HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

*******

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

*******

Số: 227-CP

Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 1979

NGHỊ ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH BẢN QUYĐỊNH VỀ CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP NHẰM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG XUẤTKHẨU

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ vào nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng vàcác nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng;
Để cụ thể hóa các nghị quyết, quyết định và chỉ thị của Chính phủ đã ban hànhnhằm tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa;
Theo đề nghị của đồng chí Bộ trưởng Bộ Ngoại thương;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp ngày 11 tháng 5năm 1979.

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1: - Nay ban hành kèm theo nghị định này bản Quyđịnh về chính sách và biện pháp nhằm khuyến khích phát triển sản xuất hàng xuấtkhẩu.

Điều 2: - Các điều quy định trong các văn bản ban hànhtrước đây trái với bản quy định này đều bãi bỏ.

Điều 3: - Các đồng chí Bộ trưởng, thủ trưởng các cơquan ngang Bộ và cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các đồng chí Chủ tịchỦy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Lê Thanh Nghị

BẢN QUY ĐỊNH

VỀ CHÍNH SÁCH VÀ BIỆNPHÁP NHẰM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU
(Ban hành kèm theo Nghị định số 227-CP ngày 21-06-1979 của Hội đồng Chínhphủ)

Căn cứ vào nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng và cácnghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng;

Để cụ thể hóa nghị quyết của Hội đồng Chính phủ số 280-CP ngày12-10-1977 và các quyết định, chỉ thị, thông tư đã được ban hành nhằm tăngnhanh nguồn xuất khẩu, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa;

Hội đồng Chính phủ quy định dưới đây chính sách và biện phápnhằm khuyến khích phát triển sản xuất hàng xuất khẩu.

I. ĐẦU TƯ ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU

Điều 1: - Nhằm phát huy mạnh mẽ tiềm lực kinh tế, mauchóng tạo ra nhiều nguồn hàng xuất khẩu chủ lực, Nhà nước tăng cường đầu tư vàocác ngành sản xuất, trước hết là nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai tháccác khoáng sản có trữ lượng lớn, các ngành công nghiệp nhẹ, tiểu công nghiệp,thủ công nghiệp và gia công hàng xuất khẩu trên nguyên tắc hiệu suất đầu tưtương đối cao, thời gian xây dựng và mở rộng cơ sở tương đối nhanh.

Điều 2: - Nhà nước chú trọng đầu tư theo chiều sâu bằngcách bổ sung thiết bị, hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, mở rộng hoặc cải tạonhững xí nghiệp hiện có, đồng thời đầu tư theo chiều rộng bằng việc xây dựngcác cơ sở chuyên sản xuất hàng xuất khẩu với khối lượng lớn, chất lượng cao,chú trọng tạo nên những mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thị trường ổn định và lâudài. Coi trọng trước hết việc phát triển nông nghiệp nhiệt đới, lâm nghiệp,việc khai thác hải sản và những nguồn khoáng sản có trữ lượng tương đối dồidào, những ngành công nghiệp và thủ công nghiệp có kỹ thuật truyền thống hoặccó điều kiện đào tạo nhanh công nhân.

Điều 3: - Trong việc đầu tư vào các ngành sản xuất hàngxuất khẩu, phải đầu tư đồng bộ trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, chútrọng các khâu từ sản xuất đến vận chuyển, chế biến; trong công nghiệp, chútrọng cả khâu sản xuất chính và các khâu phụ trợ; đi đôi với việc phát triểnsản xuất các sản phẩm, phải đầu tư về cả phương tiện đóng gói và bao bì, khobảo quản hàng hóa, đặt biệt là kho chuyên dùng; chú trọng phát triển vận tải đểphục vụ xuất khẩu.

Điều 4: - Nguồn vốn đầu tư, tùy theo ngành sản xuất vàloại sản phẩm, có thể là vốn trong nước hoặc vốn bằng ngoại tệ bao gồm vốn vaynợ, vốn đầu tư của nước ngoài qua hình thức hợp tác kinh tế. Nếu đầu tư bằngvốn vay nợ, thì đơn vị sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm thanh toán toàn bộ sốngoại tệ vay bằng hàng xuất khẩu của mình trong một thời hạn nhất định. (Trongtrường hợp một phần hàng của cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu được dùng để đáp ứngnhu cầu trong nước, thì sẽ xem xét riêng). Ngân hàng ngoại thương chịu tráchnhiệm huy động vốn vay ngắn hạn và trung hạn của nước ngoài vào mục đích đầu tưcho xuất khẩu. Các tổ chức ngoại thương cần nghiên cứu mở rộng hình thức hợptác gia công để nhập các thiết bị, nguyên liệu, vật liệu và thanh toán bằng cácsản phẩm xuất khẩu.

