HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 51-HĐBT

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 1983

NGHỊ QUYẾT

CỦAHỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 51-HĐBT NGÀY 17-5-1983 VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÔNG TÁC KHOA HỌCVÀ KỸ THUẬT NĂM 1983 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO

Dưới ánh sáng của nghị quyết Đạihội lần thứ IV, lần thứ V, các nghị quyết của hội nghị Ban chấp hành trung ương,và nghị quyết của Bộ Chính trị về chính sách khoa học và kỹ thuật, công táckhoa học và kỹ thuật, trong hai năm 1981 - 1982 đã được đẩy mạnh thêm một bướcvà có những chuyển biến mới, tiến bộ mới:

1. Lãnh đạo của các Bộ, các ngành,các địa phương, các cơ sở bước đầu coi trọng công tác khoa học và kỹ thuật. Cácnghị quyết của Đảng về khoa học và kỹ thuật đã được tổ chức nghiên cứu và phổbiến rộng rãi trong cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ khoa học, kỹ thuật,nhiều nơi phổ biến đến tận huyện và cơ sở. Nhiều địa phương đã xây dựng vàtriển khai thực hiện các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật, gắn liền vớiyêu cầu sản xuất và đời sống của địa phương, kết hợp với các chương trình củatrung ương. Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sảnxuất đang ngày càng phát triển.

2. Hoạt động của các cơ quan nghiêncứu khoa học và triển khai kỹ thuật, của các chương trình tiến bộ khoa học kỹthuật trọng điểm cấp Nhà nước đã hướng vào phục vụ thiết thực cho việc thựchiện các mục tiêu kinh tế, xã hội và đã đạt được một số kết quả đáng kể. Một sốthành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật đã được kết luận và áp dụng vào sản xuấtmang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp, một số ngành công nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vậntải, v.v...

3. Phương thức quản lý khoa học vàkỹ thuật đã có những chuyển biến tốt, bước đầu phát huy được tính năng động vàsáng tạo trong hoạt động khoa học và kỹ thuật. Kế hoạch khoa học và kỹ thuật 5năm 1981 - 1985 đã được xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Hệ thống các cơ quan quản lý khoahọc và kỹ thuật từ trung ương đến địa phương và cơ sở đã được tăng cường mộtbước. Nhiều nghị định, quyết định, chỉ thị về quản lý khoa học và kỹ thuật đượcHội đồng bộ trưởng ban hành đã có tác dụng đưa một số mặt hoạt động khoa học vàkỹ thuật vào nền nếp, thúc đẩy quá trình gắn khoa học với sản xuất, đưa nhanhcác thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn.

4. Có những tiến bộ nhất định trongviệc sử dụng và phát huy tiềm lực khoa học và kỹ thuật. Tích cực triển khai chỉthị của Hội đồng bộ trưởng về việc kiểm kê lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật,công nhân kỹ thuật trong cả nước và tiến hành xây dựng quy hoạch, kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ hợp lý trước mắt cũng như về lâu dài. Đã hoànthành kiểm kê máy móc thiết bị hiện có và đã bắt đầu thực hiện sử dụng chungmột số thiết bị quý hiếm, cải tiến một bước việc quản lý cung ứng và bảo đảmvật tư thiết bị cho hoạt động khoa học và kỹ thuật.

Tuy nhiên trong hai năm qua, côngtác khoa học và kỹ thuật còn một số thiếu sót và nhược điểm:

1. Nhiều tiến bộ khoa học và kỹ thuậtđã được kết luận có hiệu quả kinh tế rõ rệt nhưng do nhiều nguyên nhân khácnhau, chủ yếu là do tổ chức chỉ đạo và cơ chế quản lý, nên chưa được áp dụngrộng rãi vào sản xuất và đời sống.

2. Các nghị quyết của Đảng về khoahọc và kỹ thuật chưa được cụ thể hoá kịp thời bằng các chính sách, chế độ, nênchưa phát huy hết khả năng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ khoa học vàkỹ thuật, công nhân kỹ thuật, các cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có.

3. Công tác kiện toàn tổ chức cáccơ quan nghiên cứu cũng như cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật làm chậm. Hiệulực của bộ máy quản lý còn yếu. Công tác quản lý kỹ thuật chưa được chặt chẽ,chưa thực hiện nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn, định mức, các quy định về đo lườngvà kiểm tra chất lượng sản phẩm. Công tác thông tin khoa học và kỹ thuật tiếnbộ chậm, đặc biệt là thông tin trong nước; thông tin ở huyện và cơ sở chưa đượcquan tâm đúng mức. Việc tổng kết và phổ biến kinh nghiệm và điển hình tiên tiếnlàm chưa tốt.

4. Công tác bồi dưỡng nâng cao trìnhđộ chính trị và hiểu biết về kinh tế cho đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuậtchưa được quan tâm đúng mức. Một số cán bộ khoa học và kỹ thuật chưa quán triệtđầy đủ và chưa tập trung sức vào việc giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hộiquan trọng và bức thiết. Quan hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa một số cán bộ vàcơ quan khoa học chưa tốt.

