HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 55-CP

Hà Nội, ngày 03 tháng 03 năm 1978

NGHỊ QUYẾT

VỀCÔNG TÁC LƯƠNG THỰC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Lương thực là nhu cầu cơ bảnnhất của đời sống nhân dân và là vật tư chiến lược rất quan trọng của Nhà nướcta.

Ở miền Bắc, trong những năm cóchiến tranh, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách và biệnpháp tích cực giữ vững và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Các ngành và các cấpđã có những cố gắng lớn góp phần giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, vừabảo đảm chiến đấu thắng lợi, vừa bảo đảm đời sống nhân dân.

Từ sau khi được hoàn toàn giảiphóng, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của trung ương Đảng và Chính phủ, nông dânmiền Nam đã có những biến đổi quan trọng. Các ngành, các cấp đãvà đang khôi phục và phát triển nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh công tác huyđộng lương thực. Nhờ đó, Nhà nước đã nắm được một phần quan trọng lương thựchàng hóa, đáp ứng được nhu cầu cấp bách về đời sống của bộ đội, cán bộ, côngnhân viên Nhà nước, nhân dân phi nông nghiệp các thành phố, thị xã lớn, khucông nghiệp, vùng cá, muối và cây công nghiệp tập trung và phần lớn các nhu cầucủa nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, nhìn chung nền nôngnghiệp nước ta chưa đảm bảo được nhu cầu về lương thực, thực phẩm của nhândân, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu. Công tác lương thực củachúng ta còn nhiều khó khăn, nhược điểm và thiếu sót. Khuyết điểm lớn nhất, nhưnghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ, làchúng ta còn xem nhẹ việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ các loại hoa màu trongcơ cấu lương thực chung của xã hội.

Để giải quyết vấn đề lương thựctrong tình hình mới, nghị quyết Đại quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, các nghịquyết lần thứ hai và lần thứ ba của Ban chấp hành trung ương Đảng đã khẳng địnhlà phải tập trung cao độ lực lượng của cả nuớc, của các ngành, các cấp, tạo ramột bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, giải quyết cho được vấn đề lươngthực, thực phẩm đến năm 1980, phải đạt và vược chỉ tiêu 21 triệu tấn lươngthực. Phấn đấu một lao động làm từ 1 đến 2 hecta gieo trồng; Tiến tới đạt bìnhquân 3 tấn thóc và từ 3 đến 4 con lợn/hecta gieo trồng. Phải tăng nhanh điệntích, năng suất và sản lượng màu ở tất cả các vùng, tổ chức tốt việc chế biếnmàu, đưa màu vào cơ cấu lương thực chính của người, tăng nguồn thức ăn cho chănnuôi.

Dưới sự lãnh đạo tập trung thốngnhất của Trung ương Đảng, sự chỉ đạo của Chính phủ, của các ngành ở Trung ươngvà dưới sự điều hòa, phối hợp, chỉ đạo trực tiếp của cấp tỉnh, thành, cấp huyệnphải là địa bàn cân đối đất đai và lao động, giải quyết vấn đề lương thực trêncơ sở cân đối các mặt sản xuất, huy động, phân phối và tiêu dùng. Ngoài nhiệmvụ bảo đảm lương thực, thực phẩm cho đời sống nhân dân trong huyện, huyện phảiđóng góp ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm cho Trung ương, theo chỉ tiêu kếhoạch Nhà nước hàng năm.

PHƯƠNG HƯỚNG NHIÊM VỤ CÔNG TÁCLƯƠNG THỰC TRONG TÌNH HÌNH MỚI LÀ:

Trên cơ sở phấn đấu đạt và vượtchỉ tiêu kế hoạch Nhà nước về sản xuất lương thực, tổ chức tốt việc huy độngtuyệt đại bộ phận lương thực hàng hóa vào tay Nhà nước theo chỉ tiêu kế hoạchNhà nước, theo đúng chính sách; phân phối hợp lý và tiết kiệm cho các đối tượngthuộc diện được Nhà nước cung cấp lương thực và cho các nhu cầu khác của nềnkinh tế quốc dân theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, đúng chính sách, chế độ, thựchiện triệt để tiết kiệm, chống lãng phí tham ô trên tất cả các khâu (sản xuất, thuhoạch, vận chuyển, nhập kho, phân phối và tiêu dùng…); kiên quyết chống đầu cơbuôn lậu lương thực; thực hiện từng bước xóa bỏ thị trường không có tổ chức vềlương thực, Nhà nước thống nhất quản lý lương thực trong phạm vi cả nước.

Dưới đây là những nhiệm vụ,chính sách và biện pháp cụ thể về công tác lương thực.

