trở lên ở qua đêm ngoài nơi thường trú của mình thuộc phạm viphường, thị trấn, xã khác phải trình báo tạm trú theo quy định. Trường hợp cha,mẹ, vợ, chồng, con thường đến tạm trú ở nhà nhau thì khai báo lần đầu trongnăm.

Điều 15.-Các trường hợp sau đây phải đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định:

1. Người thực tế đang cư trú tạiđịa phương nhưng chưa đủ thủ tục, điều kiện để được đăng ký hộ khẩu thường trú.

2. Người ở nơi khác đến học tập,làm việc, lao động tự do.

3. Những ngườiđược tuyển vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức của Nhà nước, các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế, các văn phòng đại diện hoặc các chi nhánh nướcngoài tại tỉnh, thành phố của Việt Nam.

Điều 16.-Người từ 15 tuổi trở lên có việc riêng phải vắng mặt qua đêm khỏi quận, thànhphố, thị xã, huyện nơi đang thường trú của mình phải khai báo tạm vắng theo quyđịnh.

Người đi vắng khỏi nơi đã đăngký hộ khẩu thường trú quá 6 tháng mà không khai báo tạm vắng, không có lý dochính đáng sẽ bị xoá tên trong sổ hộ khẩu; khi trở lại phải khai xin đăng ký lạihộ khẩu thường trú theo quy định.

Người có hộ khẩu thường trú,nhưng thực tế không cư trú ở nơi đăng ký hộ khẩu thường trú mà không có lý dochính đáng; hoặc không thể ở nơi đó được thì cơ quan quản lý hộ khẩu phải xoátên trong sổ hộ khẩu.

- Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể thủtục đăng ký tạm trú và tạm vắng.

Chương 4:

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 17.- Các cơ quan, tổchức địa phương không được tự thay đổi hoặc làm trái những quy định về đăng ký,quản lý hộ khẩu nói trong Nghị định này. Đối với các trường hợp làm trái, Bộ Nộivụ có quyền đình chỉ hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ ra quyết định bãi bỏ.

Điều 18.- Công dân cótrách nhiệm thực hiện việc đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định của Nghị địnhnày và có quyền khiếu nại, tố cáo những cá nhân hoặc tổ chức không thực hiệnđúng những quy định, hoặc từ chối, cố ý kéo dài, gây khó khăn, sách nhiễu khigiải quyết đăng ký, quản lý hộ khẩu.

Cơ quan tiếp nhận đơn khiếu nại,tố cáo có trách nhiệm xem xét giải quyết theo Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo củacông dân.

Điều 19.- Mọi hành vi sửachữa giấy tờ, tài liệu, kê khai không đúng sự thật để đăng ký hộ khẩu; lợi dụngviệc đăng ký, quản lý hộ khẩu để hoạt động phi pháp thì tuỳ theo mức độ vi phạmmà xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người có trách nhiệm giải quyếtđăng ký, quản lý hộ khẩu vi phạm những quy định của Nghị định này hoặc lợi dụngcông việc này để sách nhiễu, gây phiền hà cho công dân thì tuỳ theo tính chất,mức độ vi phạm mà xử lý kỷ luật hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 20.-Nghị định nàythay thế Nghị định 04/HĐBT ngày 07 tháng 01 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng(nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ đăng ký quản lý hộ khẩu và có hiệu lực thi hànhtừ ngày 15 tháng 7 năm 1997. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đềubãi bỏ.

Bộ Nội vụ, BộTư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban quốc gia dân số kế hoạchhoá gia đình và Tổng cục Thống kê có trách nhiệm phối hợp giữa công tác hộ khẩuvới các công tác hộ tịch, đăng ký lao động, thống kê dân số và kế hoạch hoá giađình... bảo đảm sự thống nhất về tình hình và số liệu báo cáo để phục vụ cácyêu cầu quản lý xã hội và phục vụ nhân dân của Nhà nước.

Bộ Nội vụ phối hợp với các Bộ,ngành liên quan để ứng dụng công nghệ tiên tiến và cải cách thủ tục hành chínhtrong công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tác đăngký, quản lý hộ khẩu ở địa phương mình.

Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn,theo dõi chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện thống nhất Nghị định nàytrong cả nước.

Điều 21.- Bộ trưởng các Bộ,Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thihành Nghị định này.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

8. Nghị định Ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu

Nghị định

NGHỊĐỊNH

CỦA HỘIĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 104/CP , NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 1964
BAN HÀNH ĐIỀU LỆ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Để tăng cường việc giữgìn trật tự trị án xã hội, phục vụ lợi ích của nhân dân, để giúp vào việc thốngkê dân số các vùng trong nước nhằm phục vụ việc xây dựng và thực hiện các chínhsách, kế hoạch của Nhà nước;

Theo đề nghị của ôngBộ trưởng Bộ Công an;

Căn cứ Nghị quyết củaHội đồng Chính phủ trong Hội nghị Thường vụcủa Hội đồng Chính phủngày 3tháng 6 năm 1964.

NGHỊ ĐỊNH

Điều 1: Nay ban hành Điều lệ đăng kývàquản lý hộ khẩu kèm theo nghị địnhnày.

Điều 2: Ông Bộ trưởng Bộ Công an chịutrách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

ĐIỀU LỆ

ĐĂNG KÝVÀQUẢN LÝ HỘ KHẨU

Điều 1: Để tăng cường việc giữgìn trật tự trị an xã hội phục vụ lợiíchcủa nhân dân, để giúp vào việc thốngkế dân số các vùng trong nước nhằm phục vụ xây dựng và thực hiện các chínhsách, kế hoạch của Nhà nước, nay ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩunày.

