HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN---------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 102/2007/NQ-HĐND

Điện Biên Phủ, ngày 10 tháng 12 năm 2007

NGHỊ QUYẾT

VỀ MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TRỌNGTÂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2008

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 12

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11năm 2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật củaHĐND-UBND số 31/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Sau khi xem xét Báo cáo số: 114/BC-UBND ngày 30/11/2007của UBND tỉnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm2007; mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008; Báo cáo thẩm trasố: 157/BC- KTNS ngày 04/12/2007 của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh và ýkiến của Đại biểu HĐND tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Nhất trí nội dung đánh giá tình hình thựchiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh năm 2007; mục tiêu,nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2008 do UBNDtỉnh trình tại kỳ họp; Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh một số vấn đề sau:

I. Về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế,xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2007.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng với sự nỗ lực, cố gắngcủa các ngành, các cấp, các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh có nhiều chuyểnbiến tích cực. Kinh tế tiếp tục phát triển ổn định và đạt được tốc độ tăngtrưởng khá. Dự ước tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2007 đạt 10,86%, trongđó: Nông lâm nghiệp tăng 5,6%, Công nghiệp - xây dựng tăng 8,7%, Dịch vụ tăng 16,24%.Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng xác định, năm 2007, nông lâmnghiệp chiếm 36,37%, giảm 0,07%; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 24,74%, giảm 0,61%;Dịch vụ 38,89%, tăng 0,68% so với năm 2006.

1. Về phát triển kinh tế:

- Do bị ảnh hưởng của hạn hán kéo dài nên nhiều chỉ tiêusản xuất nông nghiệp không đạt kế hoạch đề ra nhưng vẫn tăng khá so với cùng kỳnăm trước. Tổng sản lượng lương thực năm 2007 ước đạt 187.864 tấn, đạt 97,7% kếhoạch, tăng 1,2% so với năm 2006. Cây Đậu tương trồng được 9.138 ha, tăng 268ha so với năm 2006, đạt 83,1% kế hoạch, sản lượng thu hoạch ước đạt 10.950 tấn,tăng 2,2% so với năm 2006. Các loại cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phêtiếp tục được duy trì diện tích hiện có, trồng mới 90 ha cà phê, 7 ha chè, hoànthiện quy hoạch vùng chè cây cao Tủa Chùa để đầu tư phát triển trong những nămtiếp theo.

Trong chăn nuôi đã phòng chống có hiệu quả dịch bệnh lởmồm long móng ở gia súc và dịch cúm gia cầm; tốc độ tăng trưởng đàn gia súc bìnhquân đạt 5,6%, đàn gia cầm tăng 26% so với năm 2006. Nuôi trồng thủy sản tăngcả về diện tích và sản lượng đánh bắt.

- Sản xuất công nghiệp ổn định và có bước tăng trưởng so với nămtrước. Giá trịsản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2007 ước đạt 350 tỷ đồng (giá so sánh 1994),tăng 12,51% so với năm 2006. Đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đăng ký đầu tưvào các lĩnh vực xây dựng thủy điện, khai thác chế biến khoáng sản, chế biếnnông sản ....

- Thương mại, dịch vụ tiếp tụcphát triển, đảm bảo cung ứng đủ hàng hóa, vật tư cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng.Dự ước tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2007 đạt 1.440 tỷđồng, tăng 24% so với năm 2006 và đạt 102,8% kế hoạch. Chất lượng hoạt độngdịch vụ du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông từng bước được nâng lên, lượngkhách du lịch đến tỉnh tăng 37,5%, doanh thu xã hội từ hoạt động du lịch tăng20% so với năm 2006.

- Thu ngân sách trên địa bàncó nhiều cố gắng, thu ngân sách địa phương dự ước đạt 1.939,9 tỷ đồng đạt 140,7%dự toán, tăng 27,4% so với năm 2006. Trong đó tổng thu ngân sách trên địa bànước đạt 154,2 tỷ đồng đạt 109,7% dự toán (kể cả thu vay đầu tư). Tổng nguồn vốnđầu tư toàn xã hội ước huy động đạt 2.002 tỷ đồng, tăng 7,6% so với kế hoạch,đã tăng cường đáng kể hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ mục tiêu tăngtrưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hoạt động Tài chính, Kho bạc, Ngân hàngđã đáp ứng nhu cầu tiền mặt cho sản xuất, đời sống.

