HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 109-CP

Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 1973

NGHỊ QUYẾT

VỀMỘT SỐ CHÍNH SÁCH CỤ THỂ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC VÀ CÁN BỘ VÙNG CAO

Vùng cao nằm trên một diện tíchtương đối lớn ở miền Bắc nước ta, có vị trí quan trọng về chính trị, quốcphòng, kinh tế và có nhiều đặc điểm khác biệt so với các vùng khác.

Trong những năm qua trình độ mọimặt của nhân dân các dân tộc vùng cao đã có tiến bộ hơn trước. Tuy nhiên, đếnnay sản xuất của nhân dân ở nhiều nơi chưa ổn định, tệ phá rừng còn nghiêm trọng,đời sống vật chất và văn hóa chưa được nâng cao đúng mức, đội ngũ cán bộ dân tộcthiếu và yếu, nhất là ở cơ sở.

Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpcách mạng chung trong giai đoạn mới, các ngành ở trung ương và Ủy ban hànhchính các khu, tỉnh miền núi phải có kế hoạch và biện pháp đẩy mạnh mọi mặtcông tác ở vùng cao khai thác và sử dụng một cách hợp lý các khả năng đất đaivà tài nguyên, phát huy khả năng lao động sáng tạo của nhân dân vùng cao, ngănchặn tệ phá rừng nhằm phát triển kinh tế nhất là phát triển mạnh sản xuất nôngnghiệp và lâm nghiệp, từng bước ổn định và nâng cao đời sống vật chất và vănhóa của nhân dân.

Để bảo đảm yêu cầu nói trên, côngtác lớn và rất cơ bản là phải tập trung sức giúp đỡ và tạo điều kiện để nhândân xác định được phương hướng sản xuất phù hợp với điều kiện cụ thể của từngvùng và đi vào làm ăn theo phương hướng mới. Ủy ban hành chính các khu tự trịvà các tỉnh có vùng cao phải căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu ở từng nơivà căn cứ vào quy hoạch chung mà hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ đạo từng vùng chuyểntừ sản xuất bằng cách phá rừng làm nương rẫy, sản xuất lương thực tự túc, sangtrồng rừng, cải tạo bảo vệ rừng, trồng cây công nghiệp, cây đặc sản, thâm canhcây lương thực, phát triển chăn nuôi, thực hiện định canh định cư. Ủy ban Nôngnghiệp trung ương, Tổng cục Lâm nghiệp và các ngành có liên quan khác phải ra sứcgiúp đỡ các khu tự trị, các tỉnh có vùng cao trong việc quy hoạch các vùng lớn,xác định phương hướng sản xuất cho từng vùng, xây dựng những cơ sở vật chất vàkỹ thuật cần thiết để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, mở rộng ngành nghềtheo hướng mới.

Ủy ban Dân tộc trung ương phảiphối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan và các Ủy ban hành chính các khu tựtrị, các tỉnh miền núi để nghiên cứu kịp thời, toàn diện các chính sách đối vớivùng cao và trình Thường vụ Hội đồng Chính Phủ xét.

Trước mắt, để giải quyết khókhăn cho vùng cao và tạo thêm điều kiện cho vùng cao đẩy mạnh phát triển kinh tếvăn hóa, Thường vụ Hội đồng Chính Phủ quyết định ban hành một số chính sách cụthể sau đây đối với đồng bào các dân tộc và cán bộ vùng cao.

1. Về chính sách đầu tư vốngóp giúp các vùng cao xây dựng cơ sở ban đầu cho sản xuất, đời sống và văn hóa.

Để giúp nhân dân các vùngcao xây dựng cơ sở sản xuất lâu dài và tổ chức việc ăn ở ổn định, cần phát huysức lao động to lớn, cần cù và dũng cảm của nhân dân tự lực cánh sinh, đồng thờiNhà nước cũng ra sức giúp đỡ vốn đầu tư xây dựng những công trường khó thu hồivốn, hoặc lâu năm mới thu hồi được vốn như: khai hoang mở rộng diện tích và xâydựng đồng ruộng làm giao thông và xây dựng những cơ sở cần thiết phục vụ cho việchọc hành, chữa bệnh,v.v...