Nhìn chung, công tác khoa học vàkỹ thuật đang trên đà phát triển và dần dần đi vào nền nếp. Nhưng cần ra sức khắcphục những thiếu sót và nhược điểm, bám sát các yêu cầu, nhiệm vụ phát triểnkinh tế và xã hội trong từng thời kỳ, tạo nên một bước chuyển biến mới mạnh mẽhơn nữa.

Trong năm 1983 và những năm 1983- 1985, các hoạt động khoa học và kỹ thuật (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuậtvà khoa học xã hội) cần tập trung phục vụ đắc lực hơn nữa cho việc thực hiệncác mục tiêu kinh tế và xã hội do Đại hội Đảng lần thứ V, nghị quyết Hội nghịtrung ương lần thứ 3, kế hoạch Nhà nước 5 năm 1981 - 1985 đề ra; tiếp tục thựchiện nghị quyết 37 của Bộ Chính trị về chính sách khoa học và kỹ thuật; đồngthời chuẩn bị những căn cứ khoa học cho kế hoạch 5 năm 1986 - 1990 và các kếhoạch tiếp theo.

Nhiệm vụ của công tác khoa học vàkỹ thuật là:

Ứng dụng nhanh chóng và rộng rãinhững thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, triển khaicó hiệu quả các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhànước, làm cho khoa học và kỹ thuật từng bước trở thành một trong những nhân tốhàng đầu trong việc nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi,chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, hiệu suất sử dụng máy móc, thực hiệntiết kiệm, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, tăng thêm thu nhậpquốc dân và tổng sản phẩm xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Phát huy sức mạnh sáng tạo và rasức khai thác chiều sâu tiềm lực khoa học và kỹ thuật, phục vụ tốt cho mục tiêuổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân trên cơsở đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện, từng bước đưa nông nghiệp lên sảnxuất lớn xã hội chủ nghĩa trong một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hợp lý,tích cực giải quyết vấn đề lương thực - thực phẩm, nâng cao khả năng cung cấp nguyênliệu cho công nghiệp, tăng nguồn hàng xuất khẩu.

Đồng thời hướng hoạt động khoa họcvà kỹ thuật vào việc đẩy mạnh các ngành công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùngthiết yếu, hàng xuất khẩu và một số ngành công nghiệp nặng quan trọng như nănglượng và nhiên liệu (điện, than, dầu mỏ và khí đốt, ...), nguyên liệu và vậtliệu, cơ khí, luyện kim, hoá chất, giao thông vận tải và thông tin bưu điện...,nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thựchiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường trước mắt của thời kỳquá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Các ngành khoa học tự nhiên cần đẩymạnh công tác nghiên cứu cơ bản có định hướng những vấn đề khoa học gắn liềnvới tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và con người Việt Nam, xây dựngcơ sở khoa học cho việc phát triển các kỹ thuật mũi nhọn, tạo thêm điều kiệnthuận lợi tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và kỹ thuật hiện đại củathế giới, phục vụ đắc lực cho các yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội do Đạihội Đảng lần thứ V đã đề ra.

Các ngành khoa học xã hội cần tậptrung nghiên cứu góp phần tích cực vào việc cụ thể hoá đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước trong chặng đường trước mắt của thời kỳ quá độ tiến lênchủ nghĩa xã hội; trước hết là vấn đề quản lý kinh tế, quản lý xã hội, thúc đẩyquá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa, lập lại trật tự xã hội chủ nghĩa trên mặttrận phân phối lưu thông, chống chủ nghĩa cơ hội dưới mọi hình thức, chống chủnghĩa Mao, chống mọi biểu hiện tiêu cực hiện nay trong xã hội.

Kết hợp chặt chẽ khoa học xã hộivới khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, tập trung lực lượng vào những mục tiêutrọng điểm, tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần tích cực vào việc tổ chức lạisản xuất, đổi mới hệ thống quản lý và kế hoạch hoá, làm cho cách mạng khoa học- kỹ thuật thực sự trở thành then chốt trong 3 cuộc cách mạng, phục vụ thiếtthực cho sự nghiệp xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, nền kinhtế sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủnghĩa ở nước ta; đồng thời đáp ứng tích cực những yêu cầu của quốc phòng và anninh.

Các hoạt động khoa học và kỹ thuậtphải nhằm phục vụ các yêu cầu cấp bách nhất của nền kinh tế, bao gồm kinh tếtrung ương và kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.Đẩy mạnh hoạt động khoa học và kỹ thuật tại các địa phương trên cơ sở kết hợpchặt chẽ lực lượng khoa học và kỹ thuật của trung ương và của địa phương, đưanhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống ở địa phương,đặc biệt là trên địa bàn huyện.

Để thực hiện tốt các mục tiêu vànhiệm vụ nói trên, Hội đồng bộ trưởng nhấn mạnh cần kết hợp chặt chẽ cách mạng khoahọc kỹ thuật với tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tập trung phục vụ tốt chophát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, chú trọng thích đáng đến kinhtế gia đình và phát huy các mặt tích cực của các thành phần kinh tế khác.

