NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘIĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 253-HĐBT NGÀY 6 THÁNG 7 NĂM 1992 VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ,QUYỀN HẠN VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
CỦA HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Luật Tổ chứcHội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;

Để tăng cường công tácđào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức hành chính Nhà nước phù hợp với yêu cầucải cách bộ máy Nhà nước và cải cách nền hành chính quốc gia;

Xét đề nghị của Hiệutrưởng trường Hành chính quốc gia (Công văn số 178-HCQG, ngày 22 tháng 5 năm1992), và Bộ trưởng Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ (số 334-TCCP,ngày 2 tháng 6 năm 1992),

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Nay đổi tên trường Hành chínhquốc gia thành Học viên Hành chính quốc gia.

Học viện Hành chính quốc gia chịu sự quản lý trực tiếp củaHội đồng Bộ trưởng, là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính Nhànước và nghiên cứu khoa học hành chính Nhà nước.

Điều 2. Học viện Hành chính quốc gia cónhiệm vụ, quyền hạn:

1. Đào tạo dài hạn công chức hành chính Nhà nước từ cấpchuyên viên trở lên; bồi dưỡng ngắn hạn kiến thức quản lý Nhà nước cho cán bộcao cấp và trung cấp đương chức.

2. Nghiên cứu khoa học về hành chính Nhà nước để phục vụgiảng dạy của Học viện và kiến nghị với Hội đồng Bộ trưởng những luận cứ khoahọc, thực tiễn để Hội đồng Bộ trưởng quyết định chủ trương, biện pháp cải cáchnền hành chính quốc gia.

3. Tham gia với Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ xây dựngphương án trình Chính phủ:

a) Phương hướng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về bồidưỡng và đào tạo công chức Nhà nước.

b) Quy chế tuyển sinh, quy chế bổ nhiệm học viên tốt nghiệpvào ngạch công chức, quy chế về nghĩa vụ và quyền lợi của học viên.

4. Xây dựng và trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy chếgiảng dạy, học tập và thi tốt nghiệp.

5. Xây dựng và thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế với cáchọc viện, Trường Hành chính các nước, các tổ chức quốc tế theo quy định của Hộiđồng Bộ trưởng.

6. Hướng dẫn và kiểm tra các trường Hành chính địa phươngcấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và khu vực về chương trình, nội dung,phương pháp giảng dạy, quy chế thi cử và cấp bằng; đào tạo và bồi dưỡng đội ngũgiảng viên các trường Hành chính địa phương và khu vực.

7. Xây dựng và quản lý đội ngũ giảng viên (kể cả giảng viênkiêm chức) và cơ sở vật chất kỹ thuật của Học viện.

8. Học viện Hành chính quốc gia được nhận các văn bản, tàiliệu và các thông tin cần thiết của Hội đồng Bộ trưởng và các Bộ, cơ quan trựcthuộc Hội đồng Bộ trưởng; được yêu cầu các Bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồngBộ trưởng cử người tham gia giảng dạy, nhận và giúp đỡ học sinh thực tập, phốihợp trong công tác nghiên cứu khoa học hành chính Nhà nước.

Điều 3. Học viện Hành chính quốc gia cóhai hệ:

1. Hệ đào tạo công chức hành chính Nhà nước từ cấp chuyênviên trở lên, tuyển chọn từ công chức trong bộ máy Nhà nước và những người đãtốt nghiệp đại học các ngành khác có năng khiếu về hành chính. Học viên tuyểnvào học dài hạn phải qua kỳ thi theo quy chế tuyển sinh của Nhà nước; khi tốtnghiệp được bổ nhiệm vào ngạch bậc theo quy chế công chức.

2. Hệ bồi dưỡng công chức cao cấp và trung cấp hành chínhNhà nước đương chức gồm: các Thứ trưởng, Vụ trưởng, Vụ phó và chuyên viên cótrình độ tương đương, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương và huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh.

Điều 4. Học viện Hành chính quốc gia domột Giám đốc Học viện lãnh đạo. Giúp việc Giám đốc Học viện có các Phó Giámđốc.

Tổ chức bộ máy Học viện Hành chính quốc gia gồm có:

1- Ban Giáo vụ,

2- Ban Tổ chức - cán bộ,

3- Ban Hợp tác quốc tế,

4- Trung tâm thông tin - tư liệu - thư viện và xuất bản,

5- Các khoa, bộ môn,

6- Viện nghiên cứu hành chính,

7- Văn phòng.

Cán bộ lãnh đạo và cán bộ phụ trách các đơn vị trực thuộcHọc viện được bổ nhiệm và hoạt động theo quy chế chung như các cơ quan thuộcHội đồng Bộ trưởng.

Điều 5. Học viện Hành chính quốc gia làcơ quan có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Nguồn kinh phí dongân sách Nhà nước cấp.

Học viện Hành chính quốc gia đóng trụ sở tại Hà Nội, và cócơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 7. Nghị định này có hiệu lực kể từngày ban hành. Các văn bản trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Giám đốc Học viên Hành chính quốc gia, Bộ trưởng Trưởng banBan Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ, các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước,Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhândân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị địnhnày.