Đối với các loại vốn đầu tư vàotrồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng có thể thu hồi tương đối nhanh, thì Ngân hàngNhà nước cho vay với lãi suất nhẹ.

Vốn Nhà nước trợ cấp hay Ngânhàng cho vay phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng tập trung và dứt điểm từngvùng, nhằm giúp đỡ thiết thực cho đồng bào các dân tộc vùng cao xây dựng đượccơ sở sản xuất lâu dài, đời sống và văn hóa một cách ổn định, chú trọng cácvùng trọng điểm cần được định canh định cư và phát triển sản xuất nhanh, sau đósẽ lần lượt làm ở các vùng khác.

Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch,các địa phương phải có kế hoạch xây dựng những cơ sở ban đầu về sản xuất, đời sốngvà văn hóa cho các vùng cao, bao gồm kế hoạch tiền vốn, lương thực, vật tư…màNhà nước phải đầu tư.

Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nướcphối hợp với các ngành có trách nhiệm để hướng dẫn cụ thể việc giúp đỡ vốn vàcho vay vốn nói trên.

2. Chính sách thuế nông nghiệpvà chính sách lương thực, thực phẩm đối với vùng cao.

a) Để tạo điều kiện cho các dântộc vùng cao đi vào làm ăn theo phương hướng sản xuất mới, từ nay Nhà nước miễnthu thuế nông nghiệp ở các vùng cao. Ở những nơi diện tích ruộng đất ít, sản xuấtlương thực không ổn định, phải phá rừng làm nương rẫy, nay chuyển sang nghề rừng,trồng cây công nghiệp, chăn nuôi... đều được miễn không phải làm nghĩa vụ bánlương thực cho Nhà nước. Nhà nước cũng không thu mua lương thực theo giá cao ởnhững nơi này. Thay vào các nghĩa vụ trên, đồng bào các đân tộc sẽ bán các sảnphẩm khác cho Nhà nước, tham gia lao động xây dựng những cơ sở vật chất và kỹthuật để phục vụ lợi ích chung trong vùng.

Khi thi hành chính sách miễn thuếnông nghiệp và chính sách nghĩa vụ lương thực trên đây, tỉnh nào bị hụt mức ổnđịnh nghĩa vụ lương thực sẽ được điều chỉnh lại.

b) Việc bán thịt lợn cho Nhà nướctheo nghĩa vụ và bán thịt lợn theo giá khuyến khích cũng không đặt ra đối vớicác vùng cao chưa có cơ sở sản xuất ổn định. Ủy ban hành chính các huyện vùngcao phải có kế hoạch tổ chức chăn nuôi quốc doanh và hướng dẫn giúp đỡ nhân dâncác thị trấn phát triển chăn nuôi mà không được phá rừng, để bảo đảm có thịtcho cán bộ, công nhân viên và nhân dân.

c) Tăng thêm tiêu chuẩn cung cấplương thực cho mỗi cán bộ, công nhân, viên chức thường xuyên công tác ở vùngcao lên 21 kilôgam mỗi tháng (kể cả ăn sáng).

d) Tất cả cáchọc sinh cấp II và cấp III ở nội trú được mua lương thực ăn theo tiêu chuẩnhàng tháng đã quy định cho từng lứa tuổi; những học sinh ở với gia đình cũng đượcmua theo tiêu chuẩn quy định (nếu Nhà nước điều hòa cung cấp lương thực chung rồithì được mua thêm phần chênh lệch cho bản thân học sinh). Học sinh các trườngthanh niên dân tộc có nhiệm vụ vừa học, vừa làm nếu không trồng lương thực hoặckhông tự túc đủ lương thực cũng được cung cấp lương thực theo nhu cần thực tế củatừng trường.

e) Mỗi xã vùng cao mỗi tháng đượcmua cung cấp số lương thực bằng khoảng 3 suất ăn thường xuyên tiêu chuẩn Nhà nướcđã quy định để cán bộ chủ chốt của xã trong những ngày phải thường trực làm việctại trụ sở xã. Ngoài ra mỗi xã, mỗi năm được mua một số lương thực dùng cho cáchội nghị chung của xã. Cán bộ, công nhân, viên chức người dân tộc bận công tác,có gia đình ở vùng cao, không đủ lương thực ăn thì được xét cho mua một sốlương thực gia đình.