Vấn đề hết sức quan trọng đối vớihoạt động khoa học và kỹ thuật là phải tìm ra cách làm và bước đi thích hợp vàtích cực, năng động và sáng tạo, tìm ra những biện pháp có hiệu quả cho từng ngành,từng địa phương, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ.

Thực hiện triệt để nghị quyết củaĐại hội Đảng lần thứ V: "Tiến bộ khoa học và kỹ thuật phải trở thành mộtnội dung chủ yếu của kế hoạch kinh tế - xã hội ở tất cả các ngành, các cấp. Cơchế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá cần được đổi mới theo hướng đòi hỏi và khuyếnkhích áp dụng thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật".

Sau đây là những công tác lớn vềkhoa học và kỹ thuật trong năm 1983 và những năm tới:

1. Đưa nhanh và áp dụng rộng rãicác thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, quản lý và các mặt kháccủa đời sống kinh tế, xã hội.

Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nướcphối hợp với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Viện nghiên cứu quản lýkinh tế và các ngành hữu quan nghiên cứu xây dựng và trình Thường vụ Hội đồngbộ trưởng trong năm 1983 một cơ chế đồng bộ nhằm đẩy mạnh việc áp dụng nhanhchóng và rộng rãi các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vàđời sống. Trước mắt các ngành, các cấp phải làm tốt các việc sau đây:

a) Bộ trưởng các Bộ, chủ tịch Uỷban nhân dân các địa phương, thủ trưởng các ngành, các cấp phải trực tiếp chỉ đạoviệc áp dụng thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, vào quản lývà phải chịu trách nhiệm về trình độ kỹ thuật sản xuất trong phạm vi phụ trách.

b) Phải coi kế hoạch áp dụng cácthành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật là một bộ phận hữu cơ của kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội ở các ngành, các cấp. Việc xây dựng kế hoạch này phải theotrình tự sau:

- Tất cả các thành tựu khoa học vàtiến bộ kỹ thuật đều phải được đánh giá chặt chẽ ở các hội đồng khoa học các cấpvề mặt khoa học và kết luận về khả năng áp dụng vào sản xuất.

- Mỗi tiến bộ khoa học và kỹ thuậtdự kiến đưa vào áp dụng đều phải có luận chứng kinh tế - kỹ thuật và phương ántổ chức áp dụng, bao gồm cả những điều kiện bảo đảm về tài chính, vật tư, thiếtbị... cho việc thực hiện.

- Trên cơ sở đó, cơ quan quản lýkhoa học và kỹ thuật ở từng cấp bàn bạc với cơ quan kế hoạch cấp tương ứng và cáccơ sở sản xuất để đề xuất một danh mục các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuậtđưa vào áp dụng trong kỳ kế hoạch.

- Cơ quan kế hoạch các cấp có tráchnhiệm xem xét việc cân đối các điều kiện thực hiện, bố trí dự án kế hoạch đểtrình cấp quản lý quyết định.

Sau khi được cấp có thẩm quyền duyệt,các nhiệm vụ áp dụng thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật được chính thức ghivào kế hoạch và được bảo đảm các điều kiện thực hiện.

c) Để khuyến khích và tạo nguồn tàichính thuận lợi cho việc đẩy mạnh nghiên cứu triển khai và nhanh chóng mở rộngáp dụng các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật, nay quy định:

- Các cơ sở sản xuất - kinh doanhđược sử dụng quỹ phát triển sản xuất để dùng vào việc áp dụng thành tựu khoahọc và tiến bộ kỹ thuật. Bộ Tài chính và Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước hướngdẫn cụ thể việc sử dụng quỹ này để tăng thêm khả năng đầu tư cho việc áp dụngkỹ thuật mới tại các cơ sở.

- Các cơ quannghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật thực hiện chế độ hạch toán kinh tếvà thực hiện các hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu - triển khai được thành lậpcác quỹ phát triển khoa học - kỹ thuật, quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng. Nguồntrích lập các quỹ này lấy từ thu nhập do ký hợp đồng kinh tế với các cơ sở sảnxuất - kinh doanh trong việc nghiên cứu ứng dụng, triển khai và áp dụng kỹthuật mới; một phần giá trị của các sản phẩm sản xuất thử, phế liệu, phế phẩmthu hồi. Bộ Tài chính cùng với Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước hướng dẫncụ thể việc thành lập và sử dụng các quỹ nói trên.

- Ngoài phần kinhphí nghiên cứu khoa học do ngân sách Nhà nước cấp, các Bộ, Tổng cục được thànhlập quỹ phát triển khoa học - kỹ thuật tập trung. Quỹ này được thành lập từ mộtphần quỹ phát triển sản xuất của các xí nghiệp trực thuộc. Mức trích nộp cụ thểđối với từng ngành trong từng kỳ kế hoạch do Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước và Bộ Tài chính, sau khi thoả thuận với các ngành, trình Hội đồng bộ trưởngquyết định. Quỹ này dùng để hỗ trợ cho những cơ sở trực thuộc áp dụng kỹ thuậtmới và đầu tư thêm cho những nhiệm vụ nghiên cứu - triển khai quan trọng củangành.

Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nướcphối hợp với Bộ Tài chính trong quý III năm 1983 có thông tư hướng dẫn thi hànhcác quy đinh nói trên.

d) Thành lập thí điểm một số trungtâm ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật hoạt động theo nguyên tắc hạch toánkinh tế. Các trung tâm này có nhiệm vụ giúp đỡ các địa phương, cơ sở sản xuất,xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

2. Đẩy mạnh việc thực hiện các chươngtrình tiến bộ khoa học - kỹ thuật trọng điểm:

a) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước cần cùng với Viện khoa học Việt Nam, Uỷ ban Khoa học xã hội, Bộ Đại học vàtrung học chuyên nghiệp và các ngành có liên quan, bắt đầu từ quý II năm 1983,trên cơ sở tổng kết hoạt động của các chương trình và xuất phát từ các mục tiêukinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V và hội nghị trung ương lầnthứ 3 đề ra mà xem xét lại hệ thống các chương trình, xác định thêm một bướccác trọng tâm, trọng điểm của từng chương trình, đề tài, tập trung hơn nữa vàocác hướng trọng điểm, các nhiệm vụ cấp bách của nền kinh tế quốc dân, để sớm cókết luận về những tiến bộ khoa học và kỹ thuật kiến nghị đưa vào kế hoạch năm1984 - 1985 và phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5năm 1986 - 1990 và những kế hoạch tiếp theo. Đặc biệt chú trọng đến việc thựchiện các nhiệm vụ sản xuất thử. Nếu cần thiết có thể thêm hoặc bớt một sốchương trình nhằm tập trung lực lượng khoa học và kỹ thuật phục vụ thiết thựccho các mục tiêu kinh tế - xã hội.

b) Để giải quyết tốt mối quan hệphối hợp giữa các chương trình cùng nhằm phục vụ cho một mục tiêu kinh tế - xã hộinhất định và để tăng thêm hiệu quả hoạt động của các chương trình, cần tập hợpcác chương trình đó lại thành những nhóm lớn, có sinh hoạt thường kỳ để thựchiện việc điều hoà phối hợp.

c) Các chương trình tiến bộ khoahọc - kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước cần kết hợp chặt với các chương trình củađịa phương nhằm thúc đẩy quá trình áp dụng nhanh chóng và rộng rãi các thànhtựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống trên từng vùng, tiểuvùng, nhất là trên địa bàn huyện.

d) Hội đồng bộ trưởng đã ban hànhnghị định số 122-HĐBT ngày 20-7-1982 về quy chế quản lý các chương trình tiếnbộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước. Bộ trưởng các Bộ, thủ trưởng cácngành, chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố cần nghiêm chỉnh thực hiệnnghị định nêu trên.

Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước,Bộ Tài chính phối hợp ban hành ngay trong quý II năm 1983 thông tư hướng dẫn cụthể thực hiện nghị định này (kể cả chế độ cấp phát, chế độ phụ cấp trách nhiệm)đáp ứng các nhu cầu của việc quản lý và thực hiện các chương trình.

3. Tăng cường tổ chức và chỉ đạocông tác điều tra cơ bản.

a) Công tác điều tra cơ bản phảikết hợp chặt chẽ với công tác phân vùng quy hoạch nhằm bước đầu hình thành cơ cấukinh tế xã hội cho từng vùng sinh thái, từng vùng chuyên canh, từng tỉnh, từnghuyện, đề xuất được kiến nghị về bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên thiênnhiên, phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội cụ thể.

Cần huy động lực lượng của các việnnghiên cứu, các trường đại học, các trường trung học chuyên nghiệp, trường phổthông, các cơ quan nghiệp vụ của các ngành có liên quan, bao gồm cả cán bộ khoahọc tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội, tiếp tục tiến hành điều tracơ bản tổng hợp các vùng kinh tế trong nước một cách có trọng điểm, có địnhhướng để sớm có kết luận phục vụ cho những mục tiêu cụ thể đã định.

Trên các vùng lãnh thổ lớn, có thểlập ra những chương trình điều tra cơ bản tổng hợp có mục tiêu như đối với cáctỉnh Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long (giai đoạn 2) các vùng biển và thềmlục địa, thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, v.v...

b) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước cùng với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, kết hợp với các ngành có liên quan nghiêncứu đề ra các chế độ quản lý, sử dụng các tài liệu nhằm tổ chức khai thác tốtcác số liệu điều tra cơ bản đã tích luỹ. Các tài liệu điều tra được phải đượcquản lý thống nhất và cung cấp theo đúng chế độ cho các cơ quan cần thiết.

4. Tiếp tục triển khai công tác dựbáo và xây dựng chiến lược khoa học và kỹ thuật.

Để kịp thời phục vụ cho việc xâydựng chiến lược kinh tế - xã hội trong chặng đường đầu tiên của quá trình công nghiệphoá xã hội chủ nghĩa, cho việc xây dựng các chương trình và kế hoạch khoa họcvà kỹ thuật 5 năm 1986 - 1990 và cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 1986 - 1990, cần đẩy mạnh việc triển khai xây dựng dự báo vàchiến lược khoa học và kỹ thuật.

Dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bộ trưởng,Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có nhiệm vụ phối hợp với Viện Khoa họcViệt Nam, Uỷ ban Khoa học xã hội, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp và cácngành, và dựa vào các nhóm tổng hợp các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuậttrọng điểm cấp Nhà nước, đã điều chỉnh và bổ sung, tổ chức tập hợp lực lượngcán bộ khoa học kỹ thuật và kinh tế để triển khai công tác này khẩn trương hơn;chú trọng tiếp thu kinh nghiệm của Liên Xô và của các nước xã hội chủ nghĩa anhem trong Hội đồng Tương trợ kinh tế.

Trong khi tiến hành xây dựng dự báovà chiến lược khoa học và kỹ thuật, cần kết hợp chặt chẽ với việc nghiên cứuxây dựng chiến lược kinh tế và tổng sơ đồ phân bố và phát triển lực lượng sảnxuất ở nước ta cho tới năm 2000.

5. Tăng cường công tác tiêu chuẩnhoá, đo lường; kiểm tra chất lượng sản phẩm.

a) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước cùng các Bộ, các ngành và các địa phương cần có kế hoạch và biện pháp đẩymạnh công tác tiêu chuẩn hoá để bảo đảm đến năm 1985 những sản phẩm chủ yếu,trước hết là các sản phẩm xuất khẩu, các tư liệu sản xuất quan trọng, các mặthàng tiêu dùng thiết yếu, đều phải có tiêu chuẩn đồng bộ.

b) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cùng với Bộ Cơ khí và luyện kim và các ngành,các địa phương có liên quan xây dựng kế hoạch sản xuất (kể cả đầu tư) và từngbước trang bị đầy đủ các loại thiết bị và dụng cụ đo lường cho các cơ sở sảnxuất và dịch vụ, có biện pháp cụ thể tổ chức kiểm tra việc thực hiện. Thiết bịvà dụng cụ đo lường phải được định kỳ kiểm định để bảo đảm độ chính xác.

c) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước phải cùng các Bộ, các ngành, các địa phương đẩy mạnh việc kiểm tra chấtlượng sản phẩm, đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu, chú trọng ở cả ba khu vựckinh tế quốc doanh, tập thể và tư nhân; xử lý nghiêm khắc, kịp thời những trườnghợp sản xuất hàng giả, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế và cho ngườisử dụng.

d) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước cùng Uỷ ban Vật giá Nhà nước và các ngành có liên quan khác sớm xây dựngchính sách giá khuyến khích sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, các sảnphẩm được cấp dấu chứng nhận chất lượng, trình Hội đồng bộ trưởng ban hành.

e) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước cần chuẩn bị trình Thường vụ Hội đồng bộ trưởng đề án kiện toàn hệ thốngtổ chức các cơ quan tiêu chuẩn, đo lường, kiểm tra chất lượng từ trung ương đếntỉnh, thành phố, quận, huyện và cơ sở sản xuất.

6. Tăng cường quản lý và nâng caohiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật.

a) Cần hết sức coi trọng việc nângcao phẩm chất và trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật, làmcho anh chị em nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, trau dồi đạo đức cáchmạng và nâng cao tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa; Bộ trưởng các Bộ, thủ trưởngcác cơ quan, chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp cần có kế hoạch tổ chức bồi dưỡngvà sử dụng có hiệu quả lực lượng khoa học và kỹ thuật phục vụ các mục tiêu kinhtế - xã hội.

b) Hoàn thành trong năm nay côngtác điều tra lực lượng lao động kỹ thuật trên phạm vi cả nước và có kế hoạch địnhkỳ điều tra bổ sung. Trên cơ sở đó xây dựng và thực hiện đề án điều chỉnh, bồidưỡng, sử dụng hợp lý cán bộ khoa học và kỹ thuật, công nhân lành nghề.

Kiên quyết bố trí cán bộ đúng khảnăng và trình độ chuyên môn, tập trung cán bộ nghiên cứu khoa học giỏi vào cácviện nghiên cứu và các trường đại học; tăng cường mạnh mẽ cho các địa phương vàcơ sở (xí nghiệp, hợp tác xã), nhất là cấp huyện, những cán bộ khoa học và kỹthuật có năng lực thực hành, chú trọng cán bộ quê ở địa phương, cán bộ ngườidân tộc.