I. PHẢI NẮM BẰNG ĐƯỢC TUYỆTĐẠI BỘ PHẬN LƯƠNG THỰC HÀNG HÓA VÀO TAY NHÀNƯỚC

Đây là nhiệm vụ quan trọng hàngđầu của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa để đảm bảo đưa việc lưu thông phân phối lươngthực vào kế hoạch và tổ chức, phục vụ tốt cho sản xuất và ổn định đời sống củanhân dân, tạo điều kiện xoá bỏ thị trường không có tổ chức, xây dựng và quản lýtốt thị trường xã hội chủ nghĩa về lương thực.

Nhà nước nắm lương thực hàng hóabằng hai hình thức giao nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp, và mua lương thực theokế hoạch hàng năm, thông qua việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế haichiều giữa Nhà nước với các hợp tác xã nông nghiệp và nông dân.

a) Nghĩa vụ nộp thuế nôngnghiệp bằng hiện vật.

Hợp tác xã nông nghiệp và nôngdân có nghĩa vụ nộp đầy đủ thuế nông nghiệp bằng hiện vật theo chính sách thuếnông nghiệp hiện hành ở cả hai miền.

Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dâncác cấp cần hết sức coi trọng việc thu thuế nông nghiệp bằng lương thực, đúngchính sách.

b) Mua lương thực theo kếhoạch hàng năm.

Nhà nước giao kế hoạch mua hàngnăm cho các hợp tác xã nông nghiệp và hộ nông dân.

Ở các tình miền Bắc:

 Mức kế hoạch thu mua nhà nướcgiao là 90% số lương thực hàng hóa của hợp tác xã và nông dân.

Căn cứ vào kế hoạch sản lượngtrên diện tích sản xuất lương thực hàng năm (Không tính phần diện tích dành chohợp tác xã để phát triển chăn nuôi và diện tích dành cho kinh tế phụ gia đìnhxã viên), sau khi trừ phần hao hụt (tỷ lệ hao hụt từ 5% đến 7% sản lượng), phầnlương thực để lại cho hợp tác xã làm giống, để ăn, để quỹ xã hội của hợp tácxã, phần nộp thuế nông nghiệp và trả nợ (nếu có) cho Nhà nước, số lương thựccòn lại là lương thực hàng hóa.

Các khoản lương thực để lại chohợp tác xã được quy định như sau:

Thóc giống: 100kilôgam/hécta cho vụ chiêm xuân; 80 kilôgam/hecta cho vụ mùa và 20kilôgam/hécta dự phòng cho mỗi vụ do huyện quản lý; sau mỗi vụ không dùng hết,sẽ bán cho Nhà nước theo giá thưởng vượt kế hoạch.

Quỹ xã hội: Tính 1% trongtổng sản lượng lương thực của hợp tác xã nông nghiệp như hiện nay.

Mức ăn bình quân người/tháng:

Mức ăn của các xã viên hợp tácxã nông nghiệp cao hay thấp phải căn cứ vào khả năng và kế hoạch sản xuất lươngthực cả năm và từng vụ của các hợp tác xã ở từng vùng mà định cho sát. Tìnhthần chung là phải tính toán làm sao vừa bảo đảm hợp tác xã nộp đủ thuế nôngnghiệp theo chính sách và bán lương thực cho Nhà nước theo kế hoạch, vừa đảmbảo nông dân xã viên có mức ăn hợp lý. Trong tình hình lương thực cả nước hiệnnay đang có khó khăn, ở những nơi sản xuất khá, được mùa cũng không nên để mứcăn cao quá,còn những nơi khác, sản xuất kém hơn hoặc sản xuất bị thất bát, thunhập bình quân đầu người về lương thực thấp, thì mức ăn phải để thấp hơn. Theohướng đó, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cần bàn với các huyện căn cứ vào điềukiện sản xuất và nhu cầu ở từng vùng để hướng dẫn mức ăn của nông dân xã viêncho sát.

Ở các tỉnh miền Nam:

Trong tình hình sản xuất cá thểtrong nông nghiệp còn là phổ biến, Nhà nước chưa bảo đảm được hết các nhu cầutiêu dùng lương thực của xã hội, ngoài phần nông dân tự giải quyết và tự điềuhòa ở nông thôn, cần đi sát sản xuất, giáo dục động viên nông dân nộp đầy đủthuế nông nghiệp và trước mắt bán cho Nhà nước khoảng từ 70% đến 80% số lương thựcdư. Từ nay đến năm 1980 hướng phấn đấu là, đi đôi với việc tổ chức nông dânlại, giúp đỡ nông dân thực hiện thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất, tăng sảnlượng lúa và hoa màu, cần giáo dục nông dân có ý thức tiêu dùng lương thực hợplý, tiết kiệm, hăng hái nộp thuế nông nghiệp đúng chính sách và thực hiện tốthợp đồng hai chiều bán sản phẩm cho Nhà nước theo kế hoạch hàng năm bằng khoản90% lương thực hàng hóa. Để tính ra số lương thực dư của nông dân, trong khichưa tổ chức hợp tác xã nông nghiệp, số lương thực để lại cho nông dân làmgiống, để ăn và chăn nuôi, tạm thời vẫn tính gộp theo mức để lại bình quân đầungười/năm từ 250 kilôgam đến 350 kilôgam lương thực quy lúa, tùy theo điều kiệnsản xuất và thu hoạch của từng vùng như hiện nay.

