HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 280-CP

Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 1977

NGHỊ QUYẾT

VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT,ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU VÌ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

I.

Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quyết định đường lối chung về cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế tronggiai đoạn mới, mà công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trongsuốt thời kỳ quá độ. Sau khi đã vạch rõ nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976-1980là “tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra mộtbước phát triển vượt bậc về nông nghiệp; ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp, ngưnghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm…, nghị quyết Đạihội đã đề ra nhiệm vụ phải tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, trước hết là sảnphẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài”.

Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành trung ương Đảng bàn vềnông nghiệp cũng quy định rõ ba nhiệm vụ của nông nghiệp là:

- Bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội;

- Bảo đảm nguyên liệu nông sản cho công nghiệp;

- Tạo nguồn hàng xuất khẩu.

Những nhiệm vụ phát triển kinh tế to lớn và cấp bách nói trênđặt ra yêu cầu phân bố lại lao động trong cả nước, tổ chức lại sản xuất, xâydựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trang bị lại cho cácngành kinh tế nhằm phấn đấu hoàn thành về cơ bản quá trình đưa nền kinh tế nướcta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong khoảng hai mươi năm.Từ đó, nhu cầu nhập khẩu thiết bị, vật tư, nhiên liệu, nguyên liệu rất lớn,ngay trong kế hoạch 5 năm 1976-1980 và còn tăng hơn nữa trong các kế hoạch sau,khi chúng ta đi vào xây dựng nền kinh tế quốc dân trên quy mô lớn. Mặc dù đượcsự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bạn và các tổ chứcquốc tế, công cuộc xây dựng lại đất nước và thực hiện công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa nước nhà chỉ có thể giải quyết bằng con đường dựa vào sức mình làchính, ra sức phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu.

Cho đến nay xuất khẩu của nước ta còn quá nhỏ. Kim ngạch xuấtkhẩu chỉ mới bằng 30% kim ngạch nhập khẩu. Hàng xuất khẩu rất manh mún, sốlượng từng loại rất ít, phẩm chất nói chung kém, nguồn hàng không ổn định.Ngoài than đá, ta chưa tạo được mặt hàng nào có số lượng lớn và giá trị caoxứng đáng là hàng chủ lực đáp ứng yêu cầu khách hàng trên thị trường thế giới.Cơ cấu hàng xuất khẩu của ta chưa phản ánh đúng tiềm năng kinh tế của đất nướcvà cũng chưa phù hợp với yêu cầu và xu hướng phát triển của thị trường thế giới.

II.

Đứng trước tình hình và nhiệm vụ mới, công tác xuất khẩu củata phải được chuyển biến nhanh chóng và rất cơ bản.

Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng Sản Việt Nam đãvạch rõ: “Tăng nhanh xuất khẩu bằng cách phát huy khả năng lớn của nông nghiệp,lâm nghiệp nhiệt đới, tận dụng khả năng của công nghiệp nhẹ, tiểu công nghiệpvà thủ công nghiệp; đẩy mạnh khai thác một số hải sản và khoáng sản có trữlượng khá, tiến tới xuất khẩu một số mặt hàng công nghiệp nặng”.

Cả nước phải phấn đấu tăng nhanh tốc độ xuất khẩu hàng nămnhằm đáp ứng với mức ngày càng cao yêu cầu của nhập khẩu, nhanh chóng giảm nhậpsiêu để sau một thời gian không dài có thể thăng bằng xuất nhập. Trước hết phấnđấu tích cực để đến năm 1985 tổng trị giá xuất khẩu bảo đảm nhập khẩu máy lẻ,phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu và những hàng tiêu dùng thiết yếu.

Để đạt được mục tiêu chung đó, phải rấp rút quy hoạch và có kếhoạch phát triển sản xuất tập trung, có khối lượng lớn, tạo nguồn hàng xuất khẩuphù hợp với xu hướng phát triển của thị trường thế giới. Trong điều kiện hiệnnay phải ra sức phát huy khả năng sẵn có của mọi ngành kinh tế đã và đang thamgia xuất khẩu, mở rộng và cải tiến sản xuất, tăng mạnh thêm số lượng, nâng caochất lượng hàng hóa xuất khẩu; đồng thời phải tích cực đầu tư xây dựng cơ sởsản xuất mới theo quy mô lớn và kỹ thuật hiện đại tạo nên những mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực có giá trị cao, có vị trí xứng đáng trên thị trường quốc tế; chútrọng đẩy mạnh các loại hàng xuất khẩu quan trọng sau đây:

1. Về nông sản:

Với 50 vạn hécta đã được trung ương Đảng quyết định dành choxuất khẩu trong kế hoạch này, Bộ Nông nghiệp và các Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố phải nhanh chóng quy vùng sản xuất, kết hợp việc đẩy mạnh sản xuất các loạinông sản ngắn ngày với việc gấp rút bố trí kế hoạch sản xuất các nông sản dàingày, tạo nên những vùng chuyên canh sản xuất lớn về nhiều loại sản phẩm, mỗiloại có hàng vạn đến hàng chục vạn tấn với phẩm chất đồng đều, đạt tiêu chuẩncủa thị trường thế giới. Trước hết đi đôi với việc bảo đảm lương thực cho nhucầu xã hội, phải ra sức phát triển: lạc, vừng, đậu tương và các loại đậu khác,dứa, chuối, đay, cói, tơ tằm, thầu dầu, thuốc lá, các cây tinh dầu là nhữngloại cây khắp nơi nhân dân đã quen trồng. Đồng thời dựa trên những nông trườngsẵn có của trung ương và địa phương cũng như nông trường của quân đội, nhữngvùng đất đỏ đã được điều tra và quy hoạch, những vùng kinh tế mới… xúc tiếnngay việc mở rộng và phát triển các diện tích trồng các cây cam, bưởi, chanh,chè, cà-phê, ca-cao, hồ tiêu, cao-su, trẩu, sở, lai, cọ dầu…Cần có kế hoạch mởrộng diện tích gieo trồng vụ đông xuân và xem xét những vùng có đất đai thíchhợp để trồng các loại rau xuất khẩu, tập trung vào mấy loại như cải bắp hoa, càchua, dưa chuột, hành tây, tỏi; chú ý phát triển các loại nấm và mộc nhĩ lànhững mặt hàng dễ sản xuất và có giá trị cao. Cần khoanh vùng phát triển giasúc xuất khẩu (lợn, bò và gia cầm), tích cực cải tạo giống, giải quyết vấn đềchuồng trại, thức ăn và biện pháp miễn dịch.

Ngành nông nghiệp cần chủ động chuẩn bị để trên cơ sở nhữngkết quả đã đạt được trong kế hoạch 5 năm 1976-1980 này, phải cố gắng trong mộtthời gian ngắn tiếp theo, đưa diện tích các loại cây trồng để xuất khẩu lên 1triệu hécta; trong bước thứ hai này chú ý nhiều vào cây dài ngày và những câycó giá trị kinh tế cao.

Phấn đấu theo phương hướng trên, toàn bộ nông sản xuất khẩuđến năm 1980-1981 phải bảo đảm được yêu cầu nhập phân bón, xăng dầu, thuốc trừsâu và phụ tùng cho các máy nông nghiệp và đến năm 1985 phải bảo đảm cân đốiđược nhu cầu nhập khẩu cho toàn bộ nông nghiệp.

2. Về lâm sản.

Đi đôi với việc bảo đảm nhu cầu trong nước, phải tổ chức khaithác và chế biến tốt các loại lâm sản có khối lượng xuất khẩu lớn, mặt khác dựatrên phân vùng nông nghiệp và lâm nghiệp, phải bảo vệ rừng và xúc tiến trồngcác loại cây có hiệu quả kinh tế cao như cây làm giấy và bột sợi… Phải sớm cókế hoạch khai thác hợp lý những dải rừng có nhiều gỗ quý ở miền Nam như láthoa, thông trắng, gỗ dầu, gỗ có màu sắc đặc biệt, những lâm sản nhiệt đới nhưquế, hồi, sa nhân, thảo quả, ba kích, cánh kiến trắng và đỏ; phải phát triểntrồng và khai thác các cây dược liệu phong phú của ta, tạo ra một nguồn hàngxuất khẩu có giá trị lớn. Phải xây dựng công nghiệp chế biến gỗ, gỗ xẻ, gỗ dán,gỗ lạng, gỗ ép, ván sàn thành phẩm, đồ gỗ gia dụng để tăng giá trị xuất khẩucủa gỗ; phải phát triển công nghiệp chưng cất các loại tinh dầu, dầu thông, dầutùng tiêu, chất chát thuộc da; tận dụng khả năng mây, tre, trúc, nứa, lá cọ, lábuông rất lớn của ta để làm hàng xuất khẩu. Phải tích cực phấn đấu để toàn bộlâm sản xuất khẩu đến cuối kế hoạch này (1976-1980) đầu kế hoạch sau chẳngnhững bảo đảm được toàn bộ yêu cầu nhập khẩu của ngành lâm nghiệp mà còn cóthêm nguồn tích lũy ngoại tệ để góp phần trang bị cho các ngành kinh tế khác.

3. Về hải sản

Cùng với việc phát triển nhanh các cơ sở đánh bắt, bảo quản vàchế biến hải sản, cần phải tổ chức nuôi trên quy mô lớn và theo phương pháptiên tiến các loại tôm, cá nước lợ, ngọc trai, đồi mồi… Với hơn 3000 cây số bờbiển và với những điều kiện thiên nhiên vô cùng thuận lợi, ngành hải sản phảisớm trở thành một ngành sản xuất những loại hàng xuất khẩu chủ lực, chẳng nhữngbảo đảm nhập khẩu đủ các phương tiện đánh bắt, bảo quản, chế biến và nghiên cứukhoa học để hiện đại hóa ngành mình, mà còn phải tăng tích lũy ngoại tệ của Nhànước để phát triển nền kinh tế quốc dân.