Điều 2: Công dân nước Việt Nam dân chủcộng hoà, người nước ngoài (trừ trường hợp đã cóquy định riêng) và người không có quốc tịchcư trú trên đất nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều phải chấp hành cácquy định của điều lệ này.

Riêng đối với cán bộ và chiến sĩ củaQuân đội nhân dân và Công an nhân dân ở trongcác cơ quan, doanh trại thì việc đăng ký và quản lý hộ khẩu theo những quy địnhvề quản lý quân nhân tại ngũ.

Điều 3: Công tác đăng ký và quản lý hộkhẩu do Bộ Công an phụ trách. Các đồn công an ở thành phố, thị xã, thị trấn,các Uỷ ban hành chính xã, thị trấn (nơi không có đồn công an) trực tiếp thihành việc đăng ký và quản lý hộ khẩu trong phạm vi khu vực mình phụ trách.

Các cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâmtrường, trường học ... có nhà ở tập thể cho công nhân, viên chức, học sinh, cótrách nhiệm cử ngưòi tiến hành việc đăng ký và quản lý hộ khẩu đối với nhữngngười ở trong nhà tập thể đó dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của cơ quan công anhoặc Uỷ ban hành chính xã, thị trấn sở tại.

Đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, khi có nhữngngười cư trú trong khu vực doanh trại của mình mà không thuộc biênchế của quân đội Thường trực, của công an,cũng có trách nhiệm cử người tiến hành việc đăng ký vàquản lý hộ khẩu đối với những người đó dướisự hướng dẫn và kiểm soát của cơ quan công an hoặc Uỷ ban hành chính xã, thịtrấn sở tại.

Điều 4: Việc đăng ký vàquản lý hộ khẩu lấy hộ làm đơn vị. Một hộ gồmnhững người ăn ở chung với nhau trong một nhà riêng hoặc trong nhà tập thể củacơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, trường học. Một ngườiăn ở riêng một mình cũng kể như một hộ.

Điều 5: thành phố, thị xã, thị trấn thì đồn công an lập sổ hộ khẩu cho từng hộ trongkhu vực mình phụ trách . xã ,thị trấn (nơi không có đồn công an) thì Uỷ ban hành chính xã, thị trấn lập sổhộ khẩu cho từng hợp tác xã hoặc cho từng đội sản xuất trong các hợp tác xã quálớn; ở nơi chưa có hợp tác xã thì lập sổ hộ khẩu cho từng xóm.

Những hộ còn làm ăn riêng lẻ được đăng ký chung một sổ hộkhẩu với hợp tác xã, đội sản xuất cùng thôn hoặc cùng xóm.

Các cơ quan, xí nghiệp, công trưòng, lâm trường, trường học... lập sổ hộ khẩu ở mỗi khu nhà tập thể của mình dưới sự hướng dẫn và kiểmsoát cảu cơ quan công an hoặc Uỷ ban hành chính xã, thị trấn sở tại.

Điều 6: Mỗi công dân phải đăng ký lànhân khẩu thường trú trong một hộ nhất định, hộ này là nơi ở thường xuyên củamình.

Điều 7: Khi trong hộ có trẻ em mớisinh, người chủ hộ hoặc một người trong hộ phải đăng ký hộ khẩu cho em đó tạiUỷ ban hành chính sở tại.

Điều 8: Khi trong hộ có người chết, nếulà ở thành phố, thị xã, thị trấn, thì trước lúc mai táng, nếu là ởnông thôn, thì trong thời hạn năm ngày, ngưòichủ hộ hoặc một người trong hộ phải khai báo tại Uỷ ban hành chính sở tại.

Trong trường hợp người chết là người đến tạm trú trong hộhoặc người chết vì tai nạn hay vì một nguyên nhân không rõ, thì người chủ hộphải báo ngay với cơ quan công an hoặc Uỷ ban hành chính xã, thị trấn sở tại.

Điều 9: Khi cả hộ hoặc một người tronghộ chuyển chỗ ở trong phạm vi một xã, một thị trấn, một thị xã, một khu phố,một thành phố không chia thành khu phố, thì trước khi di chuyển chủ hộ hoặcđương sự phải báo cho cơ quan quản lý hộ khẩu nơi đó biết.

Điều 10: Khi cả hộ hoặc một người tronghộ, chuyển chỗ ở ra ngoàiphạm vi nói ởđiều 9 trên đây, thì chủ hộ hoặc đương sự phải lấy giấy "Chứng nhận chuyểnđi" của cơ quanquản lý hộ khẩu nơiở cũ của mình theo thủ tục như sau:

- Nếu chuyển chỗ ở đến một xã, thị trấn cùng trong một tỉnhhay thanh phốhoặc chuyển chỗ ở từ khuphố này đếnkhu phố khác cùng trong mộtthành phố thì giấy "Chứng nhận chuyển đi" do Uỷ ban hành chính xã,thị trấn, hoặc đồn công an cấp;

- Nếu chuyển đến một xã, thị trấn thuộc tỉnh khác thì giấy"Chứng nhận chuyển đi" docông an huyệnhoặc đồn công an cấp;

- Nếu chuyển đến một thành phố, thị xã (kể cả vùng ngoạithành, ngoại thị) hoặc đến một xã, thị trấn giáp biên giới, bờ biển, giới tuyếnquân sự tạm thời, hoặc đến những khu vực kinh tế, quốc phòng quan trọng do BộCông an và Bộ Quốc phòng đã hoặc sẽquyđịnh, thì "Giấy chứng nhận chuyển đi" do Sở Công an, Ty Công an cấp.

