Nghị quyết

NGHỊ QUYẾT

CỦA QUỐCHỘI SỐ 16/2003/QH11 NGÀY 17 THÁNG 6 NĂM 2003
VỀ VIỆC THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM TỔ CHỨC QUẢN LÝ, DẠY NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TUÝ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ TỈNH, THÀNH PHỐ
KHÁC TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Hiến phápnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theoNghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳhọp thứ 10;

Căn cứ vào Luật phòng,chống ma tuý;

Sau khi xem xét Tờtrình số 689/CP-VX ngày 23 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ về việc cho phépthành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác có nhu cầu và điều kiệnthực hiện thí điểm chủ trương tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làmcho người sau cai nghiện ma tuý; Báo cáo thẩm tra số 319 BC/UBXH ngày 03 tháng6 năm 2003 của Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội và ý kiến của các vịđại biểu Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ :

Điều 1

Giao Chính phủ chỉ đạo Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dânthành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác trực thuộc trung ương doChính phủ quyết định thực hiện thí điểm tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyếtviệc làm cho người sau cai nghiện ma tuý, bảo đảm để họ tiếp tục rèn luyện nhâncách, được học nghề, lao động, sản xuất,học tập trong môi trường thích hợp và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để táihoà nhập cộng đồng vì lợi ích của chính họ, gia đình họ và lợi ích chung củacộng đồng.

Điều 2

Đối tượng áp dụng biện pháp tổ chức quản lý, dạy nghề vàgiải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý quy định tại Điều 1 củaNghị quyết này gồm:

1. Người đã kết thúc thời gian cai nghiện tập trung tại cơsở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 28 của Luật phòng, chống ma tuýmà tự nguyện đề nghị áp dụng biện pháp này đối với mình;

2. Người đã kết thúc thời gian cai nghiện tập trung tại cơsở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 28 của Luật phòng, chống ma tuýtuy không tự nguyện đề nghị áp dụng biện pháp này đối với mình nhưng có khảnăng tái nghiện cao nếu được đưa trở lại cộng đồng.

Điều 3

Thời gian áp dụng biện pháp tổ chức quản lý, dạy nghề vàgiải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý từ 1 năm đến 2 năm, trườnghợp cần thiết có thể kéo dài nhưng không quá 3 năm.

Điều 4

1. Căn cứ vào quy định tại các điều 1, 2 và 3 của Nghị quyếtnày, Chính phủ xem xét, phê duyệt Đề án tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyếtviệc làm cho người sau cai nghiện ma tuý của thành phố Hồ Chí Minh và một sốtỉnh, thành phố khác trực thuộc trung ương; quy định cụ thể trình tự, thủ tục,thẩm quyền quyết định đưa người vào cơ sở quản lý, dạy nghề và giải quyết việclàm cho người sau cai nghiện ma tuý. Hàng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội vềtình hình triển khai thực hiện Nghị quyết này tại kỳ họp cuối năm của Quốchội.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Tàichính, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyềnhạn của mình có trách nhiệm giúp Chính phủ chỉ đạo thực hiện thí điểm tổ chứcquản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý ởthành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác trực thuộc trung ương.

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh vàcác tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được phép thực hiện thí điểm có tráchnhiệm tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiệnma tuý theo Đề án đã được Chính phủ phê duyệt.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban về các vấn đề xã hội,Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đạibiểu Quốc hội có trách nhiệm giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết này,kịp thời kiến nghị Quốc hội xử lý các vấn đề phát sinh tại kỳ họp gần nhất.

3. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thànhviên của Mặt trận trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệmtuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện và giám sát việc thực hiện Nghịquyết này.

Điều 5

1. Thời hạn thực hiện thí điểm biện pháp tổ chức quản lý,dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý là 5 năm, kể từngày Nghị quyết này có hiệu lực.

2. Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 8 năm 2003.

Nghị quyết này đã đượcQuốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 3 thôngqua ngày 17 tháng 6 năm 2003.