HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*******

Số: 357-CP

Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 1979

NGHỊ QUYẾT

VỀCHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI TRÂU BÒ

Trong nhiều năm qua, chăn nuôitrâu, bò không phát triển, đàn trâu tăng chậm, đàn bò giảm sút.

Để tăng nhanh đàn trâu, bò trongnhững năm tới, bảo đảm sức kéo và phân bón cho trồng trọt, cung cấp thịt, sữacho nhu cầu đời sống, nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hóa cho xuất khẩu,Hội đồng Chính phủ quyết định:

1. Nhà nước khuyến khích cáctổ chức và nhân dân phát triển mạnh chăn nuôi trâu, bò, không hạn chế về sốlượng.

Phương hướng phát triển chănnuôi bò chủ yếu là để lấy sữa và thịt, đồng thời cung cấp một phần sức kéo;chăn nuôi trâu chủ yếu là để giải quyết sức kéo, đồng thời cung cấp một phầnthịt và sữa.

a) Đối với các nông trường:

Các nông trường chăn nuôi trâu,bò phải tận dụng khả năng đồng cỏ và cải tạo đồng cỏ để đẩy mạnh chăn nuôi trâu, bò thịt, sữa và sản xuất con giống với mức cao nhất, đồng thời phảitích cực giúp đỡ các hợp tác xã, các tập đoàn sản xuất và nhân dân trong vùngvề con giống, cải tạo đồng cỏ, chế biến sản phẩm, v.v… nhằm phát triển chănnuôi, tạo thành vùng chăn nuôi trâu, bò thịt, sữa tập trung, có nhiều sản phẩmhàng hóa. Các nông trường kinh doanh các loại cây con khác và các lâm trườngcũng có trách nhiệm đẩy mạnh chăn nuôi trâu, bò để tạo ra nguồn phân bón và cácsản phẩm chăn nuôi khác.

b) Đối với các hợp tác xã vàtập đoàn sản xuất nông nghiệp:

Các hợp tác xã và tập đoàn sảnxuất ở miền núi và trung du có nhiều đồng cỏ, phải chú trọng phát triển chănnuôi trâu, bò sinh sản để giải quyết sức kéo tại chỗ và cung cấp con giống,trâu, bò cày kéo cho vùng đồng bằng. Những nơi có đồng cỏ tập trung phải có kếhoạch tận dụng đồng cỏ để chăn nuôi trâu, bò đàn.

Các hợp tác xã và tập đoàn sảnxuất ở đồng bằng phải có kế hoạch chăn nuôi trâu, bò cày kéo kết hợp sinh sảnđể tự giải quyết phần lớn sức kéo. Ở những nơi tiến hành cơ giới hóa nôngnghiệp, tùy theo mức độ cơ giới hóa hàng năm, các hợp tác xã và tập đoàn sảnxuất vẫn phải giữ đàn trâu, bò của tập thể, tùy theo tình hình có thể chuyểncho gia đình xã viên nuôi để tiếp tục dùng vào vận chuyển, lấy phân bón, bê,nghé, thịt, sửa hoặc điều hòa cho những nơi còn thiếu sức kéo.

Ở vùng vành đai thực phẩm củacác thành phố, khu công nghiệp và những nơi có điều kiện chăn nuôi trâu, bòthuận lợi, các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất được sử dụng đất 10 - 15% dànhcho chăn nuôi để phát triển chăn nuôi trâu, bò lấy sữa, thịt và trâu, bò sinhsản.

Các hợp tác xã và tập đoàn sảnxuất ở miền Nam khi mới thành lập chỉ được mua của xã viên với giá thỏa thuậnmột số trâu, bò cày đủ cho nhu cầu cày kéo. Khi hợp tác xã và tập đoàn sản xuấtcó đủ điều kiện mới mở rộng kinh doanh chăn nuôi trâu, bò đàn.

c) Đối với các gia đình:

Nhà nước khuyến khích các giađình phát triển chăn nuôi trâu, bò riêng không hạn chế về số lượng, trên cơ sởbảo đảm góp đủ số ngày công cho hợp tác xã và tập đoàn sản xuất (nếu là xã viênhợp tác xã và tập đoàn sản xuất), không thuê mướn nhân công chăn dắt và khôngđể trâu, bò phá hoại sản xuất. Riêng ở miền Nam, những gia đình nuôi nhiềutrâu, bò lấy sữa, thịt, được thuê một số nhân công chăn dắt trâu, bò theo quyđịnh của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Các hợp tác xã và tập đoàn sảnxuất có trách nhiệm khuyến khích, tạo điều kiện và giúp đỡ gia đình xã viênchăn nuôi trâu, bò như cho trâu, bò nuôi riêng của xã viên được chăn dắt trênnhững bãi cỏ được quy định; phân phối cho xã viên một phần phụ phẩm nông nghiệpđể làm thức ăn cho trâu, bò, v.v…

d) Đối với các lâm trường,công trường, các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị bộ đội, v.v…

Nhà nước khuyến khích các tổchức nói trên phát triển chăn nuôi trâu, bò lấy sữa, thịt để cải thiện đời sốngcho cán bộ, công nhân và bộ đội hoặc để tự giải quyết sức kéo và phân bón.

2. Chính sách, biện pháp vềgiống, sinh sản và lai tạo.

Để phát triển mạnh đàn trâu, bò,phải hết sức coi trọng tăng nhanh tốc độ sinh sản của trâu, bò.

Đi đôi với cân đối sức kéo chođồng ruộng, mỗi địa phương, mỗi cơ sở sản xuất nông nghiệp phải cân đối đàn cáisinh sản với đực giống. Các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất cần gây nuôi đủtrâu, bò đực giống trong từng thôn, xóm.

Xã viên nuôi trâu, bò đực giống,trâu, bò cái sinh sản của hợp tác xã và tập đoàn sản xuất được trả công điểmchăn dắt cao hơn công chăn dắt trâu, bò cày kéo không sinh sản và được hợp tácxã, tập đoàn sản xuất cấp cho một số thức ăn tinh (trích ở số thức ăn dành chochăn nuôi) để bồi dưỡng cho trâu, bò đực giống khi phối giống và trâu, bòcái khi chửa đẻ.

Bê, nghé do trâu, bò của hợp tácxã giao cho xã viên nuôi đẻ ra, khi được 1 năm tuổi, nếu hợp tác xã cần lấy thìhợp tác xã phải trả cho người nuôi trâu, bò mẹ 80%, người nuôi trâu, bò đựcgiống của hợp tác xã 5% giá trị con bê, nghé đó theo giá thỏa thuận. Nếu hợptác xã không cần lấy thì người nuôi trâu, bò mẹ được để lại nuôi riêng hoặc bánở thị trường nhưng phải trả cho hợp tác xã 15% và người nuôi trâu, bò đực giốngcủa hợp tác xã 5% giá trị con bê, nghé đó.

Những người nuôi trâu, bò đựcgiống riêng được quyền thu tiền của người nuôi trâu, bò cái khi phối giống theosự thỏa thuận giữa hai bên.

Để nhanh chóng nâng cao chấtlượng đàn trâu, bò, Bộ Nông nghiệp và các tỉnh, thành phố có trách nhiệm xâydựng hệ thống các cơ sở giống trâu, bò, sản xuất nhiều con giống tốt cung cấpcho các hợp tác xã và nhanh chóng mở rộng mạng lưới thụ tinh nhân tạo.

Nhà nước khuyến khích các nôngtrường, hợp tác xã và nhân dân lai tạo trâu, bò, không thu tiền chi phí về phốigiống bằng thụ tinh nhân tạo (kể cả tinh đông viên và tinh lỏng) và cứ mỗi lầnsinh sản được một bê, nghé lai thì người nuôi được Nhà nước thưởng 15 đồng. Giáthu mua bê, nghé lai được quy định cao hơn giá bê, nghé nội 20%.

Những hợp tác xã, tập đoàn sảnxuất và gia đình thiếu vốn mua trâu, bò giống được Nhà nước cho vay vốn dàihạn, kể cả vay vốn bằng tiền mặt khi cần thiết.