Điều 11: Trong trường hợp chuyển chỗ ởđến một thành phố, thị xã, thì khi đến đăng ký lấy giấy "Chứng nhận chuyển đi",đương sự phải đem theo một trong những giấy tờ sau đây:

- Giấy thuyên chuyển công tác;

- Giấy chứng nhận được tuyển dụng do cơ quan quản lý laođộng ở thành phố, thị xã nơi chuyển đến cấp;

- Giấy chứng nhận trúng tuyển vào học các trường đại học haytrường chuyên nghiệp của thành phố, thị xã đó;

- Giấy "cho phép chuyển đến" do cơ quan công ancủa thànhphố, thị xã đó cấp.

Điều 12: Những người bị can án còn chờxét xử, những người bị án mà chưa bị giam giữ, khi đến làm thủ tục để lấy giấy"Chứng nhận chuyển đi" phải có giấy của Viện kiểm sát nhân dân hay Toà án nhândân cho phép chuyển chỗ ở.

Điều 13: Nhữngngười được tuyển vào quân đội thường trựctrước khi nhập ngũ phải đem giấygọinhập ngũ đến báo cơ quan quản lý hộ khẩu để xoá tên trong sổ hộkhẩu.

Điều 14:Khi chuyển chỗ ở đến nơi mới, nếu là thànhphố, thị xã, thị trấn thì trong thời hạn 3 ngày, nếu là ở nông thôn thì trongthời hạn năm ngày, người chủ hộ hoặc đương sự phải mang giấy "Chứng nhận chuyểnđi" đến đăng ký tại cơ quanquản lý hộkhẩu sở tại.

Điều 15: Khi có người ở địa phương khác(không kể những người ở cùng trong một xã, một thị trấn, một thị xã, một thànhphố) tới tạm trú lại ban đêm trong hộ thì người chủ hộ hoặc một người trong hộphải báo cho cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại biét trong thời hạn do Bộ Cônganquy định riêng cho từng vùng.

Điều 16:Thời hạn tạm trú ở thành phố, thị xã nhiềunhất là ba tháng. Hết hạn ấy, nếu cần ở lại thêm thì đương sự phải xin gia hạntại cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại.

Điều 17: Khi có những sự thay đổi sốngười trong hộ như: kết hôn, ly dị, trong hộ có người đi mất tích, chia một hộra nhiều hộ, hợp nhiều hộ thành một hộ v,v... thì chủ hộ hoặc một người tronghộ báo với cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại để đăng ký những sự thay đổi ấy.

Điều 18: Khi cần sửa đổi hoặc đínhchính những điều ghi trong sổ hộ khẩu như: họ, tên, tuổi, nghề nghiệp ... thìchủ hộ hoặc một người trong hộ báo với cơ quanquản lý hộ khẩu sở tại để cơ quan này thẩm tra và sửa chữa trong sổ hộkhẩu. Không người nào, cơ quan nào được tự tiện ghi thêm, tẩy xoá hoặc sửa chữavào sổ hộ khẩu.

Điều 19: Mẫu sổ hộ khẩu và mẫu các giấychứng nhận về quản lý hộ khẩu do Bộ Công an quy định.

Điều 20: Người nào vi phạm các thủ tụcvề đăng ký và quản lý hộ khẩu sẽ bị xử phạt theo điều lệ quản lý trị an.

Người nào khai man về hộ khẩu, làm giả, sửa chữa, cho mượn,mua bán giấy tờ chứng nhận vềquản lý hộkhẩu, sẽ tuỳtrường hợp nặng, nhẹmà bị xử phạt theo điều lệquản lý trị an hoặc bị truy tố trước Toà án.

Điều 21: Điều lệ này thi hành kể từngày ban hành. Những điều quy định trước đây trái với điều lệ này đều bãi bỏ.

9. Nghị định 4-HDDBT điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 4-HĐBT

Hà Nội, ngày 07 tháng 1 năm 1988

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 4-HĐBT NGÀY 7-1-1988 BAN HÀNH ĐIỀU LỆ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1.- Nay ban hành bản Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu kèm theo Nghị định này.

Điều 2.- Điều lệ này thi hành thống nhất trong cả nước và có hiệu lực kể từ ngày ban hành, các văn bản ban hành trước đây trái với bản Điều lệ này đều bị bãi bỏ.

Điều 3.- Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 4.- Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra đôn đốc việc thi hành Điều lệ này.

Phạm Hùng

(Đã ký)

ĐIỀU LỆ
ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU
(Ban hành kèm theo Nghị định số 4-HĐBT ngày 7-1-1988).

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.- Đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quan trọng của Nhà nước để quản lý xã hội; bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; xác định việc cư trú hợp pháp để thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân.

Điều 2.- Công dân được quyền và có trách nhiệm đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi ở thường xuyên của mình. Không đăng ký hộ khẩu thường trú ở nơi này nhưng lại thường xuyên cư trú ở nơi khác.