Sau khi Nhà nước đã giao kếhoạch huy động, nếu đơn vị hợp tác xã và hộ nông dân nào sản xuất và thu hoạchkhông đạt kế hoạch, nói chung phải có biện pháp tích cực đẩy mạnh sản xuất thêmrau màu và thâm canh tăng năng suất lúa sản xuất các vụ sau để đủ chi dùng tiếtkiệm, đồng thời vẫn bảo đảm nộp thuế theo đúng chính sách và bán lương thựctheo kế hoạch cả năm đã ký hợp đồng với Nhà nước. Đối với những nơi thật sự bịmất mùa nặng, Ủy ban nhân dân huyện phải xem xét chặt chẽ và đề nghị Ủy bannhân dân tỉnh, thành phố quyết định cho miễn, giảm thuế theo chính sách hoặcđiều chỉnh một phần mức kết hoạch mua của Nhà nước.

Sau khi hợp tác xã và nông dânđã nộp đủ thuế nông nghiệp và thực hiện và thực hiện đầy đủ hợp đồng bán lươngthực theo kế hoạch đã ký với Nhà nước, nếu bán thêm vược kế hoạch thì nhà nướcsẽ mua với giá thưởng vượt kế hoạch với tỷ lệ lũy tiến như đã nêu trong nghịđịnh số 10-CP ngày 08 -01-1978 của Hội đồng Chính phủ. Nơi nào chưa giao đượckế hoạch sản xuất và huy động cho các hộ nông dân thì chưa vận dụng giá thưởngvượt kế hoạch. Nhà nước sẽ nghiên cứu hình thức khen thưởng về tinh thần và vậtchất, cho những đơn vị, cá nhân đã có thành tích rõ rệt trong việc nộp thuếnông nghiệp và bán nhiều lương thực cho Nhà nước.

II. CHẤN CHỈNH VIỆC PHẤN PHỐILƯƠNG THỰC TRONG NỘI BỘ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP.

Đi đôi với việc chỉ đạo các hợptác xã nông nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ nộp thuế nông nghiệp và bán lươngthực cho Nhà nước, các cấp lãnh đạo ở địa phương, nhất là huyện và xã cần đisát, hướng dẫn các hợp tác xã làm tốt việc phân phối lương thực trong nội bộhợp tác xã. Việc này vẫn tiến hành dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động,đồng thời phải quan tâm điều hòa lương thực cho người thật sự không có hoặcthiếu sức lao động.

Hợp tác xã phải quản lý chặt chẽvà sắp xếp để mọi người có sức lao động trong hợp tác xã đều có công việc làmtheo các ngành, nghề thích hợp và phân phối lương thực cho họ, tránh khuynhhướng tách số người làm nghề thủ công trong hợp tác xã ra để yêu cầu Nhà nướccung cấp lương thực, hoặc để cho người có sức lao động đi làm tự do, đi buôn,không quản lý được lao động của họ.

Hợp tác xã nông nghiệp điều hòalương thực cho các xã viên thiếu lương thực là thương binh, gia đình liệt sĩ,gia đình có công với cách mạng; phải đảm bảo làm đúng chính sách hiện hành.

Đối với những người già yếu, tàntật, ốm đau không có hoặc không có đủ sức lao động và không nơi nương tựa,những gia đình bộ đội và gia đình neo đơn thiếu lương thực, hợp tác xã điều hòalương thực cho họ, hoặc trích quỹ xã hội để giúp đỡ.

Ban quản trị hợp tác xã nôngnghiệp chịu trách nhiệm quản lý phân phối lương thực trong nội bộ hợp tác xãtheo đúng chính sách của Nhà nước, không được dùng lương thực lãng phí vàonhững việc như liên hoan, hội họp, chiêu đãi…Không được bớt xén lương thực củangười được cấp, không để lọt lương thực ra thị trường không có tổ chức. Ngoàinhững khoản lương thực Nhà nước quy định để lại cho hợp tác xã, hợp tác xãkhông được để lại bất cứ quỹ lương thực nào khác.

III. TĂNG CƯỜNG VÀ CẢI TIẾNQUẢN LÝ VIỆC PHÂN PHỐI LƯƠNG THỰC CỦA NHÀ NƯỚC

Trên cơ sở lực lượng lương thựcNhà nước đã nắm được, tăng cường và cải tiến quản lý việc phân phối lương thựccho nhu cầu của các ngành và của nhân dân phi nông nghiệp phù hợp với khả năngthực tế về sản xuất lương thực của ta, với