Đối với cán bộ khoa học và kỹ thuậtvà công nhân thuộc các ngành nghề quan trọng nhưng tạm thời chưa phát triển,hội đồng đào tạo và phân phối cán bộ khoa học và kỹ thuật phối hợp với Uỷ banKế hoạch Nhà nước, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, Bộ Đại học và trunghọc chuyên nghiệp, Ban Tổ chức của Chính phủ xác định một biên chế cần thiếtcho các cơ quan hữu quan (kể cả các bộ môn ở trường đại học) để các cơ quan nàycó thể duy trì và xây dựng đội ngũ cán bộ và công nhân nói trên phục vụ cho nhucầu phát triển sau này, không phân tán các cán bộ, công nhân này đi làm nhữngngành nghề khác.

c) Trên cơ sở hoàn thành vững chắcviệc công nhận chức vụ khoa học trong năm nay, Hội đồng xét duyệt trung ươngcần tổ chức rút kinh nghiệm để xây dựng quy chế công nhận chức vụ khoa học mộtcách liên tục và thường xuyên hàng năm.

Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nướccùng các Bộ hữu quan xây dựng chế độ chức vụ kỹ thuật trình Hội đồng bộ trưởngban hành trong 6 tháng cuối năm.

d) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Lao động và các cơ quan hữu quan trình Thườngvụ Hội đồng bộ trưởng ban hành các chế độ:

- Thưởng cho những tập thể và cánhân hoàn thành tốt kế hoạch nghiên cứu và triển khai.

- Thưởng cho những tập thể và cánhân có những công trình khoa học có giá trị.

- Thưởng cho những tập thể và cánhân tổ chức áp dụng và hỗ trợ áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và tiếnbộ kỹ thuật.

Xây dựng chính sách, chế độ khuyếnkhích cán bộ nói chung, cán bộ khoa học và kỹ thuật nói riêng về công tác tạicác địa phương (đặc biệt chú trọng cấp huyện và cơ sở), các vùng hiện còn ítcán bộ khoa học và kỹ thuật (như đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên), các vùngxa xôi (chú trọng các vùng dân tộc thiểu số, biên giới, ...) theo hướng rút ngắnthời gian xét nâng bậc lương, cho hưởng phụ cấp thâm niên, tạo điều kiện để ổnđịnh cán bộ về lâu dài (nhà ở, đất tăng gia, hợp lý hoá gia đình).

Xây dựng chính sách và chế độ cụthể nhằm giải quyết những yêu cầu cấp thiết về điều kiện làm việc và điều kiện sinhhoạt của cán bộ khoa học và kỹ thuật và công nhân lành nghề. Riêng đối với vấnđề nhà ở, hướng giải quyết là Nhà nước trích một khoản đầu tư về xây dựng cơbản, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cấn đối nguyên liệu, vật liệu, giao cho các cơ quancó nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật (Viện Khoa học Việt Nam, Uỷ ban Khoa học xãhội, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, các viện nghiên cứu, các viện thiết kế,các trường đại học, ...) để xây dựng nhà ở cho cán bộ khoa học và kỹ thuật củamình.

7. Kiện toàn hệ thống các cơ quannghiên cứu và triển khai.

a) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước phối hợp với Ban Tổ chức của Chính phủ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tàichính, Bộ Lao động, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, Viện Khoa học ViệtNam và Uỷ ban Khoa học xã hội sớm trình ra Hội đồng bộ trưởng phê duyệt quy chếvề tổ chức và hoạt động của các cơ quan nghiên cứu khoa học và triển khai kỹthuật.

b) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước phối hợp với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Viện Khoa học Việt Nam, Uỷ ban Khoahọc xã hội, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, các Bộ, các ngành và cáctỉnh, thành phố có liên quan xây dựng và trình Hội đồng bộ trưởng quy hoạch mạnglưới các cơ quan nghiên cứu và triển khai và có kế hoạch từng bước chấn chỉnhcác cơ quan ấy theo hướng:

- Kiện toàn các viện của Viện Khoahọc Việt Nam, Uỷ ban Khoa học xã hội, các viện trọng điểm của các Bộ về các mặttổ chức, cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật để đủ sức nghiên cứu giải quyếtnhững vấn đề khoa học kỹ thuật lớn;

- Đưa các đơn vị nghiên cứu chuyênđề, chuyên từng cây, từng con, từng ngành kỹ thuật hẹp trực thuộc các công ty,liên hiệp xí nghiệp hoặc xí nghiệp liên hợp tương ứng, nhằm gắn chặt nghiên cứuvới sản xuất;

- Hình thành các cơ quan khoa học- kỹ thuật có tính chất tổng hợp cho các vùng (liên kết với các trường đại họcvà chuyên nghiệp trong vùng) cũng như mạng lưới các trạm, trại, phòng thí nghiệmtỉnh, huyện về giống, bảo vệ thực vật và thú y...;

- Sớm thành lập thí điểm một số liênhợp khoa học - sản xuất, tổ hợp đào tạo - nghiên cứu - sản xuất để rút kinhnghiệm và xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động;

- Việc thành lập và giải thể cáccơ quan nghiên cứu và triển khai tại các Bộ, Tổng cục, địa phương đều phải có sựthoản thuận của Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.

c) Để mở rộng quyền chủ động củacác cơ quan nghiên cứu triển khai nhằm phát huy khả năng của đội ngũ cán bộ và cơsở vật chất kỹ thuật sẵn có, cho phép các cơ quan này ngoài nhiệm vụ chính làhoàn thành kế hoạch nghiên cứu triển khai được giao, được ký kết hợp đồng phụcvụ các nhu cầu khác về khoa học và kỹ thuật của sản xuất, bảo đảm các dịch vụkỹ thuật cần thiết (hướng dẫn sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị,phân tích thí nghiệm, thiết kế kỹ thuật, ...), tổ chức sản xuất các sản phẩm làkết quả nghiên cứu của mình, mà chưa có cơ sở sản xuất nào đảm nhiệm.

Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước,Trọng tài kinh tế Nhà nước và Bộ Tài chính trong quý II năm 1983 phải có vănbản hướng dẫn thực hiện quyết định số 175-CP ngày 29-4-1981 về chế độ ký kếthợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật.

d) Để tiến tới thành lập viện hànlâm khoa học một cách vững chắc và có tác dụng thiết thực, trong năm 1983 cầntiến hành hội nghị đại biểu các ngành khoa học nhằm hình thành tại Viện Khoahọc Việt Nam và Uỷ ban khoa học xã hội các ban khoa học của ngành (hay liênngành), thực hiện cho được yêu cầu tập hợp lực lượng tiêu biểu cho từng ngànhtrong cả nước.

Xây dựng quan hệ làm việc chặt chẽgiữa Viện Khoa học Việt Nam, Uỷ ban Khoa học xã hội và các cơ quan khoa học thuộclĩnh vực nông lâm, thuỷ sản, y học và dược học, giáo dục học; tạo điều kiệnthuận lợi cho việc thành lập Viện hàn lâm khoa học Việt Nam.

8. Kiện toàn hệ thống các cơ quanquản lý khoa học và kỹ thuật.

a) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước phải có kế hoạch toàn diện kiện toàn về cơ cấu tổ chức, cải tiến lề lốilàm việc, từng bước bổ sung thêm cán bộ có chất lượng để bảo đảm hoàn thành nhiệmvụ thống nhất quản lý Nhà nước về khoa học và kỹ thuật, thực hiện chính sáchphát triển khoa học và kỹ thuật của Đảng và Nhà nước, theo đúng tinh thần nghịđịnh số 192-CP ngày 13-10-1975 của Hội đồng Chính phủ.

b) Cần kiện toàn các cơ quan quảnlý khoa học và kỹ thuật từ Bộ, Tổng cục tới cơ sở nhằm quản lý tốt hoạt độngkhoa học và kỹ thuật trong các ngành.

c) Kiện toàn cơ quan quản lýkhoa học và kỹ thuật của các tỉnh và thành phố và thống nhất gọi là Uỷ ban khoahọc và kỹ thuật tỉnh hoặc thành phố. Xây dựng các tổ chức quản lý khoa học vàkỹ thuật tại các ngành của tỉnh, thành phố, các huyện và các cơ sở sản xuất,chú trọng cấp huyện.

9. Về đầu tư và bảo đảm vật tư thiếtbị cho công tác khoa học và kỹ thuật.

a) Để bảo đảm triển khai có kết quảcác chương trình khoa học kỹ thuật trọng điểm, cũng như để đẩy mạnh các hoạtđộng khoa học kỹ thuật khác, chuẩn bị tiền đề khoa học kỹ thuật cho các kế hoạch1984 - 1985, kế hoạch 5 năm 1986 - 1990, sẽ điều chỉnh tổng mức kinh phí trongngân sách dành cho khoa học và kỹ thuật trong dịp điều chỉnh ngân sách Nhà nướcnăm 1983.

b) Trong quý II năm 1983, Uỷ banKế hoạch Nhà nước cùng với Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước và Bộ Tài chínhnghiên cứu đề nghị mức đầu tư, kể cả định mức ngoại tệ, cho khoa học năm 1984, đểlàm cơ sở xây dựng kế hoạch khoa học - kỹ thuật năm 1984, và mức tăng đầu tư chonhững năm sau nhằm từng bước thực hiện tinh thần nghị quyết 37 của Bộ Chính trịvề vấn đề này.

c) Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cần cânđối đủ vật tư và vật liệu xây dựng để thực hiện vốn xây lắp dành cho công táckhoa học và kỹ thuật, chú trọng bảo đảm điều kiện nhà cửa cho việc tiếp nhậnviện trợ và lắp đặt thiết bị cũng như bảo quản các tư liệu khoa học quý (khosách Hán - Nôm, kho tư liệu sáng chế...) cho các cơ quan khoa học và kỹ thuật.

d) Để nâng cao hiệu quả sử dụng vậttư, thiết bị khoa học, phải tăng cường và mở rộng các hình thức sử dụng chung,tổ chức dịch vụ sửa chữa và cho thuê thiết bị, đẩy mạnh sản xuất trong nướcđồng thời cải tiến việc nhập khẩu và phân phối. Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước cũng với các ngành tổ chức việc định kỳ kiểm kê và đánh giá tình hình sửdụng, có biện pháp xử lý các trường hợp sử dụng không hợp lý; trong trường hợpcần thiết, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có quyền điều động thiết bịgiữa các cơ quan khoa học.