Điều 3.- Những người có quan hệ về gia đình hoặc quan hệ thân thuộc cùng ở trong một nhà hoặc một phòng ở thì đăng ký là một hộ.

Mỗi hộ phải cử một người có trách nhiệm chính làm chủ hộ để thực hiện các quy định về đăng ký và quản lý hộ khẩu trong hộ của mình.

Điều 4.- Những người của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội (gọi tắt là cơ quan và tổ chức) mà cùng ở chung trong một nhà hoặc một phòng thì đăng ký hộ khẩu ở tập thể và cơ quan đăng ký hộ khẩu phải trực tiếp đăng ký với từng người.

Các cơ quan và tổ chức phải cử người để đôn đốc những người ở trong nhà tập thể của mình chấp hành những quy định về đăng ký và quản lý hộ khẩu.

Điều 5.- Cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân ở tập thể trong doanh trại, nhà ở tập thể của quân đội, công an thì quản lý theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ.

Những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, cán bộ công nhân, nhân viên quốc phòng của quân đội nhân dân và của công an nhân dân hàng ngày ngoài giờ làm việc về ở với bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con cùng trong một thành phố, thị xã, thị trấn, một huyện thì đăng ký hộ khẩu thường trú cùng với hộ gia đình.

Những người không phải là quân đội, công an mà ở trong khu vực doanh trại, nhà ở tập thể của quân đội, của công an đều thực hiện theo những quy định trong Điều lệ này.

Chương 2:

QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

Điều 6.- Mỗi người từ 15 tuổi trở lên tự khai một bản khai nhân khẩu đầy đủ chính xác theo mẫu hướng dẫn thống nhất của Bộ Nội vụ.

Điều 7.- Lập sổ hộ khẩu: ở thành phố, thị xã, thị trấn lập theo từng hộ, ở nông thôn lập theo xóm, ấp, bản. Đối với nhà ở tập thể của cơ quan và tổ chức thì lập theo từng nhà ở hoặc phòng ở tập thể của cán bộ, công nhân, viên chức, hội viên.

Điều 8.- Khi có những sự thay đổi về hộ khẩu như dưới đây thì người có sự thay đổi, hoặc chủ hộ, hoặc người có trách nhiệm nhiệm của cơ quan, đơn vị chủ quản có nhà ở tập thể đến báo với cơ quan đăng ký hộ khẩu để xác nhận sự thay đổi đó vào sổ hộ khẩu.

- Chia một hộ thành nhiều hộ, hợp nhiều hộ thành một hộ.

- Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh sau khi có quyết định cho phép của cơ quan có thẩm quyền.

- Có trẻ em mới sinh, hoặc có người chết.

- Có người được tuyển dụng vào lực lượng vũ trang, đi công tác, lao động, học tập dài hạn ở nước ngoài, xuất cảnh ra nước ngoài.

- Có người tự bỏ đi nơi khác, mất tích, bị bắt đi tù, đi tập trung giáo dục cải tạo, bắt buộc lao động tập trung.

Điều 9.- Khi thay đổi nơi thường trú, trước khi chuyển đi, người có thay đổi hoặc chủ hộ đến cơ quan đăng ký hộ khẩu sở tại để làm thủ tục chuyển đi. Đến nơi ở mới, nếu ở thành phố, thị xã trong thời hạn không quá 2 ngày, nếu ở nông thôn không quá 5 ngày người chuyển đến hoặc chủ hộ nơi chuyển đến báo với cơ quan đăng ký hộ khẩu sở tại để làm thủ tục chuyển đến.

Điều 10.- Việc chuyển hộ khẩu đến nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương nơi đến xét duyệt.

Những trường hợp sau đây được chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú ở nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã:

1. Cán bộ, công nhân, nhân viên bao gồm cả công nhân, nhân viên quốc phòng và công nhân của công an, học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề được cấp có thẩm quyền ra quyết định điều động, hoặc tuyển dụng vào biên chế của cơ quan, xí nghiệp theo quy chế về điều động, tuyển dụng.

2. Cán bộ, công nhân, nhân viên công tác ở các tỉnh, thành phố giáp ranh thường xuyên về ở với vợ hoặc chồng là nhân khẩu thường trú ở thành phố, thị xã.

3. Những người đã là nhân khẩu thường trú ở nội thành, nội thị đi nghĩa vụ quân sự, đi công tác, đi lao động, đi học tập ở nơi khác kể cả trong và ngoài nước, đã làm xong nhiệm vụ hoặc nghỉ hưu, phục viên, nghỉ mất sức, được xuất ngũ, thôi việc.

4. Những người già yếu, hết tuổi lao động đến ở với vợ hoặc chồng, con là nhân khẩu thường trú để nương tựa.

5. Những người dưới 18 tuổi chưa tự lập được, những người bị bệnh tật không có khả năng tự lập được không có người nuôi dưỡng về ở với bố, mẹ, ông bà hoặc anh, chị ruột là nhân khẩu thường trú.

6. Những người mới kết hôn đến ở với vợ hoặc chồng là nhân khẩu thường trú.

7. Những người đã là nhân khẩu thường trú ở nội thành, nội thị bị bắt buộc lao động tập trung, đi trường phổ thông công nông nghiệp, đi tập trung cải tạo, đi tù đã hết hạn mà không thuộc diện phải thi hành lệnh cấm cư trú được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy cho về.

8. Những trường hợp ngoại lệ khác được Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương xét duyệt cho phép đăng ký hộ khẩu vào nội thành, nội thị.