3. Chính sách, biện pháp vềthức ăn cho trâu, bò.

Các nông trường, hợp tác xã, tậpđoàn sản xuất và gia đình phải có kế hoạch sản xuất, dự trữ đủ thức ăn chotrâu, bò ăn quanh năm, nhất là trong mùa khô, rét.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, huyệnmiền núi và trung du phải khoanh vùng, quy định rõ khu vực đồng cỏ, khu vựckhai hoang để trồng trọt và khu vực trồng rừng, không để khai hoang trồng trọtmanh mún trên đồng cỏ, vừa khó bảo vệ sản xuất vừa gây khó khăn cho việc chăndắt trâu, bò.

Để khuyến khích việc cải tạođồng cỏ, Nhà nước đầu tư vốn không phải hoàn lại cho các hợp tác xã, tập đoànsản xuất khai hoang để xây dựng đồng cỏ theo quyết định số 272-CP ngày03-10-1977 của Hội đồng Chính phủ.

Diện tích đồng cỏ trồng và cảitạo được sử dụng phân hóa học theo định mức để chăm bón và được cung ứng một sốvật liệu cần thiết để rào và bảo vệ đồng cỏ.

Các hợp tác xã, tập đoàn sản xuấtở đồng bằng phải tận dụng đất bờ kênh, bờ đê, bờ mương máng, mặt nước… để sảnxuất rau, cỏ và tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu, bò. Nếucòn thiếu, hợp tác xã có thể dành một phần đất trong số đất 10-15% dành cho chănnuôi để sản xuất thức ăn cho trâu, bò.

4. Chính sách, biện pháp vềthú y.

Ngành nông nghiệp phải phấn đấutrong những năm tới tiêu diệt bệnh dịch tả trâu, bò, dịch lở mồm, long móng,khống chế dịch nhiệt thán, tụ huyết trùng, lao bò,… hạn chế tới mức thấp nhấtsự thiệt hại do các bệnh ký sinh trùng và các bệnh thông thường khác gây ra.

Bộ Nông nghiệp và chính quyềncác địa phương cần tăng cường mạng lưới thú y để hướng dẫn nhân dân thực hiệnvệ sinh phòng chống dịch bệnh và thường xuyên tổ chức những đợt tiêm phòng dịchcho trâu, bò. Nhà nước không thu tiền thuốc và các chi phí khác về phòng dịch,chống dịch, kiểm dịch các loại gia sức trong các cơ sở chăn nuôi quốc doanh,hợp tác xã và gia đình.

Các địa phương cần hướng dẫn vàvận động các cơ sở chăn nuôi và gia đình làm chuồng nuôi trâu, bò, không đượcthả rông trâu, bò.

Những hợp tác xã, tập đoàn sảnxuất xây dựng chuồng trại nuôi trâu, bò tập trung được Nhà nước cung ứng một sốnguyên, vật liệu xây dựng mà địa phương không tự giải quyết được.

5. Chínhsách lưu thông trâu, bò.

a) Thu mua:

- Các cơ sở chăn nuôi trâu, bòquốc doanh phải giao nộp sản phẩm chăn nuôi cho Nhà nước theo chỉ tiêu kế hoạchhàng năm. Phần sản phẩm vượt kế hoạch được để lại sử dụng hoặc bán cho Nhànước, bán cho hợp tác xã và tập đoàn sản xuất theo giá thỏa thuận.

- Các lâm trường, công trường,cơ quan, xí nghiệp, đơn vị bộ đội, v.v…, chăn nuôi trâu, bò để tự giải quyếtsức kéo và phân bón, có quyền sử dụng sản phẩm chăn nuôi vào việc cải thiện đờisống cho cán bộ, công nhân và bộ đội, không trừ vào tiêu chuẩn thực phẩm Nhànước cung cấp, nếu bán cho Nhà nước thì được mua theo giá thỏa thuận.

- Những nông trường mà Nhà nướckhông giao nhiệm vụ chăn nuôi trâu, bò, nếu nuôi ngoài chỉ tiêu kế hoạch một sốtrâu, bò thì cũng được áp dụng như đối với các lâm trường, cơ quan, xí nghiệp,đơn vị bộ đội.

- Các hợp tác xã và tập đoàn sảnxuất chăn nuôi trâu, bò có quyền sử dụng hoặc bán sản phẩm chăn nuôi ở thịtrường. Nếu bán cho Nhà nước thì được mua theo giá thỏa thuận.