10. Nâng cao hiệu quả của công táchợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật.

Với quy mô ngày càng mở rộng,công tác hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật cần được quản lý thống nhất vàđược kế hoạch hoá, gắn chặt với hợp tác kinh tế và quán triệt đường lối đốingoại của Đảng và Nhà nước, ưu tiên tập trung vào phục vụ các chương trình tiếnbộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước. Tăng cường và tổ chức có hiệu quảcông tác hợp tác khoa học - kỹ thuật với Liên Xô và các nước trong Hội đồng Tươngtrợ kinh tế, phát triển hợp tác khoa học kỹ thuật với hai nước Lào và Cam-pu-chia.Tranh thủ sử dụng vốn viện trợ về khoa học và kỹ thuật để tăng thêm thiết bịcho các cơ quan nghiên cứu khoa học. Cần sử dụng một tỷ lệ thích đáng quỹ việntrợ của các tổ chức quốc tế vào việc hợp tác khoa học và kỹ thuật.

Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nướcphối hợp với Uỷ ban quan hệ kinh tế với nước ngoài, Viện khoa học Việt Nam, Uỷban Khoa học xã hội, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp và các Bộ có liênquan nghiên cứu và trình Thường vụ Hội đồng bộ trưởng vào quý II năm 1983 điềulệ về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật.

11. Đẩy mạnh hoạt động khoa học vàkỹ thuật ở các địa phương nhất là cấp huyện.

Công tác khoa học và kỹ thuật cóý nghĩa ngày càng to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp phải tăng cường hơn nữa việc chỉ đạo công tácnày.

a) Huy động lực lượng cán bộ khoahọc và kỹ thuật tham gia xây dựng khoa học và kỹ thuật phát triển kinh tế - xãhội của địa phương và nghiên cứu giải quyết các vấn đề khoa học và kỹ thuậtđược đặt ra.

b) Làm tốt công tác điều tra cơ bảnvề tài nguyên và điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội làm cơ sở cho việc xácđịnh cơ cấu kinh tế hợp lý của địa phương.

c) Xác định đúng và triển khai thựchiện tốt các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật của địa phương nhằm đưanhanh các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Cầnđặc biệt chú trọng các chương trình và đề tài thuộc các lĩnh vực nông nghiệp,lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến, thủ công nghiệp, tiểu côngnghiệp, các vùng trọng điểm thâm canh, cao sản, vùng chuyên canh và vùng đặcsản.

d) Trên cơ sở kết quả điều tra laođộng kỹ thuật, xây dựng quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học và kỹthuật, công nhân kỹ thuật của địa phương. Sử dụng tốt lực lượng giáo viên và họcsinh các trường phổ thông và chuyên nghiệp vào các hoạt động khoa học và kỹ thuật.Quan tâm tạo điều kiện làm việc và sinh hoạt cho cán bộ khoa học và kỹ thuật.Có biện pháp tăng cường cán bộ cho các huyện và cơ sở.

e) Xây dựng quan hệ chặt chẽ vớicác cơ quan khoa học và kỹ thuật của trung ương, trước hết là các cơ quan đóng tạiđịa phương.

g) Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước cần tăng cường chỉ đạo các uỷ ban khoa học và kỹ thuật tỉnh và thành phốvề mặt nghiệp vụ, hướng dẫn công tác khoa học kỹ thuật ở huyện, thường xuyênđôn đốc, kiểm tra, tổ chức trao đổi kinh nghiệm; tăng cường công tác thông tinkhoa học và kỹ thuật, nhằm làm cho công tác khoa học và kỹ thuật ở các địaphương được đẩy mạnh, sớm đi vào nền nếp và ngày càng có hiệu quả.

12. Đẩy mạnh phong trào quần chúnglàm chủ mặt trận khoa học và kỹ thuật, làm tốt việc tổng kết và mở rộng cácđiển hình tiên tiến.

Chính quyền và cơ quan quản lý khoahọc và kỹ thuật các cấp cần phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng (côngđoàn, đoàn thanh niên, hội liên hiệp phụ nữ) và các hội khoa học và kỹ thuậttrong việc phổ biến và tổ chức áp dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, tôntrọng và thực hiện nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn và định mức kinh tế - kỹ thuậttrong sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất,sáng chế phát minh...

Hết sức coi trọng kinh nghiệm sángtạo của nhân dân lao động, có kế hoạch chỉ đạo tốt việc sơ kết, tổng kết cácđiển hình, xây dựng các mô hình, nghiên cứu phương pháp mở rộng và có hình thứcđộng viên, khen thưởng thích đáng và kịp thời.

Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nướccần cùng các địa phương tổ chức các cuộc triễn lãm, xây dựng các cơ sở trìnhdiễn kỹ thuật mới để giới thiệu các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật đãđược kết luận và có thể áp dụng rộng rãi, giới thiệu các kinh nghiệm tiên tiếnvới đông đảo quần chúng lao động, lực lượng sáng tạo và trực tiếp áp dụng kỹthuật mới trong sản xuất và đời sống.

Tố Hữu

(Đã ký)