HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc*********

Số : 289-CP

Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 1977

NGHỊ QUYẾT

VỀCHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ NHẰM TRIỂN KHAI VIỆC TỔ CHỨC VÀ CHỈĐẠO THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ HAI CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG.

Hội đồng Chính phủ trong phiênhọp cuối tháng 9 và đầu tháng 10 năm 1977 đã thảo luận và quyết định những việcchính phải làm nhằm quán triệt của Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành trungương Đảng vào việc xây dựng kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980) và kế hoạch Nhànước năm 1978, cũng như trong việc chỉ đạo thực hiện các kế hoạch đó. Đây là nhữngviệc mở đầu cho cả quá trình thực hiện nghị quyết của trung ương, giải quyếtnhững vấn đề cấp bách nhằm tạo ra những điều kiện cơ bản để thúc đẩy sản xuấtnông nghiệp, trước hết là sản xuất lương thực, đồng thời tạo ra thế chủ độngcho các năm sau, góp phần xây dựng nề nếp quản lý tốt. Những việc đó phải đượcchỉ đạo với tinh thần tập trung và khẩn trương nhất ngay từ IV năm 1977 và 6tháng đầu năm 1978. Cuối quý II năm 1978, trên cơ sở kiểm điểm việc thực hiện nghịquyết này, Hội đồng Chính phủ sẽ quyết định chương trình hành động tiếp theo, đisâu hơn vào những nhiệm vụ lớn mà nghị quyết này mới đề cập một phần, như quảnlý kinh tế nông nghiệp, quản lý khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, quan hệ sảnxuất trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, con người mới, v.v… Riêng vềhải sản, Thường vụ Hội đồng Chính phủ sẽ có kế hoạch làm việc chuyên đề.

Để tập trung caođộ lực lượng cả nước thực hiện bằng được các mục tiêu phát triển nông nghiệp mànghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng và nghị quyết của Hội nghị lần thứhai của Ban chấp hành trung ương Đảng đã đề ra, Hội đồng Chính phủ đòi hỏi cácngành, các cấp có sự chuyển biến cách mạng trên mọi lĩnh vực công tác của mìnhnhằm chỉ đạo và phục vụ tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp. Các ngành, các cấpphải quán triệt mấy quan điểm lớn sau đây :

a) Tư tưởng chiếnlược của kế hoạch 5 năm mà Đại hội lần thứ IV của Đảng đã đề ra là phải tậndụng và phát huy đến mức cao nhất tiềm lực sẵn có của đất nước ta, trước hết làtiềm lực rất to lớn về lao động và đất đai. Để làm việc đó, phải có quy hoạchvà kế hoạch phân bố lại lực lượng sản xuất, tổ chức lại sản xuất trên địa bàncả nước theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; đồng thời, phải gắnliền phát triển lực lượng sản xuất với cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam (cảvề nông nghiệp, công thương nghiệp tư doanh) và hoàn thiện quan hệ sản xuất xãhội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Tư tưởng chiếnlược đó phải được quán triệt trong mọi lĩnh vực, trước hết là trong nông nghiệp,lâm nghiệp, ngư nghiệp, vì ở đây tiềm lực về lao động và đất đai là vốn to lớnnhất, quý nhất, nhưng hiện nay phân bố không hợp lý. Giải quyết tốt vấn đề nàysẽ tạo ra những điều kiện cơ bản để giải quyết nhiều vấn đề quan trọng khác.

Đây chính là conđường để đồng thời tiến hành ba cuộc cách mạng, thực hiện công nghiệp hóa xãhội chủ nghĩa, kết hợp kinh tế và quốc phòng, xây dựng đất nước giàu mạnh.

b) Theo phươngchâm đã được xác định qua Đại hội lần thứ IV của Đảng: Đảng lãnh đạo, nhân dânlàm chủ, Nhà nước quản lý, Hội đồng Chính phủ cũng như các ngành, các cấp phảithấy rõ trách nhiệm rất lớn của mình trong việc quản lý nền nông nghiệp và đưanền nông nghiệp phát triển theo đường lối của Đảng. Từ nhận thức đó, trongphiên họp này, Hội đồng Chính phủ bàn kỹ vấn đề tổ chức thực hiện nghị quyết 2,chính là để thực hiện trách nhiệm to lớn của mình. Trong những phiên họp sau,Hội đồng Chính phủ sẽ bàn tiếp những vấn đề cụ thể để từng bước triển khai khẩntrương và vững chắc việc thực hiện nghị quyết 2 của Ban chấp hành trung ươngĐảng (khi bàn về kế hoạch Nhà nước, Hội đồng Chính phủ cũng cần bàn kỹ và sâuthêm về nông nghiệp, bởi lẽ nông nghiệp là trung tâm của kế hoạch Nhà nướctrong thời gian trước mắt của nước ta).

c) Nghị quyếtcủa Đại hội lần thứ IV của Đảng và nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban chấphành trung ương Đảng đề ra những mục tiêu rất to lớn của sự nghiệp xây dựng xã hộichủ nghĩa ở nước ta. Việc tổ chức thực hiện những nghị quyết ấy trong tình hìnhchúng ta đang có những khó khăn trong nền kinh tế hiện nay, nhất là khó khăn vềlương thực, vật tư, nguyên vật liệu, nhiên liệu; trong điều kiện thời gian(thời vụ nông nghiệp) còn lại không nhiều; trong khi bộ máy quản lý Nhà nướcđang sắp xếp lại, tổ chức ở địa phương - nhất là cấp huyện – còn yếu (nhất là ởcác địa phương ở miền Nam nước ta)… đòi hỏi sự nổ lực vượt bậc của các ngành,các cấp cho đến cơ sở, đòi hỏi chúng ta phải hết sức đề cao tinh thần tự lựccánh sinh, khắc phục khó khăn, sử dụng có hiệu quả nhất tiềm lực hiện có về sứclao động, thiết bị, phương tiện, vật tư.

Hội đồng Chínhphủ phải chỉ đạo rất tập trung và kiên quyết, huy động toàn bộ lực lượng có thểhuy động được, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả nền kinh tế quốc dân, của bộmáy Nhà nước đi đôi với phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,tạo nên những bước tiến vượt bậc trong nông nghiệp, quyết đạt và vượt các mụctiêu do Đại hội Đảng đã đề ra, Hội đồng Chính phủ yêu cầu các thành viên củaHội đồng Chính phủ, các thủ trưởng các ngành trực thuộc Hội đồng Chính phủ, cácChủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp làm tốt những công việc rất quan trọng sau đây:

I. PHÂNVÙNG, QUY HOẠCH VÀ KẾ HOẠCH

1. Công tác phân vùng và quy hoạch của ta lúc này nhằmthực hiện một bước cơ bản việc xây dựng phương án phân vùng nông nghiệp, lâmnghiệp và công nghiệp chế biến (bước đầu có tính toán cân đối với các ngànhcông nghiệp lớn, với nhu cầu của các trung tâm công nghiệp...) và phát thảo sựphân bố các ngành công nghiệp lớn.

Quy hoạch cácngành và công tác phân vùng, quy hoạch các vùng gắn với nhau một cách hữu cơ: quyhoạch của mỗi ngành cần được thể hiện trên các vùng, các tiểu vùng cả nước, vàphần quy hoạch của mỗi vùng là một bộ phận hợp thành của quy hoạch toàn ngành.Đây là công tác to lớn, phức tạp đòi hỏi sự tham gia tích cực và chủ động củatất cả các ngành kinh tế và văn hóa, nội chính và xã hội, đòi hỏi sự tham giathiết thực và với tinh thần trách nhiệm rất cao của các cấp chính quyền địaphương nhằm xây dựng cho được phương án phân vùng trên phạm vi cả nước trongtừng tỉnh.

Trước mắt,để phục vụ và thúc đẩy phát triển nông nghiệp, các tỉnh, thành phố phải khẩn trươnglàm ngay một bước việc quy hoạch huyện. Phải căn cứ trên phương án phânvùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản, lâm sảnvà những dự kiến về phân bố các ngành công nghiệp lớn trong những năm trước mắtở huyện, mà bố trí trên địa bàn huyện những cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thốngtrạm, trại của nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành phục vụ nông nghiệp, lâmnghiệp (chủ yếu là thủy lợi, giao thông vận tải, cơ khí, điện xây dựng v.v… )đồng thời quy hoạch những khu dân cư gắn với các cơ sở sản xuất sẽ xây dựng trênđịa bàn huyện.

Để tiến hành mộtcách cụ thể việc phân vùng và quy hoạch, cần tập trung cán bộ của các ngành kinhtế, nhất là cán bộ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, xây dựng, giao thông vậntải, cơ khí v.v… giúp các tỉnh, các huyện thiết kế các nông trường, lâm trường,các vùng kinh tế mới.