4. Về sản phẩm công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm.

Cần tận dụng và nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sở sẵncó để đẩy mạnh việc gia công xuất khẩu, đồng thời gấp rút xây dựng thêm một sốcơ sở mới, hiện đại, có khả năng sản xuất những mặt hàng phẩm chất tốt, đạttiêu chuẩn kỹ thuật cao, giá thành hạ, có sức cạnh tranh để giữ vững thịtrường; chú trọng ngành may mặc; giày dép, cao su, đồ dùng thể dục thể thao,lắp ráp dụng cụ và thiết bị điện tử.

Về công nghiệp thực phẩm cần phát triển rau quả đông lạnh,công nghiệp nước quả, đồ hộp xuất khẩu (dứa, cam, bưởi, đu đủ, cà chua, dưachuột, nấm, thịt gà, thỏ…).

Tích cực phấn đấu để hàng công nghiệp nhẹ và công nghiệp thựcphẩm xuất khẩu đến năm 1980-1981 đủ bảo đảm nhập nguyên liệu và phụ tùng chongành mình, và đến năm 1985 tích lũy ngoại tệ có vốn dùng để từng bước đổi mớitrang bị.

5. Về sản phẩm tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp.

Phát huy khả năng lao động dồi dào và bàn tay khéo léo củanhân dân: cần khôi phục các nghề truyền thống dựa vào nguyên liệu trong nước làchủ yếu, đồng thời phát triển có tính toán hiệu quả kinh tế những nghề sử dụngnguyên liệu nhập khẩu, chú ý cả các mặt hàng thông thường và mỹ nghệ phẩm: mâytre đan, mành trúc, thảm đay, thảm cói, thảm ngô, thảm len, hàng thêu, đồ khảm,đồ chạm, gốm, sứ, sơn mài, đồ sừng, ngà voi, đồi mồi, đồ bạc v.v…

Nhà nước giúp đỡ các cơ sở sản xuất tiểu công nghiệp và thủcông nghiệp tổ chức lại sản xuất, chú ý nâng cao trình độ kỹ thuật và mỹ thuật,nắm vững yêu cầu của thị trường và nhạy cảm với thị hiếu của người mua để ngàycàng tăng được khối lượng và mặt hàng xuất khẩu, tạo ra nhiều việc làm, tăngthu nhập quốc dân và góp phần tăng tích lũy cho Nhà nước.

6. Về sản phẩm công nghiệp nặng

Trong những năm tới, cần khẩn trương điều tra, khảo sát và tậptrung vốn đầu tư khai thác một số tài nguyên có trữ lượng khá và giá trị cao,vừa đáp ứng nhu cầu trong nước, vừa tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có sức hấp dẫnthị trường nước ngoài, làm đòn bẩy để nhập khẩu những thiết bị hiện đại vànguyên liệu khó nhập nhằm xây dựng những ngành công nghiệp then chốt của ta.

Phải phát triển nhanh các cơ sở sản xuất than, dầu mỏ,a-luy-min, chì, kẽm, apatit, phân lân kép, axit phốt – phô rích.

Sản phẩm cơ khí là những mặt hàng đòi hỏi trình độ kỹ thuậtcao mà công nghiệp của ta còn đang ở bước đầu xây dựng, nhưng cũng phải cố gắngđi vào sản xuất để xuất khẩu, trước hết là xuất khẩu những sản phẩm cơ khí tiêudùng và phụ kiện, linh kiện máy rồi dần dần tiến lên xuất khẩu thiết bị.

Trên đây là những phương hướng phát triển sản xuất các mặthàng xuất khẩu. Những phương hướng đó phải được quán triệt trong kế hoạchdài hạn phát triển nền kinh tế quốc dân cũng như trong kế hoạch hàng năm, đồngthời phải được quán triệt trong quy hoạch cũng như trong kế hoạch sản xuất củamỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi đơn vị cơ sở, kể cả trong quy hoạch và kế hoạchcủa các lực lượng bộ đội làm kinh tế.

III.

Để thực hiện phương hướng và mục tiêu xuất khẩu nói trên, Hộiđồng Chính phủ đề ra một số chủ trương, chính sách và biện pháp cụ thể sau đây:

1. Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất tạo nguồn hàngxuất khẩu

Sản phẩm xuất khẩu là một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội,yêu cầu về phẩm chất lại cao hơn sản phẩm tiêu dùng trong nước; vì vậy đầu tưxây dựng cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu chẳng những phải có một vị trí thíchđáng trong chính sách và kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế quốc dân của Nhànước và của từng ngành, từng địa phương, mà còn phải chú ý đầy đủ đến đặc thùcủa hàng hóa xuất khẩu.