2. Lĩnh vực văn hóa - xãhội tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực:

- Thực hiện tốt kế hoạch đổimới giáo dục phổ thông; từng bước nâng cao hiệu quả xã hội hoá giáo dục, giáo dụcphổ thông có chuyển biến thực chất. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng tuổi,phổ cập THCS được quan tâm chỉ đạo, trong năm đã công nhận thêm 29 xã đạt chuẩnphổ cập giáo dục tiểu học đúng tuổi và 16 xã đạt chuẩn phổ cập THCS, nâng tổngsố xã, phường đạt chuẩn phổ cập THCS lên 72 xã, đạt 100% KH. Mở rộng liên kếtđào tạo chuyên nghiệp, dạy nghề góp phần từng bước nâng cao chất lượng nguồnnhân lực; làm tốt công tác đào tạo giúp các tỉnh Bắc Lào theo biên bản Hội đàmđã ký kết.

- Công tác phòng chống dịch bệnhđược tăng cường kiểm soát không để dịch lớn xảy ra. Hoạt động khám chữa bệnh,chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo; tổ chức thực hiện có hiệu quả các mụctiêu chương trình y tế quốc gia, thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh chongười nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi.

- Triển khai có hiệu quả chiếndịch chăm sóc sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình, giảm tỷ lệ sinh 1‰, đạt100% kế hoạch. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em được quan tâm, 91% trẻ em dưới6 tuổi đã được cấp thẻ bảo hiểm y tế; phối hợp với các tổ chức làm tốt công tácchăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

- Các hoạt động văn hoá, vănnghệ, thông tin tuyên truyền được tổ chức sôi nổi chào mừng các ngày lễ lớn. Phongtrào xây dựng đời sống văn hoá được đông đảo nhân dân tích cực hưởng ứng; trongnăm đã có 568/800 thôn bản tổ dân phố và 52.650/58.500 hộ gia đình đăng ký đượccông nhận đạt tiêu chuẩn văn hóa. Hoạt động Thể dục thể thao có nhiều chuyển biếntích cực, thể thao thành tích cao được quan tâm đầu tư, toàn tỉnh đã có 16% dânsố tham gia hoạt động thể dục thể thao thường xuyên.

- Chương trình xóa đói giảm nghèo,giải quyết việc làm được tích cực triển khai thực hiện; trong năm đã giải quyếtviệc làm mới cho 7.000 lao động đạt 100 % kế hoạch, tăng 16,7% so với cùng kỳnăm trước, có 3.263 hộ thoát nghèo (4,68%) đưa tỷ lệ đói nghèo toàn tỉnh giảmtừ 38,77% năm 2006, xuống còn 33,91% năm 2007.

3. Tình hình an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội được bảođảm, chủ quyền lãnh thổ quốc gia được giữ vững; đã chủ động nắm chắc tình hìnhkhông để tình huống đột xuất xấu, bất ngờ xẩy ra trên địa bàn tỉnh; hoạt độngđối ngoại tiếp tục được tăng cường, mở rộng.

4. Tổ chức bộ máy chínhquyền các cấp tiếp tục được củng cốkiện toàn, chất lượng hoạt động được nâng lên; công tác đào tạo bồi dưỡng nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức được quan tâm; giải quyết kịp thời đơnthư đề nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, không để tồn đọng kéo dài làm phátsinh điểm nóng.

Những kết quả đạt được nêu trênlà rất cơ bản, là tiền đề quan trọng để tỉnh ta triển khai thực hiện có hiệuquả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh năm 2008 và giaiđoạn 2006 - 2010. Song bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ pháttriển KT-XH, đảm bảo quốc phòng an ninh năm 2007 còn có những tồn tại, hạn chếcần khắc phục, đó là:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tếchưa đạt mục tiêu đề ra; tăng trưởng còn thiếu tính bền vững còn phụ thuộc nhiềuvào đầu tư của Trung ương. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và thiếu vững chắc,chưa tạo được sự gắn kết giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với cơ cấu lao động vàcơ cấu đầu tư.

- Chỉ tiêu sản xuất lương thựcdưới ruộng, cây công nghiệp đều không đạt kế hoạch. Việc triển khai cụ thể hóavà tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ được xác định trong chương trình,đề án về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp tập trung còn chậm và chưa rõ,chưa tạo thành vùng sản xuất tập trung. Chỉ tiêu trồng rừng đạt thấp, hiệu quảtrồng rừng chưa cao; tình trạng cháy rừng, phá rừng làm nương vẫn còn diễn rakhá lớn.