Muốn làm phânvùng được tốt, phải quán triệt đường lối của Đảng, xử lý tổng hợp các tài liệu điềutra cơ bản và các kết luận về khoa học - kỹ thuật, hiểu biết thực tiễn của sảnxuất và yêu cầu trước mắt và lâu dài của nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, tàiliệu điều tra cơ bản của ta có những mặt còn bị hạn chế mà ta phải tiếp tục bổsung. Trên cơ sở tài liệu điều tra cơ bản được bổ sung, chúng ta sẽ điều chỉnhtừng bước việc phân vùng ngày càng hợp lý. Điều đặc biệt quan trọng là phảitính toán và chỉ ra các bước cụ thể, thiết thực để vừa thực hiện được phương ánphân vùng, vừa đáp ứng ngay các nhu cầu bức thiết của nền kinh tế quốc dân, trướchết là lương thực và các loại nông sản xuất khẩu, phù hợp với các điều kiện laođộng, vốn, thiết bị, vật tư hiện có và sẽ có trong từng thời kỳ kế hoạch 5 năm.Khi đã vạch được bước đi cho từng vùng, phải thể hiện các bước đi đó bằng cácchỉ tiêu cụ thể trong kế hoạch 5 năm về kế hoạch hàng năm, phải ban hành cácchính sách và đề ra các biện pháp nhằm bảo đảm việc xây dựng các vùng đó thànhhiện thực.

Để xúc tiến côngtác phân vùng và quy hoạch theo tinh thần nói trên. Hội đồng Chính phủ quyếtđịnh:

a) Bắt đầu từtháng 10 năm 1977, Hội đồng Chính phủ xét duyệt và ban hành phương án phân vùngchuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp chế biếnnông sản, lâm sản, hải sản của cả nước và của từng tỉnh (có tính đến phục vụ vàcân đối với các ngành công nghiệp, các khu công nghiệp, v.v… ) công tác nàyphải hoàn thành trong năm 1977. Trong thời gian đó sẽ đồng thời tiến hành việclập quy hoạch các huyện trọng điểm.

b) Trên cơ sởphân vùng chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệpchế biến nông sản, lâm sản, hải sản của cả nước và của từng tỉnh, Ủy ban phânvùng kinh tế của Hội đồng Chính phủ phối hợp với các ngành chỉ đạo các tỉnh,thành phố và các huyện khẩn trương và có trọng điểm làm quy hoạch huyện, chủyếu là quy hoạch nông-lâm nghiệp hoặc ngư nghiệp (có tính đến công nghiệp vàcác ngành khác, đồng thời tính đến việc xây dựng nông thôn mới, đến sự phát triểnvăn hóa giáo dục, xã hội của huyện).

Ở các tỉnh miềnBắc, phải làm xong một bước cơ bản quy hoạch của tất cả huyện vào giữa năm1978.

Ở các tỉnh miền Nam, phải làm xong một bước cơ bản quy hoạch của các huyện thuộc vùng đất thuộcở đồng bằng và các huyện trọng điểm thuộc vùng kinh tế mới vào giữa năm 1978;hoàn thành quy hoạch của tất cả các huyện ở miền Nam trong năm 1978.

Trong khi quyhoạch huyện chưa được duyệt, các tỉnh và các huyện có thể căn cứ vào phương án phânvùng nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp chế biến của cả nước vàcủa từng tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt mà bố trí lực lượng sản xuất.

c) Ủy ban phân vùng kinh tế của Hộiđồng Chính phủ chỉ đạo các ngành, các địa phương xây dựng quy hoạch ngành, quyhoạch các vùng kinh tế; trên cơ sở đó xây dựng phương án phân vùng kinh tế củacả nước trình Hội đồng Chính phủ xét vào cuối năm 1979.

d) Căn cứ vào kiến nghị của Ban chỉđạo phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp trung ương, trong quý IV năm 1977 của BộNông nghiệp, Lâm nghiệp và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước phải vạch ra kế hoạch và bướcđi của các vùng nông nghiệp trọng điểm và trình Thường vụ Hội đồng Chính phủxét duyệt. Các kế hoạch và bước đi này phải nhằm giải quyết các yêu cầu cấp báchvề lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu, nguyên liệu cho công nghiệp.

2. Cải tiếncông tác kế hoạch theo tinh thần mới.

Toàn bộ nội dung nghị quyết Hộinghị lần thứ hai của Ban chấp hành trung ương Đảng phải được thể hiện cụ thể vàđồng bộ trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5năm 1976-1980 và kế hoạch năm 1978 của Nhà nước cũng như của từng ngành, từngđịa phương.

Để xây dựng tốt kế hoạch 5 năm 1976-1980và kế hoạch năm 1978, Hội đồng Chính phủ yêu cầu các ngành, các cấp quán triệtphương châm tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát huy caođộ tính chủ động, sáng tạo, sớm khai thác và sử dụng tốt mọi khả năng tiềm tàngcủa đất nước, trước hết là tiềm lực về lao động và đất đai, rừng, biển, sử dụngcao nhất công suất các xí nghiệp, các phương tiện, thiết bị sử dụng tốt nhất vàtiết kiệm nhấ nguồn vốn và vật tư hiện có. Cần khắc phục các khuynh hướng chờđợi, ỷ lại vào máy móc hoặc vào giúp đỡ của nước ngoài, kiên quyết sửa đổi cáchsuy nghĩ và phương pháp lập kế hoạch của các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở.Phải thực hiện một bước chuyển hướng mới trong công tác kế hoạch hóa thích ứngvới nhiệm vụ mới và hoàn cảnh của nước ta. Phải tập trung những phương tiện cóthể để sử dụng tốt nhất sức lao động dồi dào và tài nguyên phong phú chưa đượckhai thác nhằm tạo ra giá trị sử dụng mới, tạo ra sản phẩm nhiều để thỏa mãnnhu cầu của đời sống nhân dân. Đó là hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Trongchế độ xã hội chủ nghĩa, phải nhằm hiệu quả kinh tế của toàn xã hội; hiệu quảkinh tế của từng đơn vị là rất quan trọng, nhưng không thể cục bộ chỉ tính đếnhiệu quả kinh tế nhỏ hẹp của từng ngành, từng vùng, từng xí nghiệp.

Hội đồng Chínhphủ đòi hỏi các ngành và các cấp đặt vấn đề cân đối sử dụng sức lao động và đấtđai vào vị trí trung tâm trong toàn bộ hệ thống cân đối của kế hoạch. Mọiphương án phát triển và mọi mặt cân đối của kế hoạch Nhà nước của các ngànhvà của địa phương đều phải xoay quanh trung tâm cân đối này, đều phải nhằm giảiquyết cân đối sử dụng sức lao động và đất đai, rừng, biển trong phạm vi cả nước.

Nhà nước tạo mọiđiều kiện cho người lao động có đủ công việc làm và làm việc thuận lợi, tìm mọicách cải thiện đời sống của nhân dân, đồng thời Nhà nước đòi hỏi mỗi người laođộng trong nông nghiệp cũng như trong tất cả các ngành khác phải làm việc cónăng suất cao.

Trên đây là tưtưởng chủ đạo, là phương hướng chủ yếu phải quán triệt trong việc xây dựng kếhoạch Nhà nước năm 1978 và kế hoạch Nhà nước năm 5 năm (1976-1980).

Riêng đối vớiviệc xây dựng kế hoạch nông nghiệp, Hội đồng Chính phủ yêu cầu các ngành, các cấp,các đơn vị cơ sở quán triệt sâu sắc các phương hướng sau đây:

a) Phải sử dụngtốt nhất sức lao động và đất đai là hai yếu tố cơ bản nhất trong sản xuất nôngnghiệp, đồng thời là hai tiềm lực to lớn nhất, quan trọng nhất cần khai thácnhanh để mau vượt qua tình trạng khó khăn về lương thực và tình trạng mất cânđối trên nhiều mặt của nền kinh tế quốc dân vừa ra khỏi cuộc chiến tranh lâudài và ác liệt.

Ở toàn bộ nôngthôn nước ta, cũng như ở khắp nơi ở nước ta, mọi người phải làm việc, phải laođộng sản xuất, trực tiếp hay gián tiếp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Đó lànghĩa vụ và lợi ích của mọi người. Các cấp có thẩm quyền (nhất là cấp huyện) phảicó kế hoạch huy động toàn bộ lực lượng lao động có thể huy động được để sử dụngmột cách hợp lý vào sản xuất, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, làm cho năngsuất lao động xã hội từ đó mà tăng lên một cách đáng kể. Phải kết hợp chặt chẽviệc đề cao kỷ luật với khuyến khích vật chất và động viên chính trị để thựchiện các định mức lao động ngàt càng tiên tiến. Nói chung, mỗi người phải làmviệc 8 giờ một ngày cho tập thể (hoặc Nhà nước, ngoài ra phải làm thêm cho phúclợi xã hội và kinh tế phụ gia đình. Trong nông nghiệp, một người lao động – nóichung - phải làm một hecta đất nông nghiệp; trong từng ngành, từng địa phươngvà cơ sở cần xác định các định mức này một cách vững chắc, và lấy đó làm căn cứđể tính toán các chỉ tiêu của kế hoạch.

Để sử dụng tốtlao động và đất đai, nhanh chóng giải quyết được vấn đề lương thực, phải dànhưu tiên cho việc xây dựng thủy lợi nhằm cung ứng nước cho trồng trọt ở tất cảcác vùng và cho sinh hoạt ở các vùng kinh tế mới.

b) Một trong cácnhiệm vụ phải thực hiện cho được là bảo đảm cân đối lương thực và thực phẩm đủđể duy trì và bồi dưỡng sức khỏe của nhân dân, đáp ứng nhu cầu của việc phân bốlại lực lượng lao động (khai hoang và mở rộng các ngành nghề khác), nhu cầu vềthủy lợi, trồng rừng, trồng cây công nghiệp và xuất khẩu. Lương thực vừa là mụctiêu, vừa là một điều kiện để thực hiện kế hoạch.