Điều 11.- Những trường hợp sau đây không được chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú ở nội thành các thành phố trực thuộc Trung ương, các xã biên giới, hải đảo:

a) Những người đang bị quản chế.

b) Những người đang cải tạo tại chỗ.

c) Những người đã có hành động phạm pháp chờ xét xử.

d) Những người đang trong thời hạn thi hành án phạt của Toà án nhân dân về cấm cư trú.

e) Những người đang thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền cấm cư trú hoặc cư trú bắt buộc.

Điều 12. - Những người từ 15 tuổi trở lên đến tạm trú ở nơi khác ngoài phạm vi nội thành, nội thị và huyện nơi ở thường trú của mình phải khai báo tạm trú.

- Tạm trú trong các nhà trọ, khách sạn thì người phụ trách các nhà trọ, khách sạn phải khai báo với cơ quan đăng ký hộ khẩu sở tại.

- Tạm trú trong các nhà khách, nhà ở tập thể của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, thì người tạm trú báo cho Ban bảo vệ trực tiếp quản lý nhà khách, nhà ở tập thể đó.

- Tạm trú trong các nhà ở tập thể không thuộc cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và tạm trú trong các hộ gia đình thì người tạm trú hoặc chủ hộ gia đình báo cho tổ trưởng nhân dân nơi tạm trú.

- Những người là bố, mẹ, vợ, chồng, con đến tạm trú ở nhà nhau cũng phải khai báo.

Thời hạn tạm trú không quá 6 tháng, hết hạn nếu còn tạm trú phải khai báo lại.

Điều 13.- Những người từ 15 tuổi trở lên đi vắng khỏi nội thành, nội thị và huyện nơi thường trú của mình phải khai báo tạm vắng.

- Người ở các nhà tập thể của tổ chức không thuộc cơ quan Nhà nước và hộ gia đình thì người đi vắng hoặc chủ hộ báo cho tổ trưởng nhân dân nơi thường trú.

- Người ở các nhà tập thể của các cơ quan, tổ chức của Nhà nước thì báo cho Ban bảo vệ trực tiếp quản lý nhà ở tập thể.

- Thời hạn tạm vắng không quá 6 tháng, người nào vắng quá 6 tháng không có lý do rõ ràng thì cơ quan đăng ký hộ khẩu nơi thường trú xoá tên trong sổ hộ khẩu. Khi người ấy trở về sẽ xét đăng ký hộ khẩu trở lại.

- Người đi công tác, họp hội nghị, học tập hoặc đi chữa bệnh trong thời hạn nói trên cũng phải khai báo tạm vắng.

Chương 3:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 14.- Bộ Nội vụ có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ khẩu; quy định những thủ tục, biểu mẫu sổ sách cần thiết về đăng ký và quản lý hộ khẩu để thi hành thống nhất.

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ khẩu ở địa phương mình.

Điều 15.- Cấm giả mạo giấy tờ, kê khai gian dối để đăng ký hộ khẩu sai quy định.

Không cơ quan, tổ chức nào được tuỳ tiện thay đổi hoặc làm trái quy định của Điều lệ đăng lý, quản lý hộ khẩu. Đối với những trường hợp quy định trái Điều lệ này, Bộ Nội vụ có quyền đình chỉ việc thi hành và kiến nghị lên Hội đồng Bộ trưởng để ra lệnh bãi bỏ.

Điều 16.- Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước về những việc đăng ký hộ khẩu không đúng. Cơ quan nhận được khiếu nại, tố cáo phải xem xét giải quyết theo đúng Pháp lệnh ngày 23-11-1981 của Hội đồng Nhà nước quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.

Điều 17.- Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào có thành tích trong việc thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu, tuỳ theo mức độ của thành tích sẽ được khen thưởng theo chế độ khen thưởng của Nhà nước.

Điều 18.- Nếu vi phạm những quy định về đăng ký quản lý hộ khẩu theo Điều lệ này, tuỳ mức độ sai phạm và xử lý kỷ luật hành chính đến truy tố trước pháp luật.

10. Nghị định số 51/CP của Chính phủ : Nghị định của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ khẩu

Về việc điều chỉnh địa giới huyện, xã thuộc tỉnh Đồng Nai
CHÍNH PHỦ
Số: 51/CP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 23 tháng 6 năm 1994

NGHỊ ĐỊNH

Về việc điều chỉnh địa giới huyện, xã thuộc tỉnh Đồng Nai.

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai và Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức- Cán bộ Chính phủ;

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. - Điều chỉnh địa giới huyện, xã thuộc tỉnh Đồng Nai như sau:

A. Chia huyện Long Thành thành hai huyện: huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch.

Huyện Long Thành có diện tích tự nhiên 52. 032 hécta, nhân khẩu 162.169; có 16 đơn vị hành chính như sau: xã Hoà Hưng, xã Phúc Tân, xã Tam An, xã Tam Phước, Xã Long Đức, xã Lộc An, xã Long Phước, xã An Phước, xã Bình Sơn, xã Suối Trầu, xã Cẩm Đường, xã Bàu Cạn, xã Phước Thái, xã Tân Hiệp, xã Long An và thị trấn Long Thành.

Địa giới huyện Long Thành: phía Đông giáp huyện Long Khánh; phía Tây giáp huyện Nhơn Trạch và huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; phía Nam giáp huyện Châu Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; phía Bắc giáp thành phố Biên Hoà và huyện Thống Nhất.