Trong điều kiện hiện nay, để tăng nhanh khối lượng và nâng caochất lượng hàng xuất khẩu nhằm tranh thủ thị trường, một mặt phải đầu tư vàocác cơ sở sản xuất sẵn có bằng cách hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, hoặc đổimới thiết bị ở các khâu quyết định công suất và chất lượng sản phẩm; mặt khácphải có kế hoạch đầu tư xây dựng các cơ sở mới, trang bị những thiết bị và kỹthuật hiện đại nhất.

Cùng với việc đầu tư trực tiếp vào sản xuất, phải đầu tư vàocác khâu bao bì đóng gói, bảo quản, bốc xếp, vận tải… để bảo đảm cả quá trìnhsản xuất và xuất khẩu.

Khi xét duyệt kế hoạch đầu tư, nên chú trọng một cách thíchđáng và tạo điều kiện thuận lợi nhất đối với các công trình sẽ sản xuất hàngxuất khẩu hoặc trực tiếp phục vụ đẩy mạnh xuất khẩu.

Ngân hàng Nhà nước cần mở rộng tín dụng với điều kiện thuậnlợi kể cả cho vay ngoại tệ, để khuyến khích các xí nghiệp, các nông trường, cáchợp tác xã phát triển sản xuất hàng xuất khẩu.

- Trong sản xuất nông sản xuất khẩu trên cơ sở hướng đầu tưchung của nông nghiệp Nhà nước sẽ đặc biệt chú trọng đầu tư vào khâu tổ chứcsản xuất giống cây và con; bảo đảm thủy lợi và cung cấp phân bón cho cây trồng;sản xuất và cung ứng thức ăn tổng hợp tiêu chuẩn cho gia súc.

- Trong sản xuất thủy sản xuất khẩu, Nhà nước cần đầu tư khôngnhững để trang bị các phương tiện đánh bắt mà còn phải chú ý xây dựng các cơ sởhậu cần, các cơ sở chế biến và bảo quản. Về việc nuôi tôm theo phương pháp hiệnđại, có thể nghiên cứu vấn đề hợp tác với nước ngoài để đạt hiệu quả cao.

- Trong sản xuất lâm sản xuất khẩu, Nhà nước chú trọng đầu tưvào khâu vận tải và chế biến, trước mắt là chế biến gỗ dán, gỗ ép, gỗ lạng, vánsàn thành phẩm, đồ gỗ xuất khẩu.

- Trong sản xuất tiểu thủ công xuất khẩu, chú trọng giúp đỡcác cơ sở trong việc giải quyết khâu khai thác và sơ chế nguyên liệu, cung ứngvật tư kỹ thuật, xây dựng và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật, mở lớp dạynghề, đào tạo cán bộ quản lý,…

- Trong sản xuất hàng tiêu dùng và thực phẩm xuất khẩu chútrọng đầu tư trang bị kỹ thuật hiện đạo và đồng bộ dây chuyền cho các ngànhsợi, vải, may mặc, da, cao su, giày dép, gốm sứ, thủy tinh; cho công nghiệp baobì; cho công nghiệp đông lạnh, nước quả, đồ hộp.

- Trong việc khai thác tài nguyên để xuất khẩu, cần tranh thủthiết bị hiện đại trong vấn đề hợp tác với các nước anh em trên tinh thần quốctế xã hội chủ nghĩa hoặc hợp tác với các nước khác trên nguyên tắc bình đẳng,đôi bên cùng có lợi.

Đi đôi với việc đầu tư để cải tạo và mở rộng các cơ sở sảnxuất sẵn có hoặc để xây dựng những cơ sở sản xuất mới cần phải tăng cường quảnlý tốt các cơ sở đó để tăng nguồn thu ngoại tệ trả nợ nước ngoài và góp phầnphát triển nhanh chóng các ngành kinh tế quốc dân.

2. Phát triển ngành nghề, tạo thêm việc làm ở nông thôn vàthành thị tận dụng mọi lực lượng lao động để làm hàng xuất khẩu

Ưu thế lớn nhất của ta là có nguồn lao động dồi dào. Cần có kếhoạch và biện pháp sử dụng mọi lực lượng lao động vào việc phát triển hàng xuấtkhẩu, và qua việc tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu mà thúc đẩy sự phân công laođộng xã hội và nâng cao kỹ năng lao động.

- Về sử dụng lao động ở nông thôn :

Qua việc quy hoạch các vùng chuyên canh hay mở rộng tăng vụsản xuất hàng xuất khẩu, cần giao việc phân loại và sơ chế nông sản (kể cả đónggói bao bì) cho hợp tác xã, hướng dẫn các cơ sở làm tốt các công việc này; cầnquy hoạch hợp lý việc phát triển các nghề thủ công dựa trên nguồn nguyên liệunông sản (thảm đay, cói, xơ dừa, hàng mây tre, song, lá, buông…) nhằm thực hiệnphân công lao động tại chỗ. Đối với các vùng kinh tế mới, kế hoạch điều độnglao động tới cần được gắn liền với việc xác định ngay phương hướng sản xuất vàtăng cường bộ khung lãnh đạo. Đi đôi với những chủ trương và biện pháp nói trênphải bảo đảm cung cấp lương thực theo đúng chính sách của Nhà nước đã quy địnhđối với từng vùng, từng đối tượng. Giải quyết tốt vấn đề nói trên là nhằm thúcđẩy một phong trào sản xuất hàng xuất khẩu mạnh mẽ trong nông nghiệp và thủcông nghiệp ở nông thôn.

