BỘ TƯ PHÁP******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 146-TP/NĐ

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 1946

BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Chiếu chỉ Sắc lệnh ngày14 tháng 02 năm 1946 tổ chức các tòa án quân sự;
Chiếu chỉ Sắc lệnh số 40 ngày 29 tháng 3 năm 1946 về bảo đảm tự do cá nhân;
Chiếu chỉ Nghị định số 82 ngày 25 tháng 02 năm 1946 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp vềtòa án quân sự;
Chiếu chỉ Nghị định số 125 ngày mồng 05 tháng 4 năm 1946 sửa đổi các điều 1 vàđiều 3 trong Nghị định số 82 nói trên,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều thứ nhất. – Điều 9 trong Nghị định số 82 ngày 25 tháng 02 năm 1946 naysửa đổi như sau này:

“Điều 9 mới. - Mỗi khi xẩy ramột việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòathì bất cứ ai cũng phải báo ngay cho ty công an hoặc nhà chức trách địa phươngbiết.

“Ty công an trình lên công cáoủy viên để hỏi huấn lệnh. Nếu việc cần kíp ông giám đốc công an có thể lãnhtrách nhiệm điều tra ngay trước khi nhận được huấn luyện của công cáo ủy viên.

“Ty công an khi mở cuộc điềutra, thu tập các tài liệu chứng cớ, hỏi các người làm chứng. Tất cả mọi hànhđộng đều phải vào biên bản lập hồ sơ kíp gửi lên công cáo ủy viên”.

Điều thứ 2. - Điều24 trong Nghị định số 82 ngày 25 tháng 2 năm 1946 nay sửa đổinhư sau này:

“Điều 24 mới. – Tám ngày sau mỗiphiên tòa ông chánh án tòa án quân sự phải gửi một bản sao những bản án đãtuyên bố về bộ Tư pháp.

“Cũng trong kỳ hạn ấy, sau mỗiphiên tòa công cáo ủy viên phải gửi riêng một tờ trình về Bộ Tư pháp về nhưngán đã tuyên và về tình hình dư luận cùng ý kiến riêng của mình”

Điều thứ 3. – Ông Đổng lý sự vụ Bộ Tư pháp chiếu Nghịđịnh thi hành.

BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP




Vũ Đình Hòe