Huyện Nhơn Trạch có diện tích tự nhiên 40.146 hécta, nhân khẩu 101.882; có 11 đơn vị hành chính như sau: xã Phước Thiên, xã Phú Hội, xã Long Tân, xã Phú Thạnh, xã Đại Phước, xã Phú Hữu, xã Phước Khánh, xã Vĩnh Thanh, xã Phước An, xã Long Thọ và xã Hiệp Phước.

Địa giới huyện Nhơn Trạch: phía Đông giáp huyện Long Thành (mới); phía Tây giáp huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh; phía Nam giáp huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh và huyện Châu Thành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu; phía Bắc giáp huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

B. Điều chỉnh địa giới các xã Phú Hoa, Phú Ngọc, Phú Túc và thị trấn Định Quán thuộc huyện Định Quán.

1. Chia xã Phú Hoa thành 3 xã: Phú Lợi, Phú Vinh, Phú Tân;

Xã Phú Lợi có diện tích tự nhiên 2560 hécta, nhân khẩu 10.536.

Địa giới xã Phú Lợi: phía Đông giáp xã Phú Hoà và huyện Tân Phú; phía Tây giáp xã Gia Canh và thị trấn Định Quán; phía Nam giáp xã Gia Canh; phía Bắc giáp xã Phú Vinh và xã Phú Tân.

Xã Phú Vinh có diện tích tự nhiên: 2.430 hécta, nhân khẩu 11.852.

Địa giới xã Phú Vinh: phía Đông giáp xã Phú Tân; phía Tây giáp xã Ngọc Định; phía Nam giáp xã Phú Lợi; phía Bắc giáp xã Thanh Sơn.

Xã Phú Tân có diện tích tự nhiên: 4.062 hécta, nhân khẩu 8.800.

Địa giới xã Phú Tân: phía Đông giáp huyện Tân Phú; phía Tây giáp xã Phú Vinh và xã Thanh Sơn; phía Nam giáp xã Phú Lợi; phía Bắc giáp huyện Tân Phú.

2. Chuyển giao ấp 7 có diện tích tự nhiên 1.369 hécta, nhân khẩu 2851 thuộc xã Phú Ngọc sang xã Phú Túc quản lý. Chia xã Phú Túc thành 3 xã mới: La Ngà, Túc Trưng, Phú Túc.

Xã La Ngà có diện tích tự nhiên 4.725 hécta, nhân khẩu 8.753.

Địa giới xã La Ngà: phía Đông giáp xã Phú Ngọc; phía Tây giáp xã Phú Cường và thị xã Vĩnh An; phía Nam giáp xã Túc Trưng; phía Bắc giáp xã Thanh Sơn và thị xã Vĩnh An.

Xã Túc Trưng có diện tích tự nhiên 4.790 hécta, nhân khẩu 12.568.

Địa giới xã Túc Trưng: phía Đông giáp xã Phú Ngọc; phía Tây giáp xã Phú Cường; phía Nam giáp xã Phú Túc; phía Bắc giáp xã La Ngà.

Xã Phú Túc có diện tích tự nhiên 2.890 hécta, nhân khẩu 13.900.

Địa giới xã Phú Túc: Phía Đông giáp xã Suối Nho; phía Tây giáp xã Phú Cường; Phía Nam giáp xã Suối Nho và huyện Long Khánh; phía Bắc giáp xã Túc Trưng.

3. Chia xã Phú Ngọc thành 3 xã: xã Thanh Sơn, xã Ngọc Định, xã Phú Ngọc. Chuyển giao 2.712 hécta diện tích tự nhiên và 6.434 nhân nhẩu của thị trấn Định Quán sang xã Phú Ngọc quản lý.

Xã Thanh Sơn có diện tích tự nhiên 33.050 hécta, nhân khẩu 12.498.

Địa giới xã Thanh Sơn: phía Đông giáp huyện Tân Phú, phía Tây giáp thị xã Vĩnh An; phía Nam giáp xã La Ngà và xã Ngọc Định; phía Bắc giáp huyện Tân Phú.

Xã Ngọc Định có diện tích tự nhiên 4.276 hécta, nhân khẩu 8.366.

Địa giới xã Ngọc Định: phía Đông giáp xã Phú Vinh; phía Tây giáp xã La Ngà; phía Nam giáp xã Phú Ngọc và thị trấn Định Quán; phía Bắc giáp xã Thanh Sơn.

Xã Phú Ngọc: Sau khi điều chỉnh địa giới có diện tích tự nhiên 7.198 hécta, nhân khẩu 12.761.

Địa giới xã Phú Ngọc: phía Đông giáp xã Gia Canh và thị trấn Định Quán; phía Tây giáp xã La Ngà và xã Túc Trưng; phía Nam giáp huyện Xuân Lộc; phía Bắc giáp xã Ngọc Định.

4. Chia thị trấn Định Quán thành 2 đơn vị hành chính: xã Gia Canh và thị trấn Định Quán.

Xã Gia Canh có diện tích tự nhiên 18.144 hécta, nhân khẩu 11.176.

Địa giới xã Gia Canh: phía Đông giáp huyện Đức Linh (tỉnh Bình Thuận) và xã Phú Hoà; phía Tây giáp xã Phú Ngọc; phía Nam giáp huyện Xuân Lộc; phía Bắc giáp thị trấn Định Quán.