- Sản xuất công nghiệp tăng trưởngchậm, chưa tương xứng với tiềm năng; tiến độ thực hiện các dự án xi măng, thủyđiện, khai thác khoáng sản còn chậm. Tiến độ triển khai thực hiện và giải ngâncác nguồn vốn đầu tư chậm nhất là nguồn vốn các chương trình mục tiêu và nguồntrái phiếu Chính phủ. Công tác chuẩn bị đầu tư còn chưa tích cực, chất lượng hồsơ dự án chưa cao; năng lực quản lý và tổ chức thực hiện dự án của các Chủ đầutư, các đơn vị tư vấn còn hạn chế; công tác đền bù giải phóng mặt bằng chậm vànhiều vướng mắc, tiến độ chậm.

- Các chỉ tiêu về thu ngân sáchtrên địa bàn đạt thấp; việc tổ chức khai thác nguồn thu chưa triệt để, tìnhtrạng nợ đọng thuế còn khá lớn, hầu hết các dự án đấu giá đất thực hiện tiến độcòn chậm và gặp nhiều khó khăn.

- Chất lượng giáo dục ở một sốtrường và khu vực vùng cao còn chuyển biến chậm, quản lý giáo dục ở cơ sở chưacó nhiều đổi mới; chất lượng hoạt động y tế ở một số nơi nhất là khu vực vùngcao còn nhiều hạn chế.

- Kết quả công tác xoá đói giảmnghèo chưa thực sự bền vững (số hộ thoát nghèo khá lớn nhưng vẫn thuộc cận nghèo,nên rất dễ tái nghèo); sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng ngày càng cóchiều hướng gia tăng; công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình xóa đóigiảm nghèo chưa có nhiều đổi mới.

- Tình hình chính trị, xã hộicòn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp như hiện tượng xâm canh, xâm cư trên khu vựcbiên giới còn tái diễn; tình hình lợi dụng tự do tín ngưỡng tuyên truyền đạotrái pháp luật, di dịch cư tự do tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Công táccải cách hành chính tuy thu được kết quả ban đầu nhưng nội dung cải cách chưarõ, chưa đồng bộ, chất lượng đội ngũ cán bộ ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu;tính chủ động trong công tác tham mưu và trong khâu tổ chức thực hiện ở một sốđơn vị chưa cao, làm ảnh hưởng đến hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước.

II. Về chỉ tiêu, nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội năm 2008:

1. Các chỉ tiêu chủ yếu:

1.1. Tốc độ tăng trưởng kinhtế (GDP) 11,5% -12%.

1.2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơcấu kinh tế; phấn đấu cơ cấu GDP năm 2008: Nông, lâm nghiệp, thủy sản: 34,59%, giảm1,8%; Công nghiệp - Xây dựng: 25,83%, tăng 1,1%; Dịch vụ: 39,58%, tăng 0,7% (sovới năm 2007);

1.3. Phấn đấu giá trị gia tăngkhu vực nông, lâm nghiệp tăng 5,6-5,7%, giá trị sản xuất tăng 6%; giá trị giatăng khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng 17,7%, giá trị sản xuất tăng 19,3 -20%; giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng 13,5%.

1.4. Tổng sản lượng lương thựcđạt 200,77 ngàn tấn; Đậu tương 11.630 ha, sản lượng đạt 15.177 tấn; cây cà phê708 ha, trong đó trồng mới 210 ha, sản lượng cà phê nhân 1.000 tấn; cây chè 281ha, trong đó trồng mới 50 ha; trồng 1.000 ha cây cao su; trồng mới 2.100 ha rừng;đàn gia súc tăng bình quân 6,44%; nâng độ che phủ của rừng lên 46%.

1.5. Tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu: 5,5 triệu USD, trong đó: Xuất khẩu 3,5 triệu USD, nhập khẩu 2 triệu USD.

1.6. Thu ngân sách trên địa bàn167,5 tỷ đồng, tăng 8,69% so với ước thực hiện năm 2007. Trong đó thu để lại chiqua ngân sách địa phương 8 tỷ đồng.

1.7. Đẩy nhanh tiến độ di dântái định cư thuỷ điện Sơn La, phấn đấu năm 2008 thực hiện TĐC và ổn định cuộcsống tại nơi ở mới cho 1.500 hộ dân.