Muốn thế, đi đôivới việc tích cực thâm canh lúa và làm thủy lợi để mở rộng diện tích ruộng lúavà tăng vụ lúa ở những nơi có điều kiện, phải đẩy mạnh đến mức cao nhất việcsản xuất các loại hoa màu, đồng thời phải phát triển sản xuất mạnh mẽ các nôngsản, lâm sản, hải sản làm nguyên liệu cho công nghiệp và cho xuất khẩu. Từngtỉnh, từng huyện phải tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm đến mức cao nhất,đồng thời phát huy hết ưu thế của mình, làm tốt các nhiệm vụ khác của kế hoạchNhà nước. Trong khi xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp, cấp huyện phảigiải quyết cho được lương thực cho nhân dân trong huyện đồng thời làm nghĩa vụlương thực đối với Nhà nước (trừ những huyện chuyên canh cây công nghiệp hoặccó quá đông nhân khẩu phi nông nghiệp). Huyện nào chưa làm tốt lương thực phảinoi gương các huyện đã làm tốt, phấn đấu làm cho kỳ được. Trong trường hợp đặcbiệt, huyện nào chưa cân đối được lương thực, thì phải có kế hoạch đẩy mạnh sảnxuất ở những huyện có điều kiện phát triển lương thực để điều hòa giữa cáchuyện, bảo đảm lương thực trong tỉnh mình.

c) Trong nôngnghiệp cũng như trong các ngành khác, việc xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch phải dựatrên các định mức kinh tế - kỹ thuật đúng đắn, tiến bộ, nhất là định mức về năngsuất lao động, về sử dụng thiết bị, vật tư, …

Kế hoạch tốt phảiđược xây dựng trên cơ sở quản lý tốt, và chỉ có thể quản lý tốt trên cơ sở kếhoạch tốt. Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, phải soát lại các cânđối, các yêu cầu của ngành mình cho phù hợp với khả năng kinh tế của cả nước;phải quán triệt quan điểm tiết kiệm triệt để ngoại tệ, vật tư, thiết bị, tiềnvốn… và sử dụng các yếu tố đó với hiệu quả cao nhất. Các ngành, các cấp, cácđơn vị cơ sở mỗi khi đề ra yêu cầu đầu tư thiết bị, vật tư, tiền vốn đều phảitính toán cụ thể hiệu quả các mặt của việc đầu tư đó.

d) Bộ trưởng BộNông nghiệp, các Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, huyện có tráchnhiệm chủ trì việc làm kế hoạch nông nghiệp.

Đi đôi với kếhoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm về phát triển sản xuất nông nghiệp, ở mỗi cấptừ cơ sở đến trung ương đều phải có kế hoạch phát triển khoa học - kỹ thuật vàthực hiện tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệpchủ động cần bàn với các ngành có liên qua đến sản xuất nông nghiệp (nhất làcác ngành cung ứng kỹ thuật và các ngành tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp) xâydựng các chỉ tiêu kế hoạch có tính chất liên ngành được vững chắc, thiết thực.

Để xây dựng kếhoạch nông nghiệp tốt, Bộ Nông nghiệp phải cùng với Ủy ban nhân dân các tỉnh,thành phố tăng cường bộ môn làm kế hoạch ở các Ty, Sở nông nghiệp và cơ quannông nghiệp huyện, chỉ đạo chặt chẽ các cơ quan này trong việc xây dựng kế hoạch,bảo đảm kế hoạch được xây dựng từ cơ sở lên.

Theo đường lối,chủ trương phát triển nông nghiệp của Đảng và Chính phủ, mỗi ngành mỗi Ủy bannhân dân tỉnh, thành phố cần sớm bổ sung các dự án kế hoạch năm 1978 và kế hoạch5 năm 1976-1980 của mình nộp lên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tổng hợp vào cuốitháng 10 năm 1977.

Trong quá trìnhxây dựng và tổng hợp kế hoạch, Thường vụ Hội đồng Chính phủ trực tiếp nghe vàchỉ đạo một số ngành trọng điểm: nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, cơ khí,điện, than, hóa chất, giao thông vận tải, v.v…

II. MỘT SỐCHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP QUAN TRỌNG ĐỂ THÚC ĐẨY SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

1. Tổ chức sản xuất trên địa bàn huyện, tăng cường cấp huyệnvà cấp tỉnh để chỉ đạo và phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nghị quyết Đạihội lần thứ IV của Đảng khẳng định: “Nhà nước ta quản lý nền kinh tế quốc dântheo nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành vớiquản lý theo địa phương và theo vùng lãnh thổ”.

Xuất phát từ nguyêntắc đó, Hội đồng Chính phủ đã ban hành nghị định số 172-CP (quy định Điều lệ vềtổ chức và hoạt động của Hội đồng Chính phủ và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệmcủa Bộ trong lĩnh vực quản lý kinh tế) và nghị định số 24-CP (quy định nhiệm vụ,quyền hạn, trách nhiệm, của chính quyền Nhà nước cấp tỉnh trong lĩnh vực quảnlý kinh tế)

Trong tháng 11năm 1977, Hội đồng Chính phủ sẽ ban hành các quy định về xây dựng cấp huyện.

Những văn kiệnnày là một tổng thể hợp thành hệ thống tổ chức bộ máy quản lý kinh tế của ta,làm cho ngành và cấp, cấp trên, cấp dưới khớp vào nhau, điều hòa phối hợp vớinhau, quy tụ vào đầu mối chỉ đạo thống nhất và đồng bộ của Hội đồng Chính phủ.

Phải tổ chức lạisản xuất trên địa bàn huyện và tăng cường cấp huyện, cấp trực tiếp quản lý nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, một cấp Nhà nước quản lý kế hoạch toàn diệnvà có ngân sách, một cấp quản lý sản xuất, quản lý lưu thông và đời sống nhândân ở trong huyện.

Trong quý IV nămnay, Ban nghiên cứu quản lý kinh tế trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ kế hoạchvề các bước đi cụ thể trong việc tổ chức lại sản xuất ở huyện và tăng cường cấphuyện.

Tháng 11 năm 1977Bộ Tài chính Thừơng vụ Hội đồng Chính phủ vấn đề phân cấp quản lý tài chính chocấp huyện, trong đó quy định cụ thể về ngân sách huyện để kịp vận dụng vào việcxây dựng kế hoạch và ngân sách năm 1978.

2. Khẩn trương xây dựng kết cấu hạ tầng ở các huyện thuộcvùng kinh tế mới, nhất là xây dựng các công trình thủy lợi chosản xuất, cho sinh hoạt, các đường giao thông.

Bộ Nông nghiệp,Bộ Thủy lợi, Bộ Xây dựng cùng với các tỉnh có vùng kinh tế mới xác định cácđiểm dân cư, xác định quy hoạch và kế hoạch xây dựng thủy lợi cho sinh hoạt,cho sản xuất ở các vùng này và chỉ đạo thực hiện các quy hoạch và kế hoạch ấykhớp với kế hoạch đưa lao động đến và kế hoạch sản xuất nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệpcùng với Bộ Giao thông vận tải, với từng tỉnh có vùng kinh tế mới xác định cáctrục đường cần làm thêm và có kế hoạch thi công sớm, kịp phục vụ việc đưa laođộng đến khai thác đất đai theo kế hoạch Nhà nước đã duyệt.

Bộ Thủy lợi vàBộ Giao thông vận tải chỉ đạo chặt chẽ việc kết hợp giữa thủy lợi và giao thôngvận tải; cùng các địa phương có liên quan xây dựng đề án để trình Thường vụ Hộiđồng Chính phủ trong tháng 12 năm 1978.

3. Tổ chức lại sản xuất và quản lý ở đơn vị cơ sở

a) Ở các tỉnhmiền Bắc, phải đẩy mạnh việc thực hiện nghị quyết số 61-CP của Hội đồngChính phủ về tổ chức lại sản xuất, cải tiến một bước quản lý nông nghiệp, lâmnghiệp từ cơ sở theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Bộ Nông nghiệpcùng Ban Nông nghiệp trung ương nghiên cứu hoàn chỉnh Điều lệ hợp tác xã nôngnghiệp, đồng thời chuẩn bị đế án phân cấp quản lý các nông trường, để quý I năm1978 trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ.

Cần xúc tiến dựthảo Điều liệu hợp tác xã nông, lâm nghiệp để trình Hội đồng Chính phủ vào quýI năm 1978. Để làm việc này, thành lập một Tiểu ban gồm Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâmnghiệp, Ban Nông nghiệp trung ương, Ban nghiên cứu quản lý kinh tế…

b) Ở các tỉnhvà thành phố miền Nam, phải chỉ đạo chặt chẽ và phối hợp tốt việc tổ chứclại sản xuất nông nghiệp, xây dựng cấp huyện với việc cải tạo nông nghiệp vàcải tạo công thương nghiệp tư doanh. Ban cải tạo nông nghiệp miền Nam trình Ban bí thư và thường vụ Hội đồng Chính phủ một chương trình cụ thể về vấn đề nàyvào tháng 12 năm 1977.

c) Đối vớikinh tế mới

Bộ Nông nghiệp,Bộ Lâm nghiệp trình Thủ tướng Chính phủ duyệt danh mục các nông trường, lâmtrường, các khu vực sẽ nhận lao động của các hợp tác xã đến khai hoang. Căn cứvào sự bố trí ấy cần sớm chỉ định cán bộ phụ trách các nông trường, lâm trường,giao nhiệm vụ điều tra, thiết kế cụ thể cho từng đơn vị.