Thị trấn Định Quán có diện tích tự nhiên 1.100 hécta, nhân khẩu 19.166.

Địa giới thị trấn Định Quán: phía Đông giáp xã Phú Vinh và xã Phú Lợi; phía Tây giáp xã Phú Ngọc, phía Nam giáp xã Gia Canh; phía Bắc giáp xã Ngọc Định.

Huyện Định Quán sau khi điều chỉnh địa giới có 14 đơn vị hành chính là các xã: Phú Lợi, Phú Vinh, Phú Tân, Gia Canh, Ngọc Định, Thanh Sơn, Phú Ngọc, La Ngà, Túc Trưng, Phú Túc, Phú Hoà, Phú Cường, Suối Nho và thị trấn Định Quán.

Điều 2. - Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ban hành, các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 3. - Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai và Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

TM. CHÍNH PHỦ

Đang cập nhật

(Đã ký)

Võ Văn Kiệt

11. Nghị định 104-CP Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 104-CP

Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 1964

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 104-CP, NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 1964 BAN HÀNH ĐIỀU LỆ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Để tăng cường việc giữ gìn trật tự trị án xã hội, phục vụ lợi ích của nhân dân, để giúp vào việc thống kê dân số các vùng trong nước nhằm phục vụ việc xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch của Nhà nước;
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Công an;
Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 3 tháng 6 năm 1964.

NGHỊ ĐỊNH :

Điều 1: Nay ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu kèm theo nghị định này.

Điều 2: Ông Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

Phạm Văn Đồng

(Đã ký)

ĐIỀU LỆ

ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU

Điều 1: Để tăng cường việc giữ gìn trật tự trị an xã hội phục vụ lợi ích của nhân dân, để giúp vào việc thống kế dân số các vùng trong nước nhằm phục vụ xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch của Nhà nước, nay ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu này.

Điều 2: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, người nước ngoài (trừ trường hợp đã có quy định riêng) và người không có quốc tịch cư trú trên đất nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều phải chấp hành các quy định của điều lệ này.

Riêng đối với cán bộ và chiến sĩ của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ở trong các cơ quan, doanh trại thì việc đăng ký và quản lý hộ khẩu theo những quy định về quản lý quân nhân tại ngũ.

Điều 3: Công tác đăng ký và quản lý hộ khẩu do Bộ Công an phụ trách. Các đồn công an ở thành phố, thị xã, thị trấn, các Uỷ ban hành chính xã, thị trấn (nơi không có đồn công an) trực tiếp thi hành việc đăng ký và quản lý hộ khẩu trong phạm vi khu vực mình phụ trách.

Các cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, trường học ... có nhà ở tập thể cho công nhân, viên chức, học sinh, có trách nhiệm cử ngưòi tiến hành việc đăng ký và quản lý hộ khẩu đối với những người ở trong nhà tập thể đó dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của cơ quan công an hoặc Uỷ ban hành chính xã, thị trấn sở tại.

Đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, khi có những người cư trú trong khu vực doanh trại của mình mà không thuộc biên chế của quân đội Thường trực, của công an, cũng có trách nhiệm cử người tiến hành việc đăng ký và quản lý hộ khẩu đối với những người đó dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của cơ quan công an hoặc Uỷ ban hành chính xã, thị trấn sở tại.

Điều 4: Việc đăng ký và quản lý hộ khẩu lấy hộ làm đơn vị. Một hộ gồm những người ăn ở chung với nhau trong một nhà riêng hoặc trong nhà tập thể của cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, trường học. Một người ăn ở riêng một mình cũng kể như một hộ.

Điều 5: Ở thành phố, thị xã, thị trấn thì đồn công an lập sổ hộ khẩu cho từng hộ trong khu vực mình phụ trách . Ở xã , thị trấn (nơi không có đồn công an) thì Uỷ ban hành chính xã, thị trấn lập sổ hộ khẩu cho từng hợp tác xã hoặc cho từng đội sản xuất trong các hợp tác xã quá lớn; ở nơi chưa có hợp tác xã thì lập sổ hộ khẩu cho từng xóm.

Những hộ còn làm ăn riêng lẻ được đăng ký chung một sổ hộ khẩu với hợp tác xã, đội sản xuất cùng thôn hoặc cùng xóm.

Các cơ quan, xí nghiệp, công trưòng, lâm trường, trường học ... lập sổ hộ khẩu ở mỗi khu nhà tập thể của mình dưới sự hướng dẫn và kiểm soát cảu cơ quan công an hoặc Uỷ ban hành chính xã, thị trấn sở tại.

Điều 6: Mỗi công dân phải đăng ký là nhân khẩu thường trú trong một hộ nhất định, hộ này là nơi ở thường xuyên của mình.

Điều 7: Khi trong hộ có trẻ em mới sinh, người chủ hộ hoặc một người trong hộ phải đăng ký hộ khẩu cho em đó tại Uỷ ban hành chính sở tại.

Điều 8: Khi trong hộ có người chết, nếu là ở thành phố, thị xã, thị trấn, thì trước lúc mai táng, nếu là ở nông thôn, thì trong thời hạn năm ngày, ngưòi chủ hộ hoặc một người trong hộ phải khai báo tại Uỷ ban hành chính sở tại.

Trong trường hợp người chết là người đến tạm trú trong hộ hoặc người chết vì tai nạn hay vì một nguyên nhân không rõ, thì người chủ hộ phải báo ngay với cơ quan công an hoặc Uỷ ban hành chính xã, thị trấn sở tại.