Các hợp tác xã và tập đoàn sảnxuất có thể bán trâu, bò thịt hoặc sữa trâu, bò cho Nhà nước thay cho thịt lợnghi trong hợp đồng kinh tế hai chiều. Tỷ lệ quy đổi giữa thịt trâu, bò hơi vàsữa trâu, bò với thịt lợn hơi do Bộ Nội thương và Bộ Nông nghiệp quy định.

- Gia đình chăn nuôi trâu, bòđược tự do sử dụng, được trao đổi, mua bán sản phẩm chăn nuôi ở thị trường. Nếubán cho Nhà nước thì Nhà nước mua theo giá thỏa thuận.

Giá thỏa thuận nói trong nghịquyết này là giá thuận mua vừa bán, không ép buộc dưới bất cứ hình thức nào.

b) Giá chỉ đạo:

Ủy ban Vật giá Nhà nước và BộNông nghiệp nghiên cứu và sớm trình Hội đồng Chính phủ sửa đổi lại giá chỉ đạothu mua trâu, bò cày kéo, trâu, bò thịt và sữa trâu, bò theo nguyên tắc giá đóphải bảo đảm cho người chăn nuôi bù đắp được chi phí sản xuất và có một phầnlãi.

Chú ý giảm bớt cấp loại trâu, bòvà hướng dẫn cách tính trọng lượng, áp dụng cho những nơi không có điều kiệncân trâu, bò để đảm bảo việc thu mua trâu, bò được thuận tiện và công bằng.

Giá trâu, bò giống do Bộ Nôngnghiệp quy định.

c) Tổ chức lưu thông:

Các tổ chức sản xuất và nhân dânđược tự do mua bán, lưu chuyển các loại trâu, bò, bê, nghé ở tất cả các địaphương trong cả nước. Xóa bỏ việc cấm vận trâu, bò mà một số địa phương trướcđây đã quy định.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, huyệncó trách nhiệm khôi phục hoặc mở chợ trâu, bò để tạo điều kiện cho nhân dân muabán trâu, bò được dễ dàng. Cho phép thương nhân đăng ký buôn bán, lưu chuyểntrâu, bò giữa các địa phương.

Khi lưu chuyển trâu, bò, mọingười phải thực hiện đúng những quy định về kiểm dịch động vật để đề phòng dịchbệnh lây lan.

6. Thể lệ sát sinh trâu, bò.

Để bảo đảm sức kéo, bảo vệ trâu,bò sinh sản và đề phòng dịch bệnh gia súc, Nhà nước cho phép các tổ chức và nhândân được mổ thịt ăn hoặc bán ở thị trường những trâu, bò trên 1 năm tuổi.

- Cấm mổ thịt những trâu sử dụnglàm sức kéo và những trâu, bò cái nuôi để sinh sản.

- Cấm mổ thịt trâu, bò bị bệnhdịch và trâu, bò ở những nơi đang có dịch.

Đơn vị và cá nhân mổ thịt trâu,bò phải thực hiện đúng những quy định về thú ý và phải nộp thuế sát sinh.

Để tạo một thế chuyển biến mạnhmẽ về chăn nuôi trâu, bò, Bộ Nông nghiệp và Ủy ban nhân dân các cấp có tráchnhiệm phối hợp với các đoàn thể tổ chức phổ biến sâu rộng nghị quyết này xuốngcơ sở, đồng thời phát động quần chúng thi đua chăn nuôi trâu, bò, kịp thời độngviên, khen thưởng những đơn vị và cá nhân chăn nuôi giỏi.

Bộ Nông nghiệp có trách nhiệmgiúp đỡ và chỉ đạo các địa phương xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triểnđàn trâu, bò phù hợp với điều kiện từng vùng, tăng cường tổ chức ngành chănnuôi trâu, bò từ trung ương đến cơ sở và tích cực xây dựng các cơ sở vật chấtkỹ thuật về giống, thức ăn, thú y… đảm bảo cho ngành chăn nuôi trâu, bò pháttriển với tốc độ nhanh.

Bộ Nông nghiệp ra thông tư hướngdẫn thi hành nghị quyết này, sau khi đã bàn với các ngành có liên quan.

Những chủ trương, chính sách banhành trước đây trái với những quy định trong nghị quyết này đều bãi bỏ.

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
QUYỀN THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Lê Thanh Nghị