Bộ Lâm nghiệpphối hợp với Bộ Nông nghiệp, Ủy ban dân tộc của Chính phủ chỉ đạo các tỉnh làm tốtcông tác định canh, định cư, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ này với nhiệm vụ xây dựngcác hợp tác xã, các nông trường, lâm trường quốc doanh, phấn đấu hoàn thành vềcơ bản vào năm 1980 việc định canh, định cư đồng bào các vùng núi.

Trong việc xâydựng các vùng kinh tế mới, các cơ quan chủ quản các đơn vị sản xuất phải phốihợp với địa phương và các ngành có liên quan xây dựng các làng mới, các thịtrấn mới theo quy hoạch chung, sớm đưa sinh hoạt của các điểm dân cư này đi vàonề nếp, quy củ.

Bộ Nông nghiệp(hoặc Bộ Lâm nghiệp) cùng với tỉnh sở tại và Tổng cục Xây dựng kinh tế (Bộ quốcphòng) phải làm xong việc vạch ranh giới cho từng nông trường (hoặc lâm trường)do quân đội quản lý trong năm 1977.

4. Xây dựng mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp.

Căn cứ kế hoạchphát triển nông nghiệp trong 5 năm 1976-1980 các ngành phải có kế hoạch phục vụviệc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho nông nghiệp, trong đó có phân biệtnhững vấn đề lớn cần trình Hội đồng Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ. Sau đâylà một vấn đề chính cần giải quyết sớm:

a) Thủy lợi

Công tác thủylợi phải đi trước một bước, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ vàvững chắc. Nhiệm vụ của công tác thủy lợi trong 3 năm tới (1978-1980) là bảo đảmcác mục tiêu chủ yếu sau đây:

- Tưới cho lúa,từ 1 triệu 45 vạn ha lên 2 triệu 60 vạn ha (tăng 1 triệu 15 vạn ha), trong đó ởmiền Bắc 1,090 triệu ha, ở miền Nam 1,510 triệu ha;

- Tưới cho hoamàu và cây công nghiệp 63,5 vạn ha;

- Diện tích tiêuúng, tăng thêm 27 vạn ha ở miền Bắc.

Để thực hiện cácmục tiêu ấy, phải tập trung sức xây dựng thủy lợi trong 3 mùa khô tới. Nhiệm vụnày đòi hỏi phải tăng cường chỉ đạo rất chặt chẽ và tập trung của Thường vụ Hộiđồng Chính phủ và của chính quyền các cấp, phải huy động tiềm lực của cácngành, các địa phương, của Nhà nước và của nhân dân. Phải ưu tiên giải quyếtcác nhu cầu về thiết bị, vật tư kỹ thuật, điện, giao thông vận tải và lao độngcho công tác này. Bộ Thủy lợi phải bảo đảm kỹ thuật và hiệu quả của các côngtrình, đồng thời tăng cường quản lý tốt lao động, thiết bị và vật tư để bảo đảmthời gian hoàn thành các công trình theo kế hoạch.

Phó thủ tướngVõ Chí Công sẽ họp các ngành có liên qian giải quyết vấn đề nói trên.

b) Cơ khí

Phải huy độngnăng lực cơ khí của tất cả các ngành (kể cả Bộ Quốc phòng) phục vụ cho sản xuấtnông nghiệp và thủy lợi. Bộ Cơ khí và luyện kim có nhiệm vụ chủ trì phối hợp cácngành, các địa phương có sản xuất cơ khí (kể cả cơ khí quốc phòng) xây dựng kếhoạch cụ thể của toàn ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp. Kế hoạch này cần trìnhThường vụ Hội đồng Chính phủ vào đầu năm 1978.

Bộ Cơ khí và luyệnkim chủ trì bàn với Bộ Nông nghiệp, Bộ Giao thông vận tải và các ngành, các địaphương có liên quan xây dựng đề án tổ chức mạng lưới xí nghiệp sửa chữa cácloại máy kéo, xe vận tải… trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ vào quý I năm 1978;trước mắt, phải chú ý đầy đủ những vùng nông nghiệp có tốc độ cơ giới hóa nhanh.Quy hoạch mạng lưới sửa chữa cơ giới dùng cho nông nghiệp phải kết hợp với yêucầu sửa chữa cơ giới dùng trong các ngành khác.

Trong tháng 11năm 1977, Bộ Nông nghiệp và Bộ Cơ khí và luyện kim phải lập kế hoạch về nhu cầuvà khả năng sản xuất phụ tùng trong nước.

Đối với nhữngthứ có thể sản xuất ở trong nước. Bộ Cơ khí và luyện kim cố gắng bảo đảm sản xuất.Đối với thứ không thể sản xuất trong nước, Bộ Ngoại thương có kế hoạch nhậpkhẩu; Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cần ưu tiên dành ngoại tệ cho việc nhập khẩu cácloại phụ tùng này.

Đối vớicác loại máy móc, thiết bị nông nghiệp đang sử dụng ở Miền Nam do các nước tư bảnsản xuất, Bộ Ngoại thương cần tìm nhiều biện pháp để nhập phụ tùng, coi đó làmột nhiệm vụ quan trọng. Bộ Nông nghiệp và các địa phương phải quản lý hết sứcchặt chẽ việc phân phối và sử dụng số phụ tùng này. Bộ Cơ khí và luyện kim kếthợp với Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp và các địa phương giải quyết nhanh yêucầu công cụ cầm tay cho nông nghiệp.

Phó thủ tướngVõ Chí Công chỉ đạo các Bộ Nông nghiệp, Bộ Cơ khí và luyện kim, Bộ Ngoại thươngvà Ủy ban kế hoạch Nhà nước làm đề án về vấn đề nói trên trình Thường vụ Hội đồngChính phủ vào tháng 12 năm 1977.

c) Hệ thốnggiống cây trồng và con chăn nuôi.

Bộ Nông nghiệphoàn chỉnh đề án tổ chức các hệ thống giống (cây trồng gia súc) trình Thường vụHội đồng Chính phủ vào quý I năm 1978. Phải khẩn trương tổ chức mạng lưới nàytrong năm 1978 ở các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ, các tỉnh có vùng đấtthuộc lớn ở miền Nam (đối với các tỉnh miền núi thì phải tổ chức xong trong năm1979).

Bắt đầu từ vụĐông – Xuân này, Bộ Nông nghiệp phải có kế hoạch mở rộng kết quả của các thí điểmvề giống lúa ngắn ngày và các giống hoa màu tốt ra địa bàn cả nước.

d) Phân bónvà thuốc trừ sâu .

Trong tháng 11năm 1977, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cùng Bộ Nông nghiệp và các ngành ngoại thương,hóa chất, xây dựng, giao thông vận tải trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ đề ángiải quyết một cách đồng bộ vấn đề sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, cung ứngphân khoáng (gồm đạm, lân, a-pa-tit nghiền, vôi và đá vôi) và thuốc trừ sâu).

c) Điện vàthan

Bộ Điện và thanphải có kế hoạch và giải quyết kịp thời các việc sau đây:

- Ở miền Nam : Xây dựng mạng lưới điện và trạm biến thế điện phục vụ nông nghiệp, trước hết là chothủy lợi, nhằm đẩy mạnh thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích canh tác, nhấtlà ở đồng bằng sông Cửu Long.

- Ở miền Bắc :Bảo đảm nguồn điện chủ động chống hạn và chống úng, bảo đảm điện cho sản xuất côngnghiệp phục vụ nông nghiệp.

- Bảo đảm thancho nông nghiệp theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước.

Bộ Điện và thancùng Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Nông nghiệp, Bộ Thủy lợi phối hợp giải quyếtcác vấn đề nói trên trong tháng 11 năm 1977.

h) Giao thông- vận tải :

Bộ Giao thôngvận tải và các ngành có liên quan phải có kế hoạch bảo đảm các yêu cầu củasản xuất nông nghiệp, nhất là:

- Bốc dỡ và vậnchuyển phân bón và thiết bị, vật tư nông nghiệp cho kịp thời vụ; vận chuyển kịpthời lao động, và lương thực đến các nơi cần thiết để phát triển nông nghiệp.

- Phát triển giaothông ở nông thôn và miền núi.

- Phục vụ côngtác khai hoang, công tác thủy lợi.

i) Xây dựng

Bộ Xây dựng phảicó kế hoạch bảo đảm :

- Cung cấp vôi,đá vôi dùng làm phân bón; cung cấp vật liệu cho nông nghiệp, thủy lợi.

- Ưu tiên nhậnthầu và bảo đảm thi công đúng thời hạn những công trình do Bộ Nông nghiệp yêucầu.

- Hoàn thành nhanhchóng các công trình khác trực tiếp phục vụ nông nghiệp.

- Giúp Bộ Nôngnghiệp phát triển năng lực xây dựng quốc doanh của ngành nông nghiệp kết hợpvới việc tổ chức và huy động lực lượng xây dựng của các hợp tác xã nông nghiệp.

k) Lương thựcvà thực phẩm

Bộ Lương thựcvà thực phẩm có trách nhiệm:

- Kết hợp vớiBộ Cơ khí và luyện kim và Bộ Nông nghiệp lập kế hoạch phát triển công nghiệp chếbiến nông sản, nhất là hoa màu, ngay từ vụ Đông – Xuân này (Bộ Nông nghiệp phụtrách hướng dẫn các hợp tác xã hoặc nông dân sơ chế nông sản tại các hợp tácxã).