Điều 9: Khi cả hộ hoặc một người trong hộ chuyển chỗ ở trong phạm vi một xã, một thị trấn, một thị xã, một khu phố, một thành phố không chia thành khu phố, thì trước khi di chuyển chủ hộ hoặc đương sự phải báo cho cơ quan quản lý hộ khẩu nơi đó biết.

Điều 10: Khi cả hộ hoặc một người trong hộ, chuyển chỗ ở ra ngoài phạm vi nói ở điều 9 trên đây, thì chủ hộ hoặc đương sự phải lấy giấy "Chứng nhận chuyển đi" của cơ quan quản lý hộ khẩu nơi ở cũ của mình theo thủ tục như sau:

- Nếu chuyển chỗ ở đến một xã, thị trấn cùng trong một tỉnh hay thanh phố hoặc chuyển chỗ ở từ khu phố này đến khu phố khác cùng trong một thành phố thì giấy "Chứng nhận chuyển đi" do Uỷ ban hành chính xã, thị trấn, hoặc đồn công an cấp;

- Nếu chuyển đến một xã, thị trấn thuộc tỉnh khác thì giấy "Chứng nhận chuyển đi" do công an huyện hoặc đồn công an cấp;

- Nếu chuyển đến một thành phố, thị xã (kể cả vùng ngoại thành, ngoại thị) hoặc đến một xã, thị trấn giáp biên giới, bờ biển, giới tuyến quân sự tạm thời, hoặc đến những khu vực kinh tế, quốc phòng quan trọng do Bộ Công an và Bộ Quốc phòng đã hoặc sẽ quy định, thì "Giấy chứng nhận chuyển đi" do Sở Công an, Ty Công an cấp.

Điều 11: Trong trường hợp chuyển chỗ ở đến một thành phố, thị xã, thì khi đến đăng ký lấy giấy "Chứng nhận chuyển đi", đương sự phải đem theo một trong những giấy tờ sau đây:

- Giấy thuyên chuyển công tác;

- Giấy chứng nhận được tuyển dụng do cơ quan quản lý lao động ở thành phố, thị xã nơi chuyển đến cấp;

- Giấy chứng nhận trúng tuyển vào học các trường đại học hay trường chuyên nghiệp của thành phố, thị xã đó;

- Giấy "cho phép chuyển đến" do cơ quan công an của thànhphố, thị xã đó cấp.

Điều 12: Những người bị can án còn chờ xét xử, những người bị án mà chưa bị giam giữ, khi đến làm thủ tục để lấy giấy "Chứng nhận chuyển đi" phải có giấy của Viện kiểm sát nhân dân hay Toà án nhân dân cho phép chuyển chỗ ở.

Điều 13: Những người được tuyển vào quân đội thường trực trước khi nhập ngũ phải đem giấy gọi nhập ngũ đến báo cơ quan quản lý hộ khẩu để xoá tên trong sổ hộ khẩu.

Điều 14: Khi chuyển chỗ ở đến nơi mới, nếu là thành phố, thị xã, thị trấn thì trong thời hạn 3 ngày, nếu là ở nông thôn thì trong thời hạn năm ngày, người chủ hộ hoặc đương sự phải mang giấy "Chứng nhận chuyển đi" đến đăng ký tại cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại.

Điều 15: Khi có người ở địa phương khác (không kể những người ở cùng trong một xã, một thị trấn, một thị xã, một thành phố) tới tạm trú lại ban đêm trong hộ thì người chủ hộ hoặc một người trong hộ phải báo cho cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại biét trong thời hạn do Bộ Công an quy định riêng cho từng vùng.

Điều 16: Thời hạn tạm trú ở thành phố, thị xã nhiều nhất là ba tháng. Hết hạn ấy, nếu cần ở lại thêm thì đương sự phải xin gia hạn tại cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại.

Điều 17: Khi có những sự thay đổi số người trong hộ như: kết hôn, ly dị, trong hộ có người đi mất tích, chia một hộ ra nhiều hộ, hợp nhiều hộ thành một hộ v,v... thì chủ hộ hoặc một người trong hộ báo với cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại để đăng ký những sự thay đổi ấy.

Điều 18: Khi cần sửa đổi hoặc đính chính những điều ghi trong sổ hộ khẩu như: họ, tên, tuổi, nghề nghiệp ... thì chủ hộ hoặc một người trong hộ báo với cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại để cơ quan này thẩm tra và sửa chữa trong sổ hộ khẩu. Không người nào, cơ quan nào được tự tiện ghi thêm, tẩy xoá hoặc sửa chữa vào sổ hộ khẩu.

Điều 19: Mẫu sổ hộ khẩu và mẫu các giấy chứng nhận về quản lý hộ khẩu do Bộ Công an quy định.

Điều 20: Người nào vi phạm các thủ tục về đăng ký và quản lý hộ khẩu sẽ bị xử phạt theo điều lệ quản lý trị an.

Người nào khai man về hộ khẩu, làm giả, sửa chữa, cho mượn, mua bán giấy tờ chứng nhận về quản lý hộ khẩu, sẽ tuỳ trường hợp nặng, nhẹ mà bị xử phạt theo điều lệ quản lý trị an hoặc bị truy tố trước Toà án.

Điều 21: Điều lệ này thi hành kể từ ngày ban hành. Những điều quy định trước đây trái với điều lệ này đều bãi bỏ.