3. Về chính sách giá cả đối vớimọt số mặt hàng thiết yếu cho đời sống các dân tộc miền núi.

a) Muối: giá muối ở miền núi nóichung đều giảm xuống 0đ40 một kilôgam. Nơi nào đã bán giá muối dưới 0đ 40/kg nayvẫn giữ nguyên.

b) Dầu hỏa: nói chung đều giảmgiá xuống theo khu vực IV (1đ 56/kg ).

c) Vải: giá vải trước đây đã bántheo khu vực IV nay được hạ xuống khu vực III.

4. Bổ sung và sửa đổi một sốtiêu chuẩn dưới đây:

a) Tất cả nhân dân, cán bộ, côngnhân, viên chức công tác thường xuyên ở vùng cao mỗi người hàng năm được mua 6mét vải (kể cả tiêu chuẩn 1 mét vải theo thị hiếu dân tộc đã quy định trướcđây). Nơi nào đã được phân phối theo tiêu chuẩn cao hơn vẫn được giữ nguyên.

b) Mỗi cán bộ, công nhân, viênchức thường xuyên công tác ở vùng cao, hàng tháng được mua đường gấp đôi tiêuchuẩn bình thường và cứ 3 năm được mua 1 áo bông, 5 năm dược mua một chăn bông,(không thu phiếu vải mua vỏ chăn). Những người thuộc diện được phát không áobông, chăn bông theo quy định trước đây vẫn được giữ nguyên. Giáo viên ngườivùng cao cũng được cấp chăn bông theo tinh thần chỉ thị số 20-TTg ngày10/3/1969 của Thủ tướng Chính Phủ.

c) Nữ cán bộ, công nhân, nhânviên thường xuyên công tác ở vùng cao được tăng thêm một tháng nghỉ đẻ so vớithời gian quy định chung. Nữ cán bộ có con nhỏ trong lứa tuổi gửi nhà trẻ nếu tựthu xếp việc giữ con thì được tăng thêm mức trợ cấp 5 đồng lên 10 đồng mộttháng; tiền trợ cấp được cấp từ khi mẹ hết hạn nghỉ đẻ cho đến khi con đủ 36tháng.

d) Đối với cán bộ, công nhân,viên chức ở vùng thấp hoặc vùng xuôi lên công tác lâu ngày ở vùng cao bị giảm sứckhỏe hoặc gia đình gặp khó khăn được chuyển về công tác ở nơi cũ, các cấp chínhquyền nơi cũ có trách nhiệm giúp đỡ, bố trí công tác hợp lý.

đ) Ở các trườngsư phạm và dự bị sư phạm có nội trú ở vùng cao, giáo viên được hưởng phụ cấp 5%lương mỗi tháng về trách nhiệm quản lý. Giáo viên dạy kiêm lớp nói chung đều đượchưởng thêm phụ cấp theo số lớp phải dạy kiêm (nếu ghép hai lớp được 5 đồng,ghép 3 lớp được 10 đồng và kiêm cả lớp vỡ lòng, bổ túc văn hóa và phổ thông thìđược hưởng 15 đồng một tháng).

Trong lúc chưa có quy định chínhthức của Nhà nước về phạm vi các vùng cao, nghị quyết này được thi hành trongphạm vi vùng cao mà các Ủy ban hành chính tỉnh đã quyết định trước đây. Ủy banhành chính các khu tự trị, các tỉnh có vùng cao, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Ủyban Nông nghiệp trung ương, Ủy ban Vật giá Nhà nước, Bộ Lương thực và thực phẩm,Bộ Nội thương, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Bộ Giáo dục, Tổng cục Lâm nghiệp vàNgân hàng Nhà nước có trách nhiệm thi hành nghị quyết này.

T. M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
K. T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Lê Thanh Nghị