- Cung ứng lươngthực theo kế hoạch cho các nhu cầu của nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp củaviệc định canh định cư; cùng với Bộ Nội thương, Bộ Nông nghiệp, Bộ Vật tư v.v…tổ chức tốt việc thu mua lương thực.

l) Sắt thép,xăng dầu.

Bộ Vật tư bảo đảm cung ứng kịp thời và đúng quy cách cho nông nghiệp và thủylợi các mặt hàng phục vụ nông nghiệp, các loại sắt thép, xăng dầu và các loạivật tư kỹ thuật khác do Bộ được phân công quản lý.

5. Cần bổ sung các chính sách đối với nông nghiệp.

Trong điều kiệnchế độ sở hữu tập thể đã chiếm phần lớn trong nền sản xuất nông nghiệp ở miềnBắc, còn ở miền Nam thì chúng ta chưa tổ chức được nhiều hợp tác xã, các chínhsách về thu mua, giá cả có tác dụng quan trọng đối với việc bảo đảm sản xuất vàlưu thông, phân phối.

Để phù hợp vớiyêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp và yêu cầu huy động nông sản của Nhànước, những chính sách lớn sau đây cần được bổ sung:

- Chính sách sửdụng ruộng đất;

- Nghĩa vụ laođộng;

- Chính sách thumua lương thực;

- Chính sách thumua cây công nghiệp và nông sản, lâm sản, hải sản xuất khẩu;

- Chính sách thumua thịt lợn, cá biển;

- Chính sách giácả nông sản, lâm sản, hải sản, đặc biệt là giá thu mua thóc, hoa màu và thịtlợn.

Các bộ có tráchnhiệm quản lý việc thực hiện các chính sách nói trên cần nghiên cứu và có nhữngđề nghị trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ xem xét để kịp thời ban hanh vàocuối năm 1977 và đầu năm 1978.

Khi soát xét lạivà nghiên cứu để bổ sung hoặc điều chỉnh các chính sách này, cần chú ý đến vàitrò của cấp huyện, đến vị trí của cấp huyện là một đơn vị để tính toán cân đốivề sản xuất và lưu thông phân phối, đồng thời phải chú trọng đầy đủ đến việcchống đầu cơ buôn lậu.

6. Trên đây là những việc cấp bách mà các ngành, các cấpphải triển khai với tinh thần khẩn trương nhất. Theo tinh thần ấy, Hội đồngChính phủ yêu cầu từng ngành xây dựng kế hoạch phục vụ nông nghiệp của ngànhmình và gửi trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ trong tháng 11 năm 1977. Ngoàicác Bộ, các ngành có chức trách đã ghi ở trên, Hội đồng Chính phủ phải lưu ýcác Bộ và các ngành khác phải có kế hoạch về công tác sau đây:

a) Ủy ban Khoahọc và kỹ thuật Nhà nước cùng Bộ Nông nghiệp, Bộ Đại học trung học chuyên nghiệp,Viện Khoa học Việt Nam lập kế hoạch nghiên cứu và ứng dụng khoa học và kỹ thuậtnông nghiệp. Để thực hiện các kế hoạch này, phải có sự tập hợp cán bộ khoa họckỹ thuật vào phục vụ cho nông nghiệp. Trước mắt, cần chuẩn bị tốt để họp hộinghị khoa học phục vụ nông nghiệp và cuối năm nay. Phải tăng cường cán bộ vàđầu tư thích đáng cho các chương trình nghiên cứu Nhà nước, phải tạo điều kiệncho các cơ sở nghiên cứu thí nghiệm và quản lý khoa học kỹ thuật phục vụ tốtnông nghiệp, lâm nghiệp. Đề án này phải trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ vàođầu năm 1978. Cần sớm tổ chức Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp và hệ thốngcác viện chuyên ngành, chuyên đề, các phân viện tổng hợp ở một số vùng và cáctrạm trại nghiên cứu ở các địa phương. Ủy ban Khoa học và kỹ thuật nhà nước cókế hoạch cùng các Bộ làm tốt công tác quản lý kỹ thuật và nhanh chóng đưa tiếnbộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, vào các ngành phục vụ nông nghiệp,như thủy lợi, chế tạo máy, sản xuất thuốc trừ sâu, thuốc phòng và chữa bệnh chocây trồng và chăn nuôi v.v… Bộ Nông nghiệp có đề án tăng cường hệ thống quản lýkỹ thuật toàn ngành từ trung ương đến các địa phương cho đến cơ sở để trìnhThường vụ Hội đồng Chính phủ xem xét.

Ủy ban Khoa họcvà kỹ thuật Nhà nước chủ trì bàn với Bộ Nông nghiệp, Ban tổ chức của Chính phủvà các ngành có liên quan về các vấn đề nói trên.

b) Các ngành điềutra cơ bản, như đo đạc - bản đồ, khí tượng - thủy văn, địa chất, thống kê phảicó kế hoạch và biện pháp phục vụ tốt các khâu công tác: Phân vùng quy hoạch,khảo sát thiết kế cho nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi. Tổng cục Địa chất phảiđẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò các khoáng sản trực tiếp phục vụ nông nghiệp (chú ývấn đề nước ngầm).

c) Bộ Tài chínhcùng Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Ủy ban Vật giá Nhà nước và các ngành có liênquan khác có kế hoạch giúp các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi trongcông tác quản lý nhằm đạt các yêu cầu : vừa bảo đảm phát triển sản xuất, bảođảm hiệu quả kinh tế, vừa ngăn ngừa lãng phí, tham ô.

d) Ngân hàng Nhànước sớm cải tiến chế độ và các thủ tục cho vay nông nghiệp.

e) Bộ Ngoạithương có kế hoạch và biện pháp xuất khẩu nông sản, lâm sản, hải sản và nhậpkhẩu vật tư, thiết bị phục vụ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.

g) Bộ Công nghiệpnhẹ và liên hợp tác xã thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp có kế hoạch và biệnpháp thu mua nguyên liệu nông sản, lâm sản và sản xuất những mặt hàng phục vụcho nông thôn, đặc biệt chú ý các vùng kinh tế mới.

h) Bộ Nội thươngcó kế họach và biện pháp thu mua nông sản, lâm sản và cung ứng hàng tiêu dùng.

i) Bộ Lao độngtrình Thường vụ Hội đồng Chính phủ xét duyệt chế độ tổ chức lao động và quản lýlao động trong nông nghiệp, lâm nghiệp, gắn liền với tổ chức lại sản xuất trongcác ngành đó; chế độ bảo hộ lao động trong nông nghiệp.

k) Tổng cục Thốngkê và Tổng cục Bưu điện có kế hoạch và biện pháp nâng cao công tác thông tinphục vụ chỉ đạo nông nghiệp trong cả nước.

l) Các cơ quanbáo chí, thông tấn xã Việt Nam, Ủy ban phát thanh và truyền hình có trách nhiệmgóp phần vào việc tuyên truyền phục vụ nông nghiệp.

m) Các ngành khác: Bộ Nội vụ, Ủy ban pháp chế, Ủy ban Dân tộc, Ủy ban Thanh tra của Chính phủ,Ủy ban Khoa học xã hội, Hội đồng trọng tài kinh tế, Bộ Thương binh và xã hộiv.v… có kế hoạch nông nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ của ngành mình.

7. Tăng cường công tác văn hóa, giáo dục phục vụ phát triển sảnxuất nông lâm, ngư nghiệp và tổ chức lại sản xuất và đời sống trên địa bànhuyện, thúc đẩy xây dựng nông thôn mới và xây dựng con người mới.

a) Về văn hóa,thông tin truyền thanh

Sử dụng tốt cáchình thức hoạt động văn hóa, thông tin và truyền thanh để tuyên truyền, giáodục đường lối, chủ trương, chính sách và những biện pháp cơ bản của Đảng và Nhànước, và biểu dương những điển hình tiên tiến về sản xuất nông, lâm ngư nghiệp,về tổ chức lại sản xuất và đời sống trên địa bàn huyện : đẩy mạnh việc xây dựngtư tưởng làm chủ tập thể, cổ vũ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất vàxây dựng; tăng cường việc phổ biến kiến thức khoa học - kỹ thuật và quản lýtrong nhân dân lao động.

Kết hợp chặt chẽviệc tăng cường công tác văn hóa và thông tin chuyên nghiệp với việc mở rộngcông tác văn hóa và thông tin quần chúng để nâng cao dần đời sống văn hóa ởnông thôn, đồng thời có kế hoạch từng bước xây dựng mạng lưới hợp lý những côngtrình văn hóa và thông tin trên địa bàn huyện, nhằm phục vụ phát triển sản xuấtnông, lâm ngư nghiệp, xây dựng nông thôn mới và con người mới.

Đẩy mạnh phongtrào quần chúng xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa mới, trên cơ sởtổng kết và phổ biến kinh nghiệm của những điển hình tiên tiến ở nông thôn.

b)Về giáo dục.

Căn cứ phươnghướng chung của cải cách giáo dục, cần cải tiến nội dung và phương pháp dạy và họcnhững môn kỹ thuật và quản lý nông, lâm, ngư nghiệp ở các trường phổ thông vàtrường, lớp bổ túc văn hóa.