Đối với những cơ sở xây dựng mà thời hạn trả nợ có thể dàihơn, thì phải dùng hình thức hợp tác kinh tế với nước ngoài theo chương IItrong Điều lệ đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam.

Điều 5: - Ủy ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Ngoại thương, BộTài chính, Ngân hàng Nhà nước, các Bộ chủ quản và Ủy ban nhân dân các cấp cótrách nhiệm căn cứ vào phương hướng phát triển nền kinh tế quốc dân, phươnghướng xuất khẩu, xác định chủ trương đầu tư nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong kếhoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn.

Điều 6: - Ban xuất khẩu của Hội đồng Chính phủ thànhlập theo quyết định số 178-TTg ngày 15-04-1977 (do đồng chí Bộ trưởng Bộ Ngoạithương làm trưởng ban) có trách nhiệm nghiên cứu và kiến nghị với Chính phủ cácdự án, chủ trương và biện pháp cụ thể về đầu tư để đẩy mạnh sản xuất hàng xuấtkhẩu.

II. CUNG ỨNG NGUYÊN LIỆU VÀ VẬT TƯ NHẬP KHẨU CHO CÁC CƠ SỞSẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU

Điều 7: - Để bảo đảm thực hiện kế hoạch sản xuất cácmặt hàng xuất khẩu, Nhà nước sẽ cung ứng cho các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩucác nguyên liệu và vật tư cần thiết. Nếu các nguyên liệu và vật tư đó chưa đượcsản xuất ở trong nước, thì Nhà nước sẽ bảo đảm nguồn hàng nhập khẩu.

Điều 8: - Các đơn vị được bảo đảm cung ứng tư liệu sảnxuất (nói trong điều 7) là:

- Các cơ sở quốc doanh được giao chỉ tiêu xuất khẩu;

- Các hợp tác xã trồng cây xuất khẩu theo quy định, kế hoạchcủa Nhà nước và bán sản phẩm cho Nhà nước trên cơ sở hợp đồng kinh tế hai chiều;

- Các hợp tác xã tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp sản xuấthàng xuất khẩu trên cơ sở hợp đồng kinh tế hai chiều, nếu được giao nguyênliệu, phải bán lại toàn bộ sản phẩm cho tổ chức ngoại thương.

Điều 9:- Trong trường hợp việc nhập khẩu các vật tưkhông bảo đảm yêu cầu chung của sản xuất, thì các đơn vị được giao nhiệm vụ sảnxuất hàng xuất khẩu (nói trong điều 8) sẽ được ưu tiên cung ứng các vật tư kểtrên.

Điều 10: - Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Ngoại thương,Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, và các Bộ quản lý ngành kinh tế-kỹ thuật cótrách nhiệm cân đối các vật tư cho kế hoạch sản xuất hàng xuất khẩu (kể cả vậttư nhập khẩu) và phải bảo đảm ngoại tệ cần thiết để nhập các vật tư đó.

Điều 11: - Bộ Nông nghiệp, Bộ Ngoại thương có tráchnhiệm cùng với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước căn cứ vào số lượng phân bón hóa học vàvật tư thực tế nhập khẩu, ấn định mức cung ứng phân bón hóa học và vật tư chotừng vùng chuyên canh cây xuất khẩu, trên tinh thần ưu tiên như đã quy định ởđiều 9.

III. CHÍNH SÁCH LƯƠNG THỰC ĐỐI VỚI CÁC HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤTHÀNG XUẤT KHẨU

Điều 12:- Các hợp tác xã trồng cây xuất khẩu ở nhữngvùng chuyên canh cây xuất khẩu được hưởng chế độ cung ứng lương thực như cáchợp tác xã trồng cây công nghiệp, theo các quy định trong chỉ thị số 125-TTgngày 27-3-1971 của Thủ tướng Chính phủ (mức cung cấp lương thực theo đầu tấnbán nông sản).