- Về sử dụng lao động ở thành thị:

Phải phát triển những ngành nghề thích hợp, tận dụng lao độngcó kỹ thuật, có trình độ văn hóa để sản xuất những mặt hàng như đồ điện, sảnphẩm cơ khí, lắp ráp điện tử, đồ da, mạy mặc, thảm len, hàng thêu, sơn mài, đồimồi, gốm sứ. Phải đặc biệt chú ý tổ chức dạy nghề, đào tạo lớp thợ trẻ, đồngthời bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho thợ cũ nhằm cải tiến kỹ thuật, nâng caophẩm chất hàng hóa. Nhà nước sẽ đài thọ cho các lớp đào tạo và bồi dưỡng này;có chính sách ưu đãi đối với nghệ nhân, sử dụng họ vào việc truyền lại kỹ năngcho thợ mới và đào luyện thợ giỏi. Các ngành công nghiệp, các xí nghiệp quốcdoanh cần hướng dẫn kỹ thuật cho các hợp tác xã tiểu công nghiệp và thủ côngnghiệp. Liên hiệp hợp tác xã, các trường đại học, viện nghiên cứu cần đi sátcác cơ sở để giúp cải tiến quản lý, sáng tác đề tài, tạo mẫu hàng mới v.v…

3. Chính sách tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta là nhằmkhông ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Nhưng trong thời kỳ thực hiện côngnghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà, khi mà sản phẩm xã hội làm ra chưa dồidào, lại phải tập trung sức xây dựng công nghiệp, thì thường có mâu thuẫn giữanhư cầu trong nước và nhu cầu xuất khẩu. Cần giải quyết vấn đề này một cáchđúng đắn.

Chính sách tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trước hết phảiđược thể hiện trong kế hoạch Nhà nước theo tinh thần ưu tiên dành cho nhucầu trong nước những hàng thiết yếu đối với sản xuất và đời sống nhân dân(lương thực, thịt lợn, cá, đường, vải, giấy, thuốc chữa bệnh, hàng tiêu dùngthông thường), đồng thời tiết kiệm tiêu dùng những loại hàng có giá trịtrên thị trường thế giới mà đời sống không đòi hỏi cấp bách (lạc, đậu, chè,cà-phê, tôm, mực, thịt bò, nước quả, đồ hộp, và các hàng công nghiệp phẩm chấtcao…) để xuất khẩu.

Cần phổ biến rộng rãi chính sách nói trên để cán bộ và nhândân có ý thức quán triệt trong đời sống hàng ngày. Trường hợp gặp mâu thuẫngiữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu cần xem xét cụ thể để giải quyết theotinh thần trong nước cố gắng chịu đựng khó khăn để bảo đảm thực hiện nghiêmchỉnh những cam kết với nước ngoài và giữ tín nhiệm quốc tế.

4. Chính sách giá thu mua hàng xuất khẩu

Giá thu mua hàng xuất khẩu thuộc hệ thống giá cả chung trongnước, do đó phải theo chính sách và nguyên tắc quản lý giá cả chung của Nhànước. Các sản phẩm cùng tiêu chuẩn và phẩm chất như nhau thì giá ngang nhau.Hàng xuất khẩu thường đòi hỏi tiêu chuẩn và phẩm chất cao hơn, hình dáng, mẫumã đẹp hơn, bao bì đóng gói kỹ hơn nên khi định giá cần có chênh lệch hợp lý đểkhuyến khích sản xuất. Đối với những hàng mới sản xuất lần đầu để xuất khẩu màgiá thành cao hơn giá bán thì Nhà nước có thể trợ giá trong một vài vụ nhấtđịnh. Các ngành phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao phẩm chất, hạ giá thành, làmcho hàng xuất khẩu của ta dần dần tranh thủ được thị trường một cách vững chắc.

Hàng xuất khẩu cũng phải đóng thuế theo các chế độ thuế nhưhàng nội địa. Nhưng khi xuất ra nước ngoài thì không đánh thuế xuất khẩu. Cácđịa phương không được tự ý đặt ra các khoản thu đối với hàng xuất khẩu để tăngthu cho ngân sách địa phương.

