HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

********

Số: 137-CP

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 1974

NGHỊ QUYẾT

VỀ CÔNG TÁC TIỀNLƯƠNG, BẢO HIỂM XÃ HỘI, PHÚC LỢI TẬP THỂCỦA CÔNG NHÂN, VIÊNCHỨC NHÀ NƯỚC TRONG HAI NĂM 1974-1975

Hội đồng Chính phủ trong phiên họpngày 24 tháng 4 năm 1974 của Thường vụ Hội đồng Chính phủ, sau khi nghe ông Bộtrưởng Bộ Lao động thay mặt Tiểu ban nghiên cứu cải tiến tiền lương báo cáo về nhiệmvụ công tác tiền lương trong hai năm 1974 và 1975, đã thảo luận và quyết địnhnhững vấn đề dưới đây.

I

Chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội,phúc lợi tập thể của cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước được Chính phủ banhành, sửa đổi từ năm 1960. Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh chưa có điều kiện bổsung, cải tiến. Đến nay có những điểm không hợp lý như: tính chất bình quân,bao cấp, thiếu tác dụng khuyến khích sản xuất trong tình hình mới. Trong kế hoạchkhôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa 2 năm 1974 – 1975 do khả năng kinh tế,tài chính của ta chưa cho phép cải tiến tiền lương một cách toàn diện và cơ bảnmà chỉ có thể cải tiến một bước chế độ tiền lương đối với những bộ phận lao độngnặng nhọc nhất và lao động kỹ thuật phức tạp nhất – như Nghị quyết hội nghị lầnthứ 22 của trung ương Đảng đã đề ra trong nhiệm vụ, phương hướng khôi phục vàphát triển kinh tế miền Bắc hai năm 1974 – 1975.

Phải giải quyết một cách tậptrung và có trọng điểm nhằm từng bước thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao độngtrong điều kiện cụ thể hiện nay và đạt các yêu cầu sau đây:

1. Khuyến khích tăng năngsuất lao động, phục vụ yêu cầu điều chỉnh lao động cho các cơ sở sản xuất, cácvùng kinh tế mới, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua lao động, sản xuất và tiếtkiệm, hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước.

2. Góp phần chấn chỉnhcông tác quản lý kinh tế đi dần vào nề nếp và chuẩn bị điều kiện cho việc cảicách các chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, phúc lợi tập thể trong kế hoạch 5năm lần thứ hai (1976 - 1980).

II

Nội dung sửa đổi và bổ sung chếđộ tiền lương, bảo hiểm xã hội, phúc lợi tập thể trong 2 năm (1974 - 1975) gồmcác vấn đề sau đây:

A. TIỀN LƯƠNG

1. Để điều chỉnh một bướcquan hệ tiền lương đối với những bộ phận lao động nặng nhọc nhất, kỹ thuật phứctạp nhất, cần đặt khoản phụ cấp lương cho công nhân, viên chức thuộc cácbộ phận, ngành, nghề sau đây:

a) Khai thác mỏ: Đặt khoảnphụ cấp lương 10% cho công nhân, viên chức khai thác mỏ (hầm lò và lộ thiên).

b) Lâm nghiệp:Đặt khoản phụ cấp nghề rừng 10% cho công nhân, viên chức ở các cơ sở khai thácvà trồng rừng miền núi; cấp tiền theo 2 mức 0đ30 – 0đ50 một người theo ngày làmviệc, để tổ chức bữa ăn trưa tại chỗ cho công nhân khai thác và vận xuất lâm sản;trợ cấp một lần ban đầu 50đ một người để sắm sửa những đồ dùng cần thiết chocông nhân nghề rừng mới tuyển; đặt khoản phụ cấp tạm thời cho công nhân và cánbộ quản lý các đội sản xuất được điều động đến các vùng khai thác mới.

c) Vật liệu xây dựng: Ápdụng thống nhất thang lương 7 bậc (có bội số 2,5) cho ngành sản xuất vật liệuxây dựng; đặt khoản phụ cấp lương 10% cho công nhân vật liệu xây dựng; khoản phụcấp này cũng áp dụng cho cả cán bộ, nhân viên quản lý ở những công trường khaithác vật liệu xây dựng.

d) Dệt: Đặt khoản phụ cấplương 8% cho công nhân dệt (bao gồm dệt vải, sợi, nhuộm, in hoa, dệt tơ và côngnhân phục vụ trực tiếp trong dây chuyền sản xuất ngành dệt).

đ) Thủy sản: Điều chỉnh mứclương của công nhân, viên chức các tầu, thuyền đánh cá theo nhóm tầu, phân biệtgiữa ngày làm việc trên bờ với ngày tầu ra biển sản xuất bằng một khoản phụ cấpngày đi biển đánh cá, nhưng không được cao hơn mức lương công nhân tầu vận tảiđi biển.

e) Bốc xếp: Đặt khoản phụcấp lương từ 5% đến 10% cho công nhân bốc xếp, tùy theo loại hàng và tính chấtcông việc.

g) Nông nghiệp: Lương củacông nhân chăn nuôi tiểu gia súc được áp dụng thống nhất theo mức lương củacông nhân chăn nuôi đại gia súc; đặt khoản phụ cấp lương 8% cho công nhân chănnuôi và công nhân trồng trọt ở một số bộ phận nặng nhọc nhất; đặt khoản phụ cấplương 10% cho công nhân lái máy khai hoang, 5% cho công nhân lái máy kéo khác.

2. Đặt khoản phụ cấp từ5% đến 10% trên mức lương “nóng, độc hại” cho công nhân làm việc ở những nơinóng, độc hại thuộc các ngành luyện kim, hóa chất, cơ khí, điện và một số bộphận lao động đặc biệt “nóng, độc hại” thuộc các ngành khác.

3. Đặtkhoản phụ cấp từ 10% đến 30% lương cấp bậc cho thợ đặc biệt giỏi đã xếp tộtbậc của thang lương và một số bảng lương công nhân của Nhà nước, sau một thờigian 3 năm trở lên và vẫn còn phát huy tác dụng tốt đối với sản xuất. Áp dụngchế độ phụ cấp “thâm niên đặc biệt” hiện hành cho công nhân một số nghề mà điềukiện lao động đặc biệt có nhiều khó khăn.

4. Đặt khoản trợ cấpban đầu 50đ một người cho công nhân viên chức được điều động đến công tác ởnhững vùng kinh tế mới để sắm sửa các đồ dùng cần thiết.

5. Đối với cán bộ, nhânviên Nhà nước:

Trong năm 1974, được thực hiệnchế độ nâng bậc theo chỉ thị số 96-TTg ngày 30-4-1974 của Thủ tướng Chính phủ.Năm 1975 sẽ tiếp tục thực hiện chế độ nâng bậc từ đầu năm. Đồng thời Bộ Lao độngphải phối hợp với các ngành có liên quan nghiên cứu để trình Chính phủ quyết định:

a) Bổ sung bảng lương chức vụ củacán bộ nghiên cứu khoa học, giáo viên đại học, cán bộ kỹ thuật, trên cơ sở phânloại chức vụ, quy định tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại cán bộ;

b) Ban hành một số chế độ khuyếnkhích thích hợp đối với cán bộ, viên chức công tác ở miền núi, cán bộ, viên chứcđược điều động về cơ sở, đi xây dựng vùng kinh tế mới...;

c) Ban hành chế độ phụ cấp ngoạingữ cho công nhân, viên chức biết ngoại ngữ và phải ứng dụng ngoại ngữ vào côngtác ở một ngành cần thiết.

6. Đi đôi với các chủtrương nói trên, các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở, trong phạm vi trách nhiệmcủa mình, phải có kế hoạch tổ chức thực hiện đúng đắn các chế độ chính sách hiệnhành về tiền lương, tiền thưởng, như đã quy định tại điểm 6 phần III của Nghịquyết số 46-CP ngày 18-3-1974 của hội nghị liên tịch Hội đồng Chính phủ và Tổngcông đoàn Việt-nam. Trước mắt phải có kế hoạch cụ thể để “chấn chỉnh và mở rộngchế độ trả lương theo sản phẩm, trên cơ sở định mức lao động trung bình tiên tiến;thực hiện chế độ nâng cấp nâng bậc thường xuyên cho cán bộ, viên chức theo tiêuchuẩn, chế độ hiện hành và theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước”; “thực hiện chế độ tráchnhiệm vật chất của cán bộ, công nhân, viên chức đối với tài sản Nhà nước bị hưhỏng và mất mát; xử lý đối với trường hợp vi phạm kỷ luật lao động, đối với ngườilàm ra hàng xấu, sai phạm về kỹ thuật”... Đồng thời phải nghiên cứu trình Chínhphủ ban hành bổ sung sớm “các chế độ tiền thưởng nhằm khuyến khích lao động, sảnxuất và thực hành tiết kiệm như: thưởng đối với lao động có ngày công, giờ côngcao; thưởng về tăng chất lượng sản phẩm; thưởng tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu;thưởng sáng kiến phát minh; thưởng các đơn vị đăng ký nhận kế hoạch cao và thựchiện tốt kế hoạch đó, v.v…”

B. BẢO HIỂM XÃ HỘI, PHÚC LỢITẬP THỂ

1. Nghiên cứu bổ sung chếđộ trợ cấp nghỉ việc vì mất sức lao động, chế độ trợ cấp khi ốm đau, chế độthai sản đối với công nhân viên chức Nhà nước theo hướng phân biệt rõ ngày làmviệc được hưởng lương cao hơn ngày nghỉ việc chỉ tạm thời hưởng trợ cấp bảo hiểmxã hội; đãi ngộ thích đáng hơn những cán bộ, công nhân, viên chức làm việctrong môi trường nặng nhọc, độc hại, và những người có quá trình lao động cốnghiến; hạn chế những mặt tiêu cực trong lao động, sản xuất.

2. Cần củng cố và pháttriển các nhà ăn tập thể, các nhà trẻ, các lớp mẫu giáo và các sự nghiệp phúc lợikhác của công nhân, viên chức theo quy định ở điểm 5, phần III của nghị quyết số46-CP ngày 18-3-1974 của hội nghị liên tịch Hội đồng Chính phủ và Đoàn Chủ tịchTổng công đoàn Việt-nam.

III

Các chủ trương về tiền lương, bảohiểm xã hội, phúc lợi tập thể đề ra trên đây nhằm phục vụ nhiệm vụ, phương hướngkhôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc trong hai năm 1974-1975; việc tổ chứcthực hiện phải khẩn trương theo đúng thời hạn và trách nhiệm của các ngành nhưsau:

1. Những nội dung về côngtác tiền lương đã ghi từ điểm 1 đến điểm 4 ở mục A phần II được thi hành từ1-7-1974.

Bộ Lao động trong phạm vi tráchnhiệm của mình cùng bàn bạc với Tổng công đoàn Việt-nam và các ngành liên quanđề ra các văn bản hướng dẫn thi hành.

2. Những nội dung về côngtác bảo hiểm xã hội, phúc lợi tập thể đã ghi ở mục B phần II sẽ do Bộ Nội vụ, Tổngcông đoàn Việt-nam phối hợp với Bộ Tài chính và các ngành liên quan nghiên cứuvà trình đề án cụ thể lên Hội đồng Chính phủ xem xét quyết định.

3. Các ngành thương nghiệp,giá cả trong phạm vi trách nhiệm của mình phải có biện pháp tích cực phấn đấu từngbước ổn định giá cả, nhằm ổn định tiền lương thực tế của công nhân, viên chức.

4. Thủ trưởng các ngành,các cấp, các đơn vị cơ sở phối hợp chặt chẽ với tổ chức công đoàn, gắn chặt vớiphong trào thi đua lao động sản xuất và tiết kiệm để tổ chức thực hiện tốt nghịquyết này. Phải tận dụng điều kiện thuận lợi, khả năng hiện có ở ngành mình, địaphương mình mà chăm sóc đời sống, quan tâm cải thiện điều kiện lao động, giữgìn sức khỏe cho công nhân viên chức, tạo thêm điều kiện để không ngừng nângcao năng suất lao động và hiệu suất công tác.

5. Bộ Lao động và Tiểubang nghiên cứu cải tiến tiền lương hướng dẫn các ngành, các địa phương tổng kếtvà chuẩn bị phương án cải cách các chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, phúc lợitập thể, trình sớm lên Chính phủ xét để chuẩn bị cho việc thực hiện trong kế hoạch5 năm (1976 - 1980).

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG



Lê Thanh Nghị