Điều 13: - Trong trường hợp có khó khăn về lương thực,Ủy ban nhân dân huyện hoặc tỉnh không bảo đảm hoặc chỉ bảo đảm cung ứng mộtphần lương thực, thì Nhà nước sẽ bổ sung, nhưng địa phương phải dùng số lươngthực được Nhà nước bổ sung để cung ứng cho những hợp tác xã và vùng chuyên canhcây xuất khẩu cũng như vùng khai thác lâm sản, hải sản chuyên dành cho xuấtkhẩu. Địa phương không được dùng số lương thực này (cùa Nhà nước bổ sung) vàoviệc khác.

Điều 14: - Bộ Lương thực và thực phẩm, Bộ Ngoại thươngcó trách nhiệm bàn với các Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh có liên quan để ấnđịnh mức cung ứng lương thực hàng năm cho những hợp tác xã ở những vùng chuyêncanh cây xuất khẩu và những vùng khai thác lâm sản chuyên dành cho xuất khẩu;khi ấn định mức cung ứng lương thực này, phải căn cứ vào tình hình cân đốilương thực của Nhà nước, của từng địa phương và yêu cầu hợp lý của từng vùng,Ủy ban nhân dân các tỉnh phải có biện pháp bảo đảm thực hiện đúng mức đã ấnđịnh.

IV. CHO VAY NGOẠI TỆ ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU

Điều 15: - Nhằm giải quyết các yêu cầu đột xuất trongsản xuất hàng xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh ngoạithương, tăng nhanh khối lượng hàng xuất khẩu và tăng thu ngoại tệ cho Nhà nước,các ngành kinh tế, các cơ sở sản xuất và các tổ chức ngoại thương được vayngoại tệ để đẩy mạnh sản xuất và gia công hàng xuất khẩu, để kinh doanh chuyểnkhẩu, kể cả việc lợi dụng thời giá thị trường và kinh doanh các loại hàng tiêudùng cao cấp bán lấy ngoại tệ cao hơn số ngoại tệ đã chi.

Điều 16: - Thực hiện chủ trương ghi ở điều 15, ngânhàng ngoại thương được thành lập quỹ ngoại tệ đặc biệt để cho vay sản xuất hàngxuất khẩu (gọi tắt là quỹ ngoại tệ xuất khẩu).

Nguồn vốn của quỹ ngoại tệ xuất khẩu gồm:

- Vốn tự có của ngân hàng;

- Vốn ngân hàng vay nước ngoài;

- Ngoại tệ của Nhà nước bổ sung cho quỹ bằng khoản trích 5%kim ngạch xuất khẩu hàng năm;

- Lãi ngân hàng thu được từ việc cho vay phục vụ xuất khẩu.

Điều 17: - Các đơn vị sản xuất, kinh doanh, các tổ chứcngoại thương chỉ được vay của quỹ ngoại tệ xuất khẩu, để sử dụng vào các mụcđích ghi ở điều 15 và với điều kiện trả vốn và lãi cho ngân hàng đúng kỳ hạn,tăng thu ngoại tệ cho Nhà nước.

Điều 18: - Cách thức vay và trả quỹ ngoại tệ xuất khẩuđể sản xuất hàng xuất khẩu được quy định như sau:

1. Đối với hàng xuất khẩu cho thị trường xã hội chủ nghĩa(chưa ghi vào kế hoạch xuất khẩu) hoặc sản xuất vượt chỉ tiêu kế hoạch (gọi tắtlà hàng xuất khẩu ngoài kế hoạch), các đơn vị sản xuất, kinh doanh hoặc tổ chứcngoại thương được vay của quỹ ngoại tệ xuất khẩu để nhập các nguyên liệu, vậttư cần thiết cho sản xuất với điều kiện được Bộ Ngoại thương xác nhận các mặthàng ấy có thể đổi được nguyên liệu, vật tư có giá trị ngoại tệ của các nước xãhội chủ nghĩa, trị giá gấp hai lần số ngoại tệ tư bản chủ nghĩa đã vay của quỹngoại tệ xuất khẩu.

Trong trường hợp này, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính,Ngân hàng Nhà nước và Bộ Ngoại thương có trách nhiệm điều chỉnh chỉ tiêu nhậpkhẩu nguyên liệu, vật tư của thị trường tư bản chủ nghĩa hoặc cân đối lại kếhoạch thu chi của Nhà nước về ngoại tệ tư bản chủ nghĩa cho phù hợp.

