HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 97-CP

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 1974

NGHỊ ĐỊNH

VỀVIỆC ĐĂNG KÝ NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG VÀ CẤP SỔ LAO ĐỘNG CHO CÔNG DÂN TRONG TUỔI LAO ĐỘNG

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ điều 21 và điều 30 củaHiến pháp nước Việt-nam dân chủ cộng hòa quy định; “Lao động là nghĩa vụ vàvinh dự của người công dân” “Công dân nước Việt-nam dân chủ cộng hòa có quyềnlàm việc”.
Để tăng cường quản lý lao động xã hội, nắm chắc nguồn lao động, từng bước sắp xếp,việc làm cho người lao động trong tuổi lao động, có sức lao động nhằm thực hiệnnghĩa vụ lao động và quyền làm việc của công dân;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động;

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. - Tấtcả công dân trong tuổi lao động, có sức lao động đều phải đăng ký nghĩa vụ laođộng tại Ủy ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố, nơi cư trú chính thức,theo chế độ, thủ tục thống nhất của Nhà nước.

Điều 2. – CácỦy ban Hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố phải lập sổ đăng ký nghĩa vụlao động, nắm vững nguồn lao động xã hội làm cơ sở cho việc huy động và sử dụnglao động một cách công bằng, hợp lý trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 3. - Nộidung đăng ký nghĩa vụ lao động của mỗi người gồm các phần: sơ yếu lý lịch, vănhóa, sức khỏe, nghề nghiệp và lời cam đoan, do người lao động tự viết, ký tênvào một tờ khai theo mẫu thống nhất.

Điều 4. - Tiếnhành cấp sổ lao động cho công dân trong tuổi lao động, có sức lao động nhằm nắmvững khả năng và quá trình lao động của từng người để làm cơ sở cho việc sắp xếpcông việc làm và thực hiện các chế độ đãi ngộ tùy theo cống hiến của mỗi người.

Những người thuộc các đối tượngsau đây được cấp sổ lao động:

- Cán bộ, công nhân, viên chứcNhà nước

- Xã viên các hợp tác xã, tổviên các tổ sản xuất nông nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, vận tải,xây dựng, ăn uống, mua bán, phục vụ v.v…

- Những người lao động riêng lẻđược Nhà nước cho phép sản xuất, kinh doanh sửa chữa, phục vụ...

Điều 5. - Nộidung sổ lao động gồm các phần: sơ yếu lý lịch, nghề nghiệp, quá trình làm việc,tình trạng sức khỏe, khen thưởng và kỷ luật.

Điều 6. - Việcđăng ký nghĩa vụ lao động và cấp sổ lao động quy định ở các điều 1, 2, 3, 4 nóitrên đây được tiến hành từng bước, có thí điểm trước và phải hoàn thành ở cácthành phố, thị xã, thị trấn trước ngày 1 tháng 7 năm 1975.

Trong khi chờ in và cấp sổ đăngký nghĩa vụ lao động và sổ lao động chính thức, để khỏi trở ngại đến thời gianthực hiện đăng ký nghĩa vụ lao động và cấp sổ lao động, Ủy ban Hành chính xã,thị trấn, khu phố...được tạm thời tận dụng các sổ sách, giấy tờ hiện có (chứngminh thư, căn cứ, sổ lao động hiện có).

Điều 7. – Saukhi hoàn thành việc đăng ký lao động, lập sổ lao động đối với công dân như đãnói ở điều 6, sẽ bãi bỏ các quy định trước đây về đăng ký lao động đối với côngdân trái với nghị định này.

Điều 8. - Nhữngngười không thực hiện đăng ký nghĩa vụ lao động, cố tình trốn tránh, hoặc cóhành động cản trở người khác thực hiện đăng ký nghĩa vụ lao động thì UBHC xã,thị xã, thị trấn, khu phố sẽ tùy theo lỗi nặng nhẹ mà có thái độ xử lý cho đếnđề nghị truy tố pháp luật.

Điều 9. – CácỦy ban Hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm chỉ đạothực hiện việc đăng ký nghĩa vụ lao động cấp sổ lao động trong địa phương mình.

Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngangBộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, tùy theo chức năng của mình, chịutrách nhiệm thi hành nghị định này.

Bộ Lao động là cơ quan quản lýlao động toàn xã hội có trách nhiệm chỉ đạo việc thực hiện đăng ký nghĩa vụ laođộng và cấp sổ lao động, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nghị định này.

T.M HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG





Lê Thanh Nghị