1.8. Tổng vốn đầu tư phát triển:2.031,7 tỷ đồng, tăng 1,5% so với năm 2007.

1.9. Giảm tỷ lệ sinh 1‰; giảmtỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 26%, giảm 0,8% so với năm 2007; 26xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (tăng 10 xã);

1.10. Đạt chuẩn phổ cập THCS29 xã, phường (tổng số xã, phường đạt chuẩn là 101 xã, phường, phấn đấu được côngnhận tỉnh đạt chuẩn phổ cập THCS trong năm 2008); Nâng tỷ lệ trẻ đi học đúngtuổi, cấp tiểu học lên 96,5%, tăng 2,3%; cấp THCS lên 63,4%, tăng 2,2%, cấpTHPT lên 45,2%, tăng 2,3% so với năm 2007;

1.11. Giảm tỷ lệ đói nghèo xuốngcòn 28,91%, đào tạo nghề cho 5.340 lao động, tạo việc làm mới cho 7.500 laođộng; xuất khẩu 400 - 500 lao động đi làm việc tại nước ngoài; tổ chức cai nghiệncho 1.960 lượt người nghiện ma túy.

1.12. Có 67% số hộ gia đình đăngký gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, trong đó phấn đấu được công nhận90%; 54% thôn, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn thôn, bản văn hoá; Duy trì diện phủsóng, tăng cường thời lượng phát sóng phát thanh, truyền hình.

1.13. 104/106 xã, phường có đườngô tô đến trung tâm, trong đó 74/106 xã đi lại được quanh năm; 100/106 xã, phườngcó điện lưới quốc gia đến trung tâm xã, tăng 19 xã, 84% dân số được dùng điện,tăng 16% so với năm 2000.

1.14. Có 75% dân cư thành thịđược sử dụng nước sạch và 69% dân cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt.

1.15. Chủ động phòng ngừa, đấutranh kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.Giữ vững ổn định chính trị, chủ quyền biên giới quốc gia, đảm bảo an ninh trậttự và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

1.16. Đẩy mạnh cải cách hànhchính, nâng cao đạo đức, năng lực và từng bước đổi mới tư duy, phương pháp làm việccủa đội ngũ cán bộ công chức. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệuquả chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp.

2. Nhiệm vụ chủ yếu:

2.1- Phát triển nông nghiệpvà kinh tế nông thôn.

Đẩy mạnh phát triển sản xuấtnông, lâm, thuỷ sản; gắn phát triển sản xuất với quy hoạch lại cơ cấu cây trồng,vật nuôi theo hướng tập trung chuyên canh, thâm canh tạo thành các vùng sảnxuất hàng hóa có năng suất, chất lượng. Tập trung vào các loại cây lương thực,cây chè, cà phê, đậu tương, cây ăn quả, chăn nuôi trâu, bò thịt. Phối hợp và tạođiều kiện thuận lợi để Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam triển khai chươngtrình phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục đầu tư thủy lợi, kiêncố hóa kênh mương để nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng đất, phát triển mạnhdiện tích cây công nghiệp ngắn ngày, cây lương thực; mở rộng thâm canh, tăng vụtại các khu vực có điều kiện.

2.2- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:

Tiếp tục đẩy mạnh phát triểncông nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh.Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các lĩnh vực thủy điện, khai thác chế biến khoángsản, chế biến nông lâm sản nhằm tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp khaikhoáng, công nghiệp điện, nước trong cơ cấu ngành công nghiệp. Phấn đấu giá trịsản xuất công nghiệp năm 2008, đạt 419 tỷ đồng, tăng 19,5% so với năm 2007.

2.3- Phát triển các ngànhdịch vụ: Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi đểkhuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng địa bàn, ngành nghề kinh doanh dịchvụ thương mại; phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ thươngmại tăng 22% so với năm 2007. Tiếp tục phát triển có hiệu quả các tiềm năng vềdu lịch di tích lịch sử, danh thắng và du lịch cộng đồng, nâng cao chất lượngdịch vụ, tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu trung bình của du khách, phấnđấu đón 200 ngàn lượt khách trong năm 2008; doanh thu từ dịch vụ du lịch tăng25% so với năm 2007.

Đẩy mạnh hoạt động khuyến khích,thu hút đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu, có chính sách phù hợp để khai thác lợithế cửa khẩu quốc tế Tây Trang và cửa khẩu chính Huổi Puốc, sớm khai thông vàđầu tư xây dựng cửa khẩu A Pa Chải.

Rà soát, quản lý chặt chẽ cácnguồn thu để đảm bảo chỉ tiêu thu ngân sách trên địa bàn. Đẩy mạnh việc thựchiện đấu giá quyền sử dụng đất để bổ sung nguồn thu ngân sách địa phương; quảnlý chặt chẽ các nguồn chi theo đúng quy định đảm bảo thực hành tiết kiệm, chốnglãng phí, tham nhũng.