- Tổ chức tốtlực lượng giáo viên và học sinh (cấp II và những năm cuối của cấp II) tham gia laođộng sản xuất nông nghiệp, để vừa nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, vừagóp phần phát triển sản xuất. Lao động sản xuất phải có kế hoạch cụ thể, có tínhsư phạm vững chắc, và phải đạt hiệu quả thiết thực về giáo dục và kinh tế.

- Nghiên cứu vàtừng bước xây dựng mạng lưới trường học (mẫu giáo, phổ thông vừa học vừa làm,bổ túc văn hóa) hợp lý và hoàn chỉnh trên địa bàn huyện, phù hợp với yêu cầuxây dựng huyện nông – công nghiệp. Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo cácđơn vị tiên tiến về giáo dục.

c) Về đào tạovà bồi dưỡng cán bộ công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ

- Xây dựng vàthực hiện một bước quy hoạch đào tạo và bồi dưỡng độ ngũ cán bộ quản lý, cán bộkhoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ, đội ngũ công nhân kỹ thuật, công nhân nông, lâmngư nghiệp và nhân viên nghiệp vụ.

- Tăng cường cáctrường đại học nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, hải sản hiện có; từng bướcxây dựng và tăng cường mạng lưới các trường cao đẳng và trường trung học chuyênnghiệp về kỹ thuật và kinh tế nông, lâm nghiệp ở các tỉnh; từng bước xây dựngmạng lưới các trường, lớp nghiệp vụ và kỹ thuật ở các huyện. Cải tiến và mởrộng công tác đào tạo và bồi dưỡng tại chức. Đẩy mạnh phong trào học tập và làmtheo các đơn vị tiên tiến trong giáo dục đại học và chuyên nghiệp. Ban hành mớihoặc bổ sung các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều xã viên trẻ,ưu tú và học sinh là con em nông dân tập thể vào các loại trường kỹ thuật vàkinh tế nông, lâm, ngư nghiệp.

- Tổ chức tốtlực lượng cán bộ và học sinh các trường đại học và chuyên nghiệp tham gia lao độngsản xuất theo ngành nghề, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học phục vụ nông, lâm,ngư nghiệp.

d) Về y tế

- Đẩy mạnh phongtrào vệ sinh thể dục yêu nước theo nội dung 3 sạch (ăn sạch, uống sạch, ở sạch),3 diệt (diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chuột) và 2 tốt (vệ sinh tốt, thể dục tốt),thực hiện dứt điểm xây dựng 3 công trình (hố xí, giếng nước nhà tắm), kết hợpvới việc phòng, chống có hiệu quả các bệnh dịch và thanh toán dần các bệnh xãhội, trước hết là bệnh sốt rét phải được thanh toán về cơ bản trong kế hoạch 5năm lần thứ hai.

- Tăng cường côngtác vận động sinh đẻ có kế hoạch trong cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh, thànhphố miền Nam, phấn đấu đến năm 1980 hạ mức phát triển số dân bình quân xuống 2%.

- Phát triển nuôi,trồng và chế biến dược liệu từ nông, lâm nghiệp, nâng cao khả năng tự lực vềthuốc men ở hai tuyến huyện và xã. Động viên các gia đình, trường học, trạm ytế và hợp tác xã trồng 25 cây thuốc chữa các bệnh thông thường, đi đôi với việcđẩy mạnh nuôi, trồng theo quy mô lớn 96 cây và 5 con dược liệu, bảo đảm nguyênliệu sản xuất thuốc cho trong nước và một phần cho xuất khẩu.

- Tập trung xâydựng mạng lưới y tế trên địa bàn huyện, làm cho hai tuyến xã và huyện từng bướcbảo đảm yêu cầu cơ bản về y tế ở địa phương. Đẩy mạnh phong trào thi đua họctập và làm theo những đơn vị y tế tiên tiến.

đ) Về thể dục,thể thao

Trên cơ sở quyhoạch mạng lưới nhà trẻ trên địa bàn huyện, cần phát triển mạnh mẽ và nâng caochất lượng các loại nhà trẻ ở nông thôn và ở các cơ sở nông, lâm, ngư nghiệpquốc doanh. Đẩy mạnh phong trào thi đua học tập và làm theo huyện Diễn Châu. Mởrộng công tác đào tạo và bồn dưỡng cô nuôi dạy trẻ cho nông thôn.

III. TẬP TRUNG CAO ĐỘ LỰC LƯỢNG, PHẤN ĐẤU HOÀN THÀNH VƯỢTMỨC CÁC NHIỆM VỤ SẢN XUẤT VÀ XÂY DỰNG TRÊN MẶT TRẬN NÔNG NGHIỆP, THỦY LỢI TRONGMÙA KHÔ 1977-1978

Mùa khô năm 1977-1978có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Đây là thời gianthuận lợi nhất cho sản xuất và xây dựng, mở đầu cho việc thực hiện những nhiệmvụ của 3 năm còn lại trong kế hoạch 5 năm về nông nghiệp. Thực hiện tốt các kếhoạch mùa khô này, như sản xuất vụ đông, vụ xuân, chuẩn bị cho vụ hè thu và vụmùa 1978, vận động và tổ chức phong trào khai hoang, phong trào làm thủy lợi,là tạo thêm điều kiện vật chất và kỹ thuật, tiếp thêm sức mạnh cho việc thựchiện các chỉ tiêu mà Đại hội lần thức IV của Đảng đã đề ra. Các ngành, các địaphương phải có kế hoạch cụ thể và phấn đấu với tinh thần rất tích cực và khẩntrương tạo những điều kiện tốt, hỗ trợ có hiệu quả cho phong trào quần chúngđang tiến quân mạnh mẽ trên mặt trận sản xuất và xây dựng.

Trước mắt, trongtháng 10, Bộ Nông nghiệp và Bộ Thủy lợi trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ kếhoạch sản xuất vụ đông 1977, vụ xuân, vụ hè thu 1978 và chuẩn bị vụ mùa 1978.

Hội đồng Chínhphủ lưu ý các ngành, các cấp:

1. Phải tập trung sức phấn đấu cho sản xuất nông nghiệptrong mùa khô này giành thắng lợi toàn diện, vượt bậc, cao hơn tất cả các mùakhô trước về diện tích, năng suất và sản lượng. Phải kết hợp phong trào sảnxuất và xây dựng với việc thi hành nghị quyết số 61-CP và công tác cải tạo nôngnghiệp ở miền Nam.

2. Phải có kế hoạch chỉ đạo tập trung những vùng lúa caosản, nhất là đồng bằng Cửu Long (trên 25 vạn hécta) và đồng bằng Bắc Bộ (25 vạnhécta). Kế hoạch phải toàn diện về các biện pháp, về tiến độ sản xuất, về thuhoạch và huy động lực lượng. Phải đặc biệt chú ý vụ xuân, và vụ hè thu ở cáctỉnh miền Nam. Các ngành nông nghiệp, thủy lợi, cơ khí, điện, than, hóachất và các ngành thu mua phải phối hợp chặt chẽ để giành thắng lợi lớn.

3. Phải tạo ra một chuyển biến mới, một bước phát triểnvượt bậc về sản xuất, chế biến và thu mua hoa màu:

a) Ngô:Phải tranh thủ làm tốt cả vụ ngô đông và ngô xuân, chú ý các vùng chuyên canh tậptrung trên các bãi thuộc hạ lưu sông Hồng, sông Thái Bình, các sông khu IV cũ.

Đối với các tỉnhmiền Nam, phải tạo nên những vùng chuyên canh ngô rộng lớn hàng chục hécta, ởnơi chưa có thủy lợi thì làm theo mưa. Ngoài phần đất mà quy hoạch phân vùng đãdành cho ngô, cần trồng ngô cả trên phần đất dành cho các cây khác (như cao su,cà phê) mà trong một vài năm chưa có kế hoạch khai thác. Do việc cung cấp lươngthực tại các vùng còn có khó khăn, Bộ Nông nghiệp phải có kế hoạch tích cựcđiều động lực lượng cơ giới đến khai thác. Phấn đấu đến năm 1980 sản lượng ngôđạt ít nhất 1,170 triệu tấn.

b) Sắn :Bộ Nông nghiệp, Bộ Lương thực và thực phẩm, các Ủy ban nhân dân tỉnh phải nắm lạisố sắn đã trồng trong năm nay và sẽ thu hoạch trong quý IV. Tổng cục Thống kêước lượng gần 2,5 triệu tấn sắn tươi (khoảng hơn 60 vạn tấn lương thực quy thóc).Bộ Lương thực và thực phẩm cùng Bộ Nông nghiệp phải có kế hoạch thu hoạch, chếbiến, thu mua tạo một nguồn bổ sung quan trọng vào lực lượng lương thực của Nhànước. Phải dấy lên một phong trào tận dụng đất đai hoang hóa để trồng sắn; đến1980 diện tích sắn phải đưa lên 65 vạn hécta trở lên. Phải tích cực thâm canhsắn ở những nơi có điều kiện và thực hiện các biện pháp chống xói mòn đất.