2. Đối với các mặt hàng đã ghi vào kế hoạch xuất khẩu cho thịtrường tư bản chủ nghĩa, Nhà nước bảo đảm cung ứng nguyên liệu và vật tư (theocác quy định của chương II), nhưng nếu gặp trường hợp Nhà nước thiếu ngoại tệđể nhập khẩu, thì các đơn vị sản xuất, kinh doanh hoặc tổ chức ngoại thươngđược vay của quỹ ngoại tệ xuất khẩu để nhập nguyên liệu, vật tư cần thiết chosản xuất.

3. Đối với hàng xuất khẩu ngoài kế hoạch cho thị trường tư bảnchủ nghĩa, các đơn vị sản xuất, kinh doanh hoặc tổ chức ngoại thương, được vaycủa quỹ ngoại tệ xuất khẩu với lãi suất thị trường để nhập nguyên liệu, vật tưcần thiết cho sản xuất với điều kiện được Bộ Ngoại thương xác nhận là có hiệuquả kinh tế.

4. Việc phân phối và sử dụng ngoại tệ thu được do xuất khẩungoài kế hoạch được quy định như sau:

- Trả vốn và lãi cho ngân hàng;

- 30% ngoại tệ còn lại được bổ sung cho quỹ ngoại tệ xuất khẩu;

- 70% cho đơn vị sản xuất, kinh doanh sử dụng theo hình thứcthưởng “quyền sử dụng ngoại tệ”.

Trong trường hợp tổ chức ngoại thương đứng ra vay để tổ chứcsản xuất hàng xuất khẩu ngoài kế hoạch, thì sau khi trả vốn, lãi cho ngân hàng,số ngoại tệ còn lại được bổ sung cho quỹ ngoại tệ xuất khẩu và nộp cho Nhà nước.

Điều 19: - Thể thức vay và trả quỹ ngoại tệ xuất khẩuđể kinh doanh ngoại thương được quy định như sau:

1. Công ty ngoại thương được vay của quỹ ngoại tệ xuất khẩu đểkinh doanh chuyển khẩu hoặc lợi dụng thời giá của thị trường để mua vào bán ra,với điều kiện được Bộ Ngoại thương xác nhận là có hiệu quả kinh tế.

2. Công ty ngoại thương, Công ty du lịch, Công ty cung ứng tàubiển, Tổng cục hàng không dân dụng cũng được vay của quỹ ngoại tệ xuất khẩu đểnhập hàng tiêu dùng cao cấp, bán cho khách nước ngoài lấy ngoại tệ tư bản chủnghĩa theo danh mục hàng nhập khẩu do Bộ Ngoại thương quy định. Sau khi các côngty kể trên trả vốn và lãi cho ngân hàng, số ngoại tệ còn lại được bổ sung choquỹ ngoại tệ. Trong trường hợp đặt biệt được Thủ tướng Chính phủ cho phép, cáccông ty kể trên cũng có thể giữ lại 70% ngoại tệ còn lại để sử dụng theo hìnhthức thưởng “quyền sử dụng ngoại tệ”.

Điều 20: - Trong các trường hợp áp dụng điều 19, nếu tổchức ngoại thương có thể mua chịu được nguyên liệu, vật liệu của thương nhânnước ngoài (nhưng phải có bảo lĩnh của ngân hàng), thì ngân hàng ngoại thươngchịu trách nhiệm bảo lĩnh.

Điều 21: - Trong trường hợp Nhà nước chưa có ngoại tệphân phối cho Bộ Ngoại thương để nhập các vật tư tác động vào sản xuất hàngxuất khẩu theo các quy định ở điều 25 của chương V, Bộ Ngoại thương chỉ đạo cáctổng công ty xuất nhập khẩu vay của quỹ ngoại tệ xuất khẩu để nhập các vật tưđó, và phải trả lại ngân hàng sau khi hàng đã xuất và thu được ngoại tệ. Trongtrường hợp này, các cơ quan có trách nhiệm phải cân đối lại kế hoạch thu chingoại tệ như trong điều 18 đã quy định.