2.4. Trong lĩnh vực văn hoá- xã hội:

- Giải quyết việc làm,xoá đói giảm nghèo và các vấn đề xã hội bức xúc: Quản lý khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong chương trìnhmục tiêu Quốc gia về xoá đói, giảm nghèo. Nâng cao trách nhiệm của các ngành,đơn vị được phân công giúp các xã đặc biệt khó khăn, phấn đấu giảm 5% số hộ đóinghèo. Tổ chức cai nghiện ma túy, chống tái nghiện có hiệu quả.

- Giáo dục - Đào tạo: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; củng cố kết quả phổcập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, nâng cao chất lượng thực hiện chương trìnhphổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS, phấn đấu được công nhậntỉnh đạt chuẩn phổ cập THCS trong năm 2008. Mở rộng xã hội hóa giáo dục đào tạo;mở rộng liên kết và đảm bảo chất lượng đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề.

- Dân số - Y tế - Bảo hiểmxã hội:

Phấn đấu duy trì mức giảm tỷlệ sinh 1‰, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,01%, quy mô dân số trung bình khoảng477,69 ngàn người. Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Tăng cường công tác bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi còn 26%,giảm 0,8% so với năm 2007, tập trung tuyên truyền, đấu tranh chống tệ nạn tảohôn trong nông thôn.

Nâng cao chất lượng khám chữabệnh, thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, đồngbào dân tộc thiểu số. Phấn đấu nâng số trạm xá xã có bác sĩ lên 7,5%, 26 xã đạtchuẩn Quốc gia về y tế.

Tiếp tục đẩy mạnh phong tràotoàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng làng bản, gia đình văn hoá.Đẩy mạnh phong trào thể thao quần chúng, chú trọng đầu tư huấn luyện, bồi dưỡngnăng khiếu một số môn thể thao thành tích cao mà tỉnh có ưu thế.

2.5. Trong lĩnh vực cải cáchhành chính, thanh tra, xây dựng chính quyền

Đẩy mạnh thực hiện chương trìnhcải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao nănglực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức; tăng cường công tác thanhtra, phòng, chống tham nhũng, tập trung vào lĩnh vực quản lý đầu tư, quản lý sửdụng ngân sách, tài sản công. Tiếp tục đẩy mạnh chương trình tuyên truyền phổbiến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý; nâng cao chất lượng thi hành án dânsự, các hoạt động bổ trợ tư pháp.

2.6. Trong lĩnh vực quốc phòng- an ninh, đối ngoại:

Giữ vững ổn định chính trị, chủquyền biên giới quốc gia, an ninh trật tự và khối đoàn kết toàn dân. Tiếp tụcxây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xâydựng tiềm lực quốc phòng - an ninh trong khu vực phòng thủ, gắn nhiệm vụ quânsự, quốc phòng với qui hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.

Tích cực, chủ động phòng ngừa,đấu tranh kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma tuý. Làmtốt công tác quản lý trật tự xã hội, quản lý vũ khí, chất nổ, phòng cháy chữacháy, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, giảm các tệ nạn xã hội. Thực hiện cóhiệu quả các chương trình, đề án quốc gia và của tỉnh về phòng chống tội phạm.Thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách tư pháp theo Chương trình hành động của tỉnh.

Tiếp tục tăng cường quan hệ hữunghị, hợp tác với các tỉnh bắc Lào trên các lĩnh vực; mở rộng quan hệ hợp tácvới Vân Nam - Trung Quốc và các tổ chức quốc tế để phát triển kinh tế đối ngoại.Tổ chức khai trương cửa khẩu chính Huổi Puốc; thực hiện các thủ tục đề nghị mởcửa khẩu A Pa Chải với Trung Quốc.

Điều 2. Giao UBND tỉnh có trách nhiệm tăng cường giải pháp chỉ đạođiều hành để tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinhtế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã được HĐND tỉnh thông qua tại kỳ họp này.

Điều 3. Nghị quyết này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày HĐNDtỉnh thông qua.

Điều 4. Giao Thường trực HĐND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh và Đại biểuHĐND tỉnh có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiệnNghị quyết.

Nghị quyết này đã được Hộiđồng nhân dân tỉnh Điện Biên khóa XII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 7 tháng 12năm 2007./.

CHỦ TỊCH




Mùa A Sơn