Tháng 11 năm 1977,Thường vụ Hội đồng Chính phủ sẽ bàn chuyên đề về sản xuất, chế biến và tiêu thụsắn.

c) Khoaitây : Năm nay, tại miền Bắc, nhiều tỉnh trong vụ đông này đã đưa diện tích trồngkhoai tây lên gần gấp hai lần năm ngoái. Bộ Nông nghiệp và các ngành phải có kếhoạch thiết thực giúp đỡ ngay các địa phương giải quyết kịp thời những vấn đềcụ thể nhằm mở rộng hơn nữa diện tích khoai tây, đi đôi với thâm canh.

Bộ Nông nghiệpvà Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng cùng Bộ Giao thông vận tải có kế hoạch mở rộngcơ sở làm giống khoai tây ở Lâm Đồng để chuẩn bị nhiều giống cho phát triểnkhoai trong vụ đông 1978-1979. Phấn đấu đến năm 1980 sản lượng khoai tây phảivượt mức 2,4 triệu tấn trong cả nước.

d) Caolương : Tích cực phát triển cao lương ngay trong vụ đông xuân này ở nhiều nơiđể tạo thêm giống và kinh nghiệm gieo trồng chăm sóc nhằm mở rộng nhanh chóngdiện tích gieo trồng trong hai mùa khô tới. Phấn đấu đến năm 1980 sản lượng caolương đạt khoảng 30-40 vạn tấn.

e) Khoai lang,rau, đậu các loại : Phải làm mạnh trong nhân dân ở bất kỳ nơi nào có điềukiện để cung cấp lương thực, thực phẩm cho người và thức ăn cho gia súc.

g) Giốngrau : Ngay từ bây giờ, Bộ Nông nghiệp và các tỉnh phải có kế hoạch cụ thể sảnxuất giống các loại rau, nhất là bắp cải, su hào, củ cải v.v… để từ năm 1978 tatự túc giống rau.

Những chỉ tiêuvề sản xuất lương thực nói trên đây là mức tối thiểu; Bộ Nông nghiệp cùng Ủyban Kế hoạch Nhà nước phải làm việc với các tỉnh, thành phố để có kế hoạch đạtmức cao nhất như đã phổ biến trong hội nghị nông nghiệp tháng 10 năm 1977; chútrọng đưa tỷ trọng hoa màu quy thóc vượt 30% tổng sản lượng lương thực.

4. Bộ Ngoại thương chủ trì phối hợp với các Bộ Nôngnghiệp, Lâm nghiệp, Hải sản bàn kế hoạch sản xuất, khai thác, thu mua, chế biếnnông, lâm hải sản cho xuất khẩu trong mùa khô này. Phải tập trung lực lượng vàchỉ đạo có hiệu lực để bảo đảm yêu cầu cấp bách của xuất khẩu, và phù hợp vớitính chất thời vụ của sản xuất.

5. Về chăn nuôi

- Phải mau chóngphục hồi đàn lợn và gia cầm, đưa số lợn có mặt ngày 1 tháng 4 năm 1977 là 10triệu con lên trên 11,5 triệu con vào ngày 1 tháng 4 năm 1978; đưa đàn trâu lên2,3 triệu con, tăng 9 vạn so với ngày 1 tháng 4 năm 1977, đưa đàn bò lên 1,65triệu con, tăng 11 vạn con so với ngày 1 tháng 4 năm 1977. Phải đẩy mạnh phongtrào chăn nuôi để tăng nhanh khối lượng phân hữu cơ, nhất là ở miền Nam. Phải rất coi trọng phát triển đàn bò và trâu sữa.

- Tháng 11 năm1977 Bộ Nông nghiệp chủ trì phối hợp với Ban Nông nghiệp trung ương, Bộ Lươngthực và thực phẩm và các ngành có liên quan nghiên cứu và trình Thường vụ Hộiđồng Chính phủ đề án hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Hội nghị trung ương lầnthứ hai và dành tỷ lệ 15% đất đai cho sản xuất thức ăn gia súc. Yêu cầu là phảivừa đảm bảo phát triển chăn nuôi, vừa bảo đảm tăng năng suất và sản lượng, tăngphần lương thực huy động cho Nhà nước.

6. Về khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới.

Chúng ta đangđi vào thời vụ hàng năm của công tác khai hoang, phải tập trung để hoàn thành kếhoạch khai hoang năm 1977 và chuẩn bị cho kế hoạch khai hoang năm 1978. Các BộNông nghiệp, Lâm nghiệp, Quốc phòng cùng các ngành và các địa phương có liên quanphải xác định kế hoạch xây dựng và sản xuất trên từng địa bàn nhằm đáp ứng cácyêu cầu cấp bách về sản xuất lương thực, nông sản xuất khẩu và nông sản nguyênliệu cho công nghiệp; kế hoạch này phải phù hợp với điều kiện cụ thể về cungcấp lương thực, vật tư, thiết bị của ta hiện nay, phải rất coi trọng mau làm rasản phẩm trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch kinh doanh lâu dài. Phải đặc biệtquan tâm tăng năng suất lao động và công suất máy móc, bố trí hợp lý, làm 3 ca,tăng cường sửa chữa, chống lãng phí lao động công suất thiết bị. Trong tháng 10năm 1977, Bộ Lâm nghiệp và Bộ Nông nghiệp trình Thủ tướng Chính phủ ban hànhđiều lệ cụ thể về giao đất, giao rừng cho hợp tác xã kinh doanh, ngăn ngừa nạnphá rừng, tự ý khai thác gỗ, củi trái với những quy định của Nhà nước và vì lợiích riêng.

Cần mau chóngtăng cường bộ máy khai hoang ở các cấp : Bộ Nông nghiệp, Ban tổ chức của Chính phủphối hợp với Ban tổ chức trung ương bổ sung cán bộ cho Tổng cục khai hoang vàvùng kinh tế mới, tổ chức các bộ khung mạnh cho các nông trường, hợp tác xã sắpthành lập. Các tỉnh có công tác khai hoang phải chọn cán bộ tốt vào tổ chức quảnlý khai hoang. Các Bộ quản lý tổng hợp như Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tàichính, Ngân hàng, Bộ Lao động Ủy ban Vật giá, v.v… phải giúp Tổng cục khai hoangvà vùng kinh tế mới kinh nghiệm và cán bộ để ngay từ đầu quản lý chặt chẽ và cónề nếp mọi khâu kế hoạch, lao động, vật tư, thiết bị, tiền vốn v.v…

Hội đồng Chínhphủ đòi hỏi các ngành, các cấp đề cao trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cácđoàn thể nhân dân, hết lòng chăm lo sức khỏe và đời sống của đồng bào đi xâydựng các vùng kinh tế mới. Các Bộ Xây dựng, Lâm nghiệp, Vật tư v.v… phải giảiquyết cho được vật liệu xây dựng nhà ở cho các vùng kinh tế mới, ngay từ đầuphải bảo đảm nước sinh hoạt. Các Bộ Lương thực và thực phẩm, Nội thương, Y tế,Văn hóa, Giáo dục v.v… phải cử cán bộ có thẩm quyền đi xuống tìm hiểu và giải quyếttại chỗ những yêu cầu tối thiểu của cơ sở. Bộ Giao thông vận tải, ngoài nhiệmvụ vận chuyển cho sản xuất và xây dựng, phải làm chu đáo trách nhiệm đưa đồngbào đến quê hương mới; các tỉnh và thành phố có đồng bào đi qua phải thiết thựcgiúp đỡ, ân cần săn sóc đồng bào.

7. Về thủy lợi : Bộ Thủy lợi cần có đề án trìnhThường vụ Hội đồng Chính phủ kế hoạch triển khai xây dựng thủy lợi trong mùakhô 1977-1978

IV. TĂNGCƯỜNG CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN

Phải tăng cườngsự chỉ đạo, phải đổi mới cách làm việc của Thường vụ Hội đồng Chính phủ, cácngành, các cấp.

1. Tăng cường sự chỉ đạo của Thường vụ Hội đồng Chính phủ

a) Thường vụHội đồng Chính phủ, cần dành thời gian thích đáng để giải quyết các vấn đềvề nông nghiệp và các vấn đề sản xuất công nghiệp, lưu thông phân phối… phục vụnông nghiệp, thủy lợi.

b) Cải tiếnsự phân công của các Phó thủ tướng theo hướng mỗi đồng chí Phó thủ tướngđược phân công phụ trách một lĩnh vực công việc mà không phải chỉ là phân côngphụ trách một khối Bộ. Phụ trách một lĩnh vực, Phó thủ tướng theo các chủ trương,kế hoạch đã có, đôn đốc các ngành có liên quan thực hiện. Đối với vấn đề quantrọng và có liên quan đến lĩnh vực khác, Phó thủ tướng phụ trách trao đổi thốngnhất với các Phó thủ tướng khác hoặc báo cáo với Thủ tướng Chính phủ để giảiquyết.

Kiện toàn tổ chứccủa Văn phòng Phủ thủ tướng, chú ý tăng cường bộ phận nông nghiệp của Văn phòngPhủ thủ tướng.

2. Tăng cường hệ thống bộ máy nông nghiệp từ trung ương đến địaphương: Tăng cường bộ máy (tổ chức và cán bộ) Bộ Nông nghiệp, tăngcường cơ quan nông nghiệp huyện, xác định nhiệm vụ của cấp tỉnh đối với nôngnghiệp, và tăng cường Tổng cục khai hoang và vùng kinh tế mới.