V. KHUYẾN KHÍCH CÁC HỢP TÁC XÃ VÀ CÁC HỘ SẢN XUẤT Ở NHỮNGVÙNG KHÔNG CHUYÊN CANH, NHỮNG VÙNG KHAI THÁC LÂM SẢN PHÂN TÁN BÁN SẢN PHẨM XUẤTKHẨU CHO NHÀ NƯỚC

Điều 22: - Các hợp tác xã, các tập đoàn sản xuất hoặchộ nông dân riêng lẻ ở những vùng nông nghiệp không chuyên canh và những vùngkhai thác lâm sản phân tán không thuộc diện được hưởng chế độ cung ứng lươngthực và vật tư sản xuất quy định trong các chương II và III, có sản phẩm nôngsản, lâm sản xuất khẩu bán cho Nhà nước, thì được Nhà nước khuyến khích vậtchất bằng cách bán lại một số lương thực, vật tư sản xuất hoặc hàng tiêu dùngtrị giá từ 5% đến 20% giá trị sản phẩm xuất khẩu đã bán cho Nhà nước, tùy theotừng loại sản phẩm.

Định mức hàng hóa, vật tư bán khuyến khích cho từng loại sảnphẩm do Bộ Ngoại thương cùng với các Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh có sản phẩmquy định phù hợp với khả năng cung ứng của Nhà nước.

Điều 23: - Các loại nông sản, lâm sản xuất khẩu thuộcdiện Nhà nước khuyến khích (ghi trong điều 22) gồm:

1. Nông sản ngắn ngày: gạo đặc sản, lạc nhân, vừng, đậutương, đậu đen, dứa, chuối, ớt, tỏi, thuốc lá, đay, cói, thầu dầu, các loạitinh dầu…

2. Cây dài ngày: cà-phê, chè, hồ tiêu, cam, bưởi…

3. Sản phẩm chăn nuôi: gà, vịt, lợn sữa (lợn thịt và bò đượcquy định riêng).

4. Lâm sản: cánh kiến đỏ, cánh kiến trắng, hoa hồi, quế, thảoquả, sa nhân, ba kích…

5. Cây thuốc: (có quy định riêng).

Điều 24: - Phương thức bán khuyến khích (ghi trong điều22) do Bộ Ngoại thương cùng với các bộ có liên quan quy định.

Giá thu mua nông sản của các hợp tác xã, hộ sản xuất và giábán vật tư cho các hợp tác xã, hộ sản xuất do Nhà nước quy định.

Điều 25: - Để có vật tư bán khuyến khích cho các hợptác xã và hộ sản xuất hàng xuất khẩu, Nhà nước phân phối cho Bộ Ngoại thương sốvật tư cần thiết để lập một quỹ hàng hóa đặc biệt gọi là quỹ hàng hóa khuyếnkhích hàng xuất khẩu. Ngoài số vật tư sản xuất ở trong nước, Bộ Ngoại thươngđược Nhà nước phân phối ngoại tệ để nhập các vật tư cần thiết nhằm bổ sung quỹhàng hóa khuyến khích xuất khẩu.

Bộ Ngoại thương có trách nhiệm quản lý và sử dụng quỹ hàng hóakể trên theo đúng chế độ của Nhà nước; Ủy ban nhân dân các tỉnh và các ngànhcung ứng hàng xuất khẩu có nhiệm vụ tổ chức bảo quản và bán các hàng hóa khuyếnkhích cho các hợp tác xã và hộ sản xuất hàng xuất khẩu theo đúng đối tượng đượcquy định trong điều 22 và theo sự hướng dẫn, kiểm soát của Bộ Ngoại thương.

VI. CHÍNH SÁCH VỀ GIÁ THU MUA SẢN PHẨM XUẤT KHẨU

Điều 26: - Để phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, Nhànước có chính sách thu mua khuyến khích đúng mức đối với sản phẩm xuất khẩu nhằmđộng viên các đơn vị sản xuất tích cực tạo ra nhiều nguồn hàng xuất khẩu (nhấtlà nguồn hàng chủ lực) có khối lượng lớn, giá trị cao đồng thời góp phần tạo rasức hấp dẫn của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới.

Giá thu mua hàng xuất khẩu thuộc hệ thống giá cả chung trongnước, nhưng do hàng xuất khẩu đòi hỏi tiêu chuẩn và phẩm chất cao hơn, hìnhdáng đẹp hơn, bao bì đóng gói kỹ hơn, nên khi định giá, cần có mức chênh lệchhợp lý để khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu.

Điều 27: - Đối với sản phẩm công nghiệp xuất khẩu, khiđịnh giá thành sản xuất, ngoài chế độ tính giá thành của Nhà nước quy định,phải xét đến mọi yếu tố sản xuất để tạo mặt hàng xuất khẩu đạt tiêu chuẩn quốctế, có tính đến chất lượng của các nguyên liệu và vật tư được sử dụng, tínhnăng của các thiết bị sử dụng để bảo đảm kỹ thuật sản xuất, thời gian lao độngcần thiết của những công nhân có tay nghề giỏi, chi phí nghiên cứu khoa học-kỹthuật mà đơn vị sản xuất đã lo liệu để làm mặt hàng (hoặc chi phí mua bằng sángchế phát minh, mua bí quyết kỹ thuật của nước ngoài) và có trách nhiệm củangười quản lý…

Điều 28: - Đối với nông sản xuất khẩu, khi định giá thumua, trên cơ sở vận dụng chính sách về giá nông sản của Nhà nước, cần xác địnhmức chênh lệch thích đáng đối với các sản phẩm phải chọn lọc, chế biến để đạttiêu chuẩn xuất khẩu.

Đối với các vùng chuyên canh cây xuất khẩu theo quy hoạch vàkế hoạch của Nhà nước, khi định giá thu mua sản phẩm xuất khẩu, cần tính đếncác khoản mà Nhà nước đã đầu tư, các tư liệu sản xuất, lương thực và hàng tiêudùng do Nhà nước cung ứng (thông qua hợp đồng kinh tế hai chiều) và các khoảntiền thưởng áp dụng theo các quy định của chương I, II, III, V và VIII của bảnquy định này, đồng thời phải bảo đảm cho người chuyên trồng cây xuất khẩu có thunhập cao hơn so với người trồng các cây khác ở địa phương, với mức thích đáng.

Điều 29: - Đối với các sản phẩm xuất khẩu khác (lâmsản, hải sản, hàng tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp), phải căn cứ vào tínhchất và đặc điểm của từng ngành nghề, xác định giá thu mua, trên nguyên tắc làbù đắp giá thành đầy đủ và hợp lý, dành cho hàng xuất khẩu mức lãi cao hơn sovới hàng tiêu thụ trong nước và đặc biệt khuyến khích các sản phẩm đạt tiêuchuẩn xuất khẩu cao.

Điều 30: - Bộ Ngoại thương, Ủy ban Vật giá Nhà nước vàcác cơ quan có trách nhiệm quản lý và quyết định giá cần vận dụng các nguyêntắc kể trên vào việc định giá từng loại hàng xuất khẩu, kiểm tra và xem xétngay những giá cần điều chỉnh để kịp thời khuyến khích sản xuất phục vụ xuấtkhẩu.

VII. CHẾ ĐỘ THUẾ VÀ BÙ LỖ ĐỐI VỚI CÁC SẢN PHẨM XUẤT KHẨU

Điều 31: - Để đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu, đồngthời để tăng sức hấp dẫn của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới,các sản phẩm xuất khẩu được miễn thu quốc doanh, thuế hàng hóa và mọi khoản thuphí kinh tế khác.

Xí nghiệp sản xuất giao hàng cho ngành ngoại thương theo giábán buôn công nghiệp như đối với khách tiêu thụ trong nước; khi xuất khẩu, cóchứng từ xác nhận, thì cơ quan tài chính sẽ hoàn lại các khoản thu.

Điều 32: - Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn việcthi hành điều 31.

Điều 33: - Đối với những hàng xuất khẩu bị lỗ, Hội đồngChính phủ cho phép Bộ Ngoại thương bàn với Bộ Tài chính và được quyết định bùlỗ đến mức 50% so với giá thành xuất khẩu, nếu hàng đó bán lấy ngoại tệ chuyểnđổi; nếu là hàng xuất khẩu qua đường Clearing, thì được bù lỗ đến mức 30%. Đốivới các trường hợp phải bù lỗ vượt các mức quy định kể trên, phải trình Thườngvụ Hội đồng Chính phủ xét và quyết định. Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, BộNgoại thương, Ủy ban Vật giá Nhà nước có trách nhiệm xác định tỷ giá hợp lýgiữa các đồng tiền nước ngoài với đồng ngân hàng, trình Chính phủ quyết địnhkịp thời để có cơ sở tính thu bù lỗ, lãi của hàng xuất khẩu và giá vốn của hàngnhập khẩu sát với thực tế. Khi quyết định mức bù lỗ, Bộ Ngoại thương phải chú ýđến những lợi ích khuyến khích vật chất về quyền được sử dụng ngoại tệ và cáclợi ích khác mà chính sách của Nhà nước đã ưu đãi các ngành và các đơn vị làmhàng xuất khẩu.

VIII. CHẾ ĐỘ THƯỞNG KHUYẾN KHÍCH SẢN XUẤT VÀ GIAO HÀNG XUẤTKHẨU

Điều 34: - Thưởng khuyến khích sản xuất và giao hàngxuất khẩu gồm hai loại:

- Thưởng bằng tiền Việt Nam nhằm tăng thêm cho 3 quỹ trích lậptheo thông tư số 165-TTg ngày 21-3-1978 của Thủ tướng Chính phủ;

- Thưởng bằng quyền được sử dụng ngoại tệ (theo quyết định số151-CP ngày 01-07-1974 để nhập những tư liệu sản xuất nhằm mở rộng sản xuấthàng xuất khẩu và trong những trường hợp đặc biệt (cơ sở lao động nặng nhọc, cơsở ở miền núi) để nhập một số hàng tiêu dùng thật cần thiết.

Điều 35: - Điều kiện được thưởng đối với các đơn vị sảnxuất là phải hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước. Đối tượngđược thưởng khuyến khích là các liên hiệp xí nghiệp, công ty chuyên ngành, xínghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh và hợp tác xã sản xuất đã thựchiện đầy đủ hợp đồng giao hàng xuất khẩu ký với các tổ chức ngoại thương. Căncứ vào các chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu của Nhà nước, Bộ Ngoại thương theo dõi,tính toán mức thưởng kể trên và trực tiếp thưởng cho các liên hiệp xí nghiệp,công ty chuyên ngành, xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh và hợptác xã sản xuất.

Điều 36: - Các sản phẩm được thưởng khuyến khích tùytheo nhu cầu của thị trường thế giới và điều kiện sản xuất trong nước, hàng nămđược sắp xếp thứ tự ưu tiên và do Bộ Ngoại thương quyết định.

Điều 37: - Nhà nước khuyến khích các cơ sở xây dựng kếhoạch cao và đăng ký cao hơn chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước.

Cơ sở sản xuất đăng ký cao phải ghi rõ số lượng sản phẩm giaothêm cho xuất khẩu và vượt kế hoạch Nhà nước giao. Những sản phẩm giao thêmphải đúng tiêu chuẩn xuất khẩu ký với Tổng công ty xuất nhập khẩu.

Mức thưởng bằng tiền Việt Nam được quy định như sau:

a) Đối với sản phẩm qua chế biến hoặc sản phẩm làm bằng nguyênliệu trong nước:

Trong trường hợp đơn vị sản xuất thực hiện hợp đồng giao hàng,đạt chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, được thưởng từ 2% đến 5% giá trị của hợp đồng.

Trong trường hợp cơ sở thực hiện vượt mức hợp đồng, vượt chỉtiêu kế hoạch Nhà nước, được thưởng từ 3% đến 5% giá trị hàng giao vượt mức.

Trong trường hợp đơn vị sản xuất đăng ký giao hàng cao hơn chỉtiêu kế hoạch Nhà nước đối với phần giao hàng vượt chỉ tiêu kế hoạch Nhà nướcvà trong phạm vi mức đăng ký cao (được các tổng công ty xuất nhập khẩu xácnhận), thì được thưởng từ 6% đến 8% trị giá hàng giao thêm, tùy theo loại hàng.

Đối với phần giao hàng vượt mức đăng ký cao (được các Tổngcông ty xuất nhập khẩu xác nhận), thì được thưởng từ 3% đến 5% trị giá hànggiao vượt mức đăng ký.

b) Đối với sản phẩm được sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu(kể cả hàng gia công).

Các trường hợp đạt kế hoạch, vượt kế hoạch, thực hiện mức đăngký cao, vượt mức đăng ký cao được thưởng như đối với các trường hợp ghi trongđiểm a của điều 37, sau khi đã trừ giá trị của vật tư nhập khẩu.

c) Khi định mức thưởng cho từng mặt hàng, vừa phải căn cứ vàosố lượng, vừa phải xét đến phẩm chất hàng đã giao, vừa phải đối chiếu với tỷ lệbù lỗ mà Nhà nước phải chi về mặt hàng đó.

Điều 38: - Mức thưởng quyền được sử dụng ngoại tệ đượcquy định như sau:

a) Trong trường hợp cơ sở thực hiện đầy đủ hợp đồng giao hàngtheo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, được thưởng không quá 5% ngoại tệ thực thu,sai khi trừ giá trị của vật tư nhập khẩu tính bằng ngoại tệ, tùy theo cơ cấuhàng đã giao.

b) Trong trường hợp cơ sở thực hiện mức đã đăng ký cao hơn chỉtiêu kế hoạch Nhà nước, được thưởng về phần vượt kế haọch và trong phạm vi mứcđã đăng ký cao từ 30% đến 50% số ngoại tệ thực thụ, sau khi trừ giá trị của vậttư nhập khẩu tính bằng ngoại tệ. Đối với phần giao hàng vượt mức đăng ký cao,thì được thưởng không quá 5% ngoại tệ thực thụ, sau khi trừ giá trị của vật tưnhập khẩu tính bằng ngoại tệ.

Điều 39: - Nguồn tiền thưởng.

a) Nguồn thưởng bằng tiền Việt Nam được quy định bằng 2% giáthu mua hàng xuất khẩu. Khi xây dựng kế hoạch xuất khẩu hàng năm, Bộ Ngoạithương có nhiệm vụ dự trù khoản tiền thưởng này và báo cáo với Bộ Tài chính đểtổng hợp vào ngân sách Nhà nước. Hàng năm, Bộ Ngoại thương phải quyết toán vớiBộ Tài chính vế số tiền thưởng này.

b) Nguồn thưởng bằng quyền được sử dụng ngoại tệ: hàng năm,khi cân đối kế hoạch xuất nhập khẩu, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước dành ra 5% kếhoạch thu ngoại tệ về hàng xuất khẩu (sau khi đã trừ giá trị của vật tư nhậpkhẩu) để thưởng cho các đơn vị sản xuất. Nếu số ngoại tệ được dành ra chưa sửdụng hết trong năm kế hoạch, thì được chuyển sang năm sau để sử dụng vào hìnhthức thưởng này.

Điều 40: - Nguyên tắc sử dụng tiền thưởng bằng tiềnViệt Nam được quy định như sau:

a) Đối với các đơn vị sản xuất quốc doanh và công tư hợpdoanh: sử dụng theo chế độ 3 quỹ (quy định trong thông tư số 165-TTg ngày21-3-1978 của Thủ tướng Chính phủ).

b) Đối với các hợp tác xã, Bộ Ngoại thương và Bộ Tài chính bànvới liên hiệp xã về cách sử dụng.

Điều 41: - Các đơn vị sản xuất được thưởng quyền đượcsử dụng ngoại tệ chỉ được sử dụng số ngoại tệ được thưởng để nhập các loại vậttư (nói trong điều 34) nhằm phát triển và mở rộng sản xuất hàng xuất khẩu vàphải tuân theo các nguyên tắc, thủ tục nhập khẩu hiện hành.

Điều 42: - Căn cứ vào các điều 36, 37, Bộ Ngoại thươngcùng với Bộ Tài chính xem xét và quyết định mức thưởng cho các đơn vị sản xuấtvà tỷ lệ thưởng cho các đơn vị cung cấp nguyên liệu, bao bì.

Cách thưởng được quy định như sau:

a) Thưởng bằng tiền Việt Nam, tổ chức ngoại thương cấp tiềnthưởng cho đơn vị sản xuất,sau khi hợp đồng giao hàng được hoàn thành.

b) Thưởng bằng quyền được sử dụng ngoại tệ, cuối năm kế hoạch,căn cứ vào tình hình thực hiện hợp đồng giao hàng xuất khẩu của các đơn vị sảnxuất, Bộ Ngoại thương quyết định số ngoại tệ mà các đơn vị được sử dụng và phânphối cho đơn vị sản xuất.

Điều 43: - Các liên hiệp xí nghiệp, công ty chuyênngành, xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh và hợp tác xã khônghoàn thành hợp đồng giao hàng, nếu không có lý do chính đáng, vừa bị xử phạttheo hợp đồng kinh tế, vừa phải giao bù số lượng sản phẩm còn thiếu vào nămsau. Riêng đối với các xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh, Bộ Tài chínhcùng với bộ chủ quản phải tính đế yếu tố này khi xét thưởng các đơn vị trongcuối năm.

IX. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 44: - Căn cứ vào bản quy định này, Bộ Ngoại thương,Bộ Tài chính Ngân hàng Nhà nước, các Bộ và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, trong phạmvi chức năng của mình, có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn việc thihành. Các đồng chí thủ trưởng các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộcHội đồng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương chịu trách nhiệm thi hành bản quy định này.

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG



Lê Thanh Nghị