Nghiêm cấm các hành động của mọi ngành và địa phương tự tiệnđẩy giá thu mua và giá bán lên cao, chỉ cốt mua và bán cho được hàng, khôngtheo những quy định giá cả chung của Nhà nước, không xét đến tác hại đối vớinền kinh tế, quốc dân. Các cơ quan kinh doanh ngoại thương phải tính toán kỹhiệu quả kinh tế trong khi kinh doanh hàng xuất khẩu, phải phấn đấu hạ phí lưuthông cả khâu trong nước và ngoài nước.

Đầu năm kế hoạch, Bộ Ngoại thương cùng với Bộ Tài chính xemxét ngân sách đối với hàng xuất khẩu. Trường hợp có mặt hàng lỗ quá đáng thìkhông nên xuất khẩu nữa. Trường hợp có mặt hàng phải bù đến 30% trở lên so vớigiá thành xuất khẩu, Bộ Ngoại thương phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xétvà quyết định.

Các ngành sản xuất và lưu thông phải tiết kiệm triệt để vàgiảm bớt các khâu trung gian để hạ giá thành. Ngành giao thông phải phấn đấu hạgiá cước. Ngành ngoại thương phải nâng cao trình độ nghiệp vụ ở mọi khâu để bảođảm cho hàng bán ra nước ngoài không bị mất giá.

Phải hết sức phấn đấu giảm phí lưu thông nhằm khuyến khích sảnxuất và xuất khẩu, đồng thời phải tìm cách nhập với giá có lợi nhất những thiếtbị và phụ tùng nguyên liệu, kịp thời đẩy mạnh sản xuất, nâng cao phẩm chất hànghóa nói chung và nhất là hàng xuất khẩu nói riêng để giảm mức bù lỗ thấp nhấtcho Nhà nước.

5. Chính sách thưởng hoàn thành hoặc hoàn thành vượt mức kếhoạch xuất khẩu.

Cần nghiên cứu sửa đổi hoặc bổ sung Quyết định số 151-CP ngày01-7-1974 của Hội đồng Chính phủ về thưởng xuất khẩu cho thích hợp với yêu cầutrong hoàn cảnh mới:

- Thưởng bằng tiền trong nước hoặc bằng hiện vật cho các cơ sởsản xuất hoàn thành kế hoạch xuất khẩu, kể cả những cơ sở đã tạo ra nguồnnguyên liệu cho sản xuất để xuất khẩu.

- Cho phép các ngành, các địa phương được sử dụng số ngoại tệthu được do thực hiện vượt mức kế hoạch xuất khẩu để nhập ngoài kế hoạch nhữngthiết bị, vật tư cần thiết nhằm mở rộng cơ sở sản xuất hoặc xây dựng thêm cơ sởsản xuất theo nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ II.

- Trên nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến các mặt hàng sảnxuất theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước và phải hoàn thành kế hoạch xuất khẩu, chophép Bộ Ngoại thương bàn bạc với các ngành, các địa phương, các xí nghiệp kýkết với các Tổng công ty xuất nhập khẩu những mặt hàng chưa ghi trong chỉ tiêukế hoạch Nhà nước (khi có yêu cầu của thị trường bên ngoài) để tận dụng mọi khảnăng tiềm tàng tăng nguồn hàng xuất khẩu. Bộ Ngoại thương phải hoàn toàn chịu tráchnhiệm về những mặt hàng này và báo cáo cho Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Kếhoạch Nhà nước biết. Số ngoại tệ thu được cũng dùng vào mục đính như trên.

6. Quỹ ngoại tệ giải quyết những biến động bất thường trongsản xuất hàng xuất khẩu.

Trong điều kiện kinh tế của ta hiện nay, sản xuất thường gặpnhững biến động bất thường do mất cân đối trong nền kinh tế gây ra. Để ứng phókịp thời, nhằm bảo đảm thực hiện những hợp đồng đã ký kết với nước người cũngnhư để tranh thủ những thị trường mới (hay khách hàng mới) tranh thủ thời cơ cólợi nhất cần thành lập một quỹ dự trữ ngoại tệ bằng khoảng 5% giá trị xuất khẩuhàng năm để nhập khẩn cấp những vật tư, thiết bị phụ tùng nhằm đáp ứng yêu cầucủa các ngành và các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu. Quỹ này do Bộ trưởng BộNgoại thương quản lý và được chi cho những yêu cầu nói trên. Bộ trưởng Bộ Ngoạithương có trách nhiệm bảo đảm thu lại số ngoại tệ cao hơn số đã chi ra để tăngthêm nguồn thu ngoại tệ cho Nhà nước.

7. Cải tiến công tác kế hoạch hóa xuất khẩu cho phù hợp vớitình hình kinh tế của ta.

Xuất khẩu là sự trao đổi buôn bán với nước ngoài, dù với Nhànước hay tư nhân, cũng là sự cam kết quốc tế phải thực hiện nghiêm túc. Do đóchỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu phải vững chắc và có tính pháp lệnh.

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước khi đề ra và tổng hợp kế hoạch xuấtkhẩu phải xem xét cân đối mọi mặt cho các ngành, các địa phương, các xí nghiệp:cân đối giữa chỉ tiêu sản xuất với chỉ tiêu nguyên liệu, vật tư (kể cả nguyênliệu làm bao bì), chỉ tiêu lao động; cân đối giữa khối lượng hàng xuất khẩu vớiphương tiện vận tải, kho tàng, khả năng bốc xếp tại cảng… Phải đề cao tính pháplệnh của kế hoạch xuất khẩu (sản xuất và giao hàng cho ngoại thương) và đòi hỏicác ngành phải nghiêm túc thực hiện; năm trước không làm đủ thì phải chuyểnsang năm sau kiên quyết có kế hoạch phấn đấu bù và bảo đảm thực hiện trong kếhoạch mới.

Kế hoạch xuất khẩu phải có tính pháp lệnh cao, nhưng đồng thờicũng phải mềm dẻo, vì khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế của ta còn nhiều,ngay cả trong các ngành kinh tế quốc doanh cũng chưa được phát huy hết; mặtkhác kế hoạch cũng chưa dự kiến đầy đủ các yêu cầu của thị trường nước ngoài,nhất là thị trường tư bản, cho nên có loại hàng chỉ nên ghi kim ngạch mà chưanên ghi chỉ tiêu cụ thể; ngành ngoại thương sẽ tiếp xúc với thị trường để xácđịnh cụ thể hoặc bổ sung trong quá trình thực hiện. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước,Ngân hàng Nhà nước và các ngành khác cần tạo điều kiện và giúp ngoại thươngtrong việc thực hiện nhiệm vụ này.

8. Cải tiến tổ chức và quan hệ giữa các ngành, các cấptrong sản xuất tạo nguồn hàng xuất khẩu

Sản xuất tạo ra nguồn hàng xuất khẩu trước hết là trách nhiệmcủa các ngành quản lý sản xuất, các địa phương, các cơ sở sản xuất.

Các ngành quản lý sản xuất, các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương cần có bộ phận chuyên trách giúp nghiên cứu và đôn đốc thực hiện kếhoạch sản xuất và giao hàng xuất khẩu; phải phân công một đồng chí phụ tráchcông tác xuất khẩu.

Ở các tỉnh, thành phố có thể lập một tổ chức kinh doanh hàngxuất khẩu làm nhiệm vụ thu mua, bao bì, bảo quản và giao nhận hàng xuất khẩu.

Ở cấp huyện, tùy theo nguồn hàng xuất khẩu nhiều hay ít, sảnxuất phân tán hay tập trung mà tổ chức các trạm thu mua, hoạt động thường xuyênhay theo thời vụ.

Cần chấn chỉnh lại tổ chức thu mua, có sự phân công và phốihợp chặt chẽ giữa các ngành, bảo đảm mỗi mặt hàng chỉ có một tổ chức thu mua vàphân phối cho các ngành theo kế hoạch Nhà nước, trước hết chọn hàng tốt, đủtiêu chuẩn giao xuất khẩu. Phải nghiên cứu cải tiến tổ chức thu mua, nhất là ởcấp huyện, nơi trực tiếp với hợp tác xã, sao cho việc thu mua một loại hàng vàcung ứng vật tư sản xuất cho loại hàng ấy, đều tập trung vào một tổ chức, thôngqua hợp đồng kinh tế hai chiều để bảo đảm kế hoạch được thực hiện như các chỉtiêu đã định.

Đặc biệt cần phân công lại giữa nội thương và ngoại thươngtheo nguyên tắc loại hàng chuyên xuất hoặc phần lớn dành để xuất khẩu thì dongoại thương trực tiếp thu mua; loại hàng phần lớn dành cho tiêu dùng trongnước thì do nội thương thu mua, nhưng chọn loại tốt, đủ tiêu chuẩn giao choxuất khẩu. Cần giúp đỡ một số tỉnh hoặc thành phố tổ chức và quản lý các cơ sởcung ứng dịch vụ cho tàu biển và máy bay nước ngoài bảo đảm phát triển xuấtkhẩu tại chỗ theo sự hướng dẫn của Bộ Ngoại thương. Cần có kế hoạch phát triểnnhanh ngành du lịch để tăng nguồn thu ngoại tệ; phải nghiên cứu tổ chức vàphương thức quản lý của ngành du lịch nhằm phát huy hiệu quả và ảnh hưởng tốtcủa hoạt động du lịch.

Ngành ngoại thương phải nghiên cứu sắp xếp tổ chức cho có hiệulực, nâng cao trình độ cán bộ ngoại thương về hiểu biết kinh tế, nghiệp vụ, kỹthuật, luật pháp, ngoại ngữ. Cán bộ ngoại thương phải nắm vũng đường lối pháttriển kinh tế đối ngoại của Đảng, hiểu biết khả năng và nhu cầu trong nước,hiểu biết thị trường nước ngoài để mở rộng xuất khẩu và nhập khẩu.

Tùy theo yêu cầu, ngành ngoại thương có thể cử cán bộ trựctiếp đến các cơ sở sản xuất thuộc các ngành, các địa phương quản lý để hướngdẫn và đôn đốc việc thực hiện kế hoạch sản xuất và giao hàng xuất khẩu.

Các ngành tổng hợp có quan hệ đến sản xuất và lưu thông phảicải tiến nghiệp vụ quản lý, soát loại các chế độ, chính sách, phát huy tác dụngtích cực trong việc phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt ngànhgiao thông vận tải phải ra sức phát triển và cải tiến công tác vận tải, giảiquyết tốt việc vận tải trong nước và bốc dỡ ở cảng để phục vụ đắc lực và kịp thờicông tác xuất nhập khẩu của Nhà nước.

9. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục.

Các ngành, các cấp phải làm cho mọi người, từ cán bộ, côngnhân viên các cơ sở sản xuất, các cơ quan Nhà nước, đến các đoàn thể quần chúngvà các xã viên các hợp tác xã, nhận thức được tính chất và vị trí quan trọngcủa xuất khẩu đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thấy rõ trách nhiệmcủa mình trong sản xuất, tiết kiệm tiêu dùng, dành nhiều hàng và hàng tốt đểđẩy mạnh xuất khẩu.

Giáo dục tinh thần tự lực cánh sinh, ý thức tự hào dân tộc chonhân dân nói chung, trước hết là cho cán bộ và công nhân trong các ngành sảnxuất, cho xã viên các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu công nghiệp và thủ côngnghiệp để mọi người ra sức phấn đấu làm ra nhiều hàng xuất khẩu có chất lượngtốt, tạo ra nhiều mặt hàng mới, giao hàng đúng kế hoạch, thi hàng đúng đắn cáccam kết với nước ngoài. Kiên quyết chống các tư tưởng ỷ lại vào nhập khẩu, dễlàm khó bỏ, làm dối, làm ẩu chỉ vì lợi riêng để ảnh hưởng đến phẩm chất hànghóa, đến kế hoạch xuất khẩu, đến sự tín nhiệm ngoại thương trên thị trường thếgiới.

Cần kết hợp chương trình tuyên truyền giáo dục của các đoànthể với việc tuyên truyền ý thức đối với xuất khẩu. Vận dụng tốt các phươngtiện báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình trong việc tuyên truyền,giáo dục ý thức đối với xuất khẩu.

Ngành ngoại thương phải biết mở rộng tuyên truyền với các mặthàng và sản phẩm của ta bằng nhiều hình thức (quảng cáo, cửa hàng, dự hội chợv.v… ) trên thị trường thế giới.

10. Tăng cường sự chỉ đạo và lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Phát triển sản xuất tạo nguồn hàng đẩy mạnh xuất khẩu là mộtnhiệm vụ to lớn cực kỳ quan trọng để xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật và cảithiện đời sống nhân dân trong quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhànên đòi hỏi phải có sự lãnh đạo và chỉ đạo tập trung và có hiệu lực của Đảng vàNhà nước. Các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp phải coi công tác sản xuấthàng xuất khẩu là một trong những nhiệm vụ quan trọng, phải quan tâm thườngxuyên, thể hiện không những trong phương hướng của ngành, địa phương mà cònphải chỉ đạo cụ thể, năng kiểm tra, đôn đốc thực hiện cho được các chỉ tiêu kếhoạch hàng năm và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để mỗi năm đều tăng xuấtkhẩu trong kế hoạch 5 năm.

Các ngành, các cấp phải đề cao tinh thần trách nhiệm trướcĐảng, Chính phủ và nhân dân, kịp thời đề đạt với trung ương Đảng và Chính phủnhững chính sách, biện pháp để thực hiện cho được phương hướng và mục tiêu đẩymạnh xuất khẩu trong thời gian tới.

Vì sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa đưa nước nhàtiến lên một nền sản xuất lớn có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, văn hóavà khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, phải đẩy mạnh xuất khẩu. Muốn đẩymạnh xuất khẩu phải phát triển sản xuất, tạo nguồn hàng với khối lượng lớn, tậptrung và phẩm chất tốt. Đó là một trong những vấn đề có tầm quan trọng bậc nhấttrong hoạt động kinh tế nước ta hiện nay.

Toàn thể cán bộ và nhân dân, các ngành và các địa phương hãyđi sát phong trào sản xuất, ra sức cải tiến tổ chức và quản lý sản xuất pháthuy khí thế cách mạng tiến công, nhanh chóng tạo nên bước chuyển biến mới trongsản xuất và xuất khẩu, tranh thủ thời cơ thuận lợi đưa xuất khẩu nước ta tăngnhanh, tương xứng với khả năng của nền kinh tế và với vị trí chính trị của nướcta trên trường quốc tế.

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

PHÓ THỦ TƯỚNG

Phạm Hùng