Trong quý IV năm1977, Bộ Nông nghiệp bàn với các ngành có liên quan và trình Thường vụ Hội đồngChính phủ xét Điều lệ tổ chức và hoạt động của bộ máy nông nghiệp từ trung ươngđến địa phương; trong đề án này phải đề cập đến những vấn đề có tính chất thờisự hiện nay, như cách làm kế hoạch nông nghiệp, sự phân công giữa Ủy ban kếhoạch Nhà nước và Bộ Nông nghiệp, việc tổ chức cung ứng vật tư cho các đơn vịcơ sở.

3. Tăng cường sự chỉ đạo của các Bộ có liên quan đến sản xuấtnông nghiệp, như cơ khí, điện lực, giao thông, vận tải v.v… ở mỗi Bộ,Thủ trưởng đích thân chỉ đạo những công tác thuộc lĩnh vực phục vụ cho nôngnghiệp.

Phải tăng cườngcác bộ máy phục vụ nông nghiệp ở các Bộ, Tổng cục, Các Bộ, Tổng cục cùng Ban tổchức của Chính phủ thực hiện việc này trong quý IV năm 1977. Trong khi thựchiện phải theo nguyên tắc “Thiết thực, có việc mới đặt người, bộ máy gọn nhẹ”,không được để bộ máy tổ chức vừa phình ra, vừa ít hiệu lực.

4. Tăngcường cán bộ nông nghiệp cho các tỉnh miền Nam

Ban tổ chức của Chính phủ phối hợpvới Ban tổ chức trung ương phải gấp rút tăng cường cán bộ nông nghiệp cho cáctỉnh miền Nam bằng cách tích cực bồi dưỡng cán bộ địa phương và đưa thêm cán bộkinh tế và kỹ thuật ở trung ương vào.

Ban tổ chức của Chính phủ phối hợpvới Ban tổ chức trung ương và Ban nghiên cứu quản lý kinh tế trình Thường vụHội đồng Chính phủ duyệt đề án “Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh và cấp huyệnở miền Nam” trong tháng 11 năm 1977 và tổ chức các lớp này vào đầu năm 1978.

Hội đồng Chính phủ quyết định điềuđộng từ 30% đến 50% cán bộ của các Ty thủy lợi, Ty nông nghiệp, Ty tài chính ởcác tỉnh miền Bắc tăng cường cho các tỉnh miền Nam Cán bộ được điều đi phải làcán bộ tốt, có trình độ chuyên môn và kỹ thuật khá.

Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụcho thủ trưởng các ngành kinh tế tài chính bàn với các Chủ tịch Ủy ban nhân dâncác tỉnh trung du và đồng bằng miền Bắc ở điều ở mỗi Ty ở tỉnh một Trưởng Ty hoặcPhó Ty có năng lực vào tăng cường cho các tỉnh miền Nam.

Ban tổ chức của Chính phủ cùng BộLao động phối hợp với Ban tổ chức trung ương xây dựng ngay chính sách đối vớinhững cán bộ được điều động vào tăng cường cho các tỉnh, các huyện, các nôngtrường, lâm trường và vùng kinh tế mới ở miền Nam và trình Thường vụ Hội đồngChính phủ xét trong quý IV năm 1977.

5. Đểbảo đảm thực hiện các mục tiêu về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nhưnghị quyết Đại hội IV của Đảng đã đề ra, phải có sự tập trung chỉ đạo, có cáchtổ chức làm việc mới nhằm thực hiện cho được những công tác trọng tâm, xây dựngcho được các vùng sản xuất trọng điểm.

Đối với những công việc lớn tiếnhành trong khu vực hợp tác xã và trong nhân dân, khi cần thiết Ủy ban nhân dân củatỉnh, các huyện cần mở những chiến dịch để động viên đông đảo quần chúng gópsức giải quyết dứt điểm những công trình quan trọng hoặc để bảo đảm thời vụ củamùa màng. Khi làm những đợt động viên như vậy cần chuẩn bị chu đáo, có kế hoạchhuy động hợp lý, không lãng phí sức dân, tiết kiệm lương thực, vật tư, tiền vốn.

6. Chếđộ làm việc và kỷ luật làm việc có vai trò rất quan trọng để bảo đảm hiệu lựccủa bộ máy Nhà nước. Cần phải qua việc thực hiện sự chỉ đạo tập trung, khẩntrương đối với nông nghiệp mà chấn chỉnh công việc của bộ máy quản lý Nhà nước.Hội đồng Chính phủ giao đồng chí Bộ trưởng Phủ thủ tướng chủ trì nghiên cứuviệc chấn chỉnh chế độ và phương pháp làm việc của Hội đồng Chính phủ, cũng nhưcác ngành và các cấp trên tinh thần soát lại để loại trừ những cái lỗi thời,củng cố lại chế độ làm việc và kỷ luật của bộ máy Nhà nước nhằm làm cho giữacác ngành ở trung ương và giữa các ngành với các cấp ở địa phương có sự phốihợp chặt chẽ để chỉ đạo và phục vụ tốt các đơn vị cơ sở có hiệu quả hơn, vàtrình Hội đồng Chính phủ xét trong quý I năm 1978. Trước mắt, các thủ trưởng cơquan phải khắc phục ngay những điều bất hợp lý, trì trệ ảnh hưởng đến thời vụnông nghiệp.

7. Vềnhững việc cần làm ngay và những vấn đề giải quyết sớm nói trong nghị quyết củaHội đồng Chính phủ kỳ này, Hội đồng Chính phủ giao cho Văn phòng Phủ thủ tướngsắp xếp vào chương trình nghị sự và chương trình chỉ đạo của Thường vụ Hội đồngChính phủ, đồng thời đôn đốc các ngành, các cấp chuẩn bị cho việc xét giảiquyết cũng như cho việc thực hiện.

Trong việc xây dựng và phát triểnnền kinh tế xã hội chủ nghĩa của nước, có những thuận lợi rất cơ bản nhưng cũngcó nhiều khó khăn to lớn phải vượt qua bằng sức sáng tạo và lao động không mệtmỏi của toàn thể cán bộ của ngành, các cấp và của toàn dân ta, nhất là ra sứcvượt các khó khăn trong những năm trước mắt này.

Phải phát động được phong trào toàndân ra sức làm nông nghiệp và tích cực phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp,nuôi dưỡng cho được phong trào đó, tổ chức phong trào thi đua sâu rộng và sôinổi trên cả nước. Quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm nhiệm vụxây dựng kinh tế, góp phần rất quan trọng vào phong trào lâm nông nghiệp của toàndân.

Nông nghiệp là lĩnh vực rất rộnglớn, đòi hỏi thực hiện nhiều việc mới mẻ đối với quần chúng, nhất là làm ba cuộccách mạng trong nông nghiệp. Phải làm cho nông dân lao động thật sự làm chủ tậpthể từ lao động sản xuất, đến phân phối tiêu dùng, làm nghĩa vụ đối với Nhànước, xây dựng cuộc sống vật chất và văn hóa mới ở nông thôn. Vì vậy trong mỗithời vụ trồng cấy, thậm chí trong mỗi việc đề ra dù lớn hay nhỏ cũng đều phảiphát động phong trào quần chúng. Như vậy ở khắp mọi nơi đâu đâu cũng phải có phongtrào quần chúng rộng rãi, liên tục, phong phú.

Phải động viên cả quần chúng phinông nghiệp tiến quân vào nông nghiệp. Cả nước tiến lên xây dựng đất nước, thanhtoán nghèo nàn lạc hậu bắt đầu từ lâm nông nghiệp. Tất cả mọi người dân, từnông dân, công nhân, cán bộ cho đến quân đội, học sinh, nhân dân thành thị đềuphải được thu hút vào mặt trận trung tâm này.

Phải tổ chức phong trào thi đua trongquần chúng, với những nội dung thiết thực và phong phú : Thi đua sản xuất lươngthực, thi đua làm hoa màu, thi đua làm thủy lợi, thi đua làm nông sản xuấtkhẩu, thi đua thâm canh tăng vụ, đẩy mạnh chăn nuôn gia súc, cho đến trong thiếuniên cũng có thể tổ chức thi đua nuôi trâu béo, nuôi gà, lợn, làm phân xanh,làm kế hoạch nhỏ v.v…

Đi đôi với động viên, phải cải tiếnnhiều mặt công tác của Nhà nước như đã nói trên và phải có sự phối hợp chặt chễhoạt động giữa bộ máy chính quyền và các đoàn thể quần chúng. Phải bằng cáchành động cụ thể, thiết thực mà thể hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhân dân làmchủ tập thể, Nhà nước quản lý. Đó chínhh là động lực của mọi phong trào.

Chúng ta có đường lối đúng đắn củaĐảng, nước ta có nguồn lao động dồi dào, có tài nguyên phong phú, nhất định nhândân ta mau chóng khắc phục được các khó khăn hiện nay, thực hiện đạt và vượt mứccác mục tiêu về nông nghiệp do Đại hội IV của Đảng đề ra. Công việc to lớn đóđòi hỏi phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức và quản lý của Hội đồng Chínhphủ, của từng ngành, từng cấp. Mọi người trong bộ máy Nhà nước, trước hết làcác thủ trưởng các ngành và các địa phương phải có những nổ lực vượt bật, phảicải tiến công việc của mình, bảo đảm thực hiện thắng lợi nghị quyết Hội nghịlần thứ hai của Ban chấp hành trung ương Đảng theo đường lối mà đại hội IV đãvạch ra.

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ.




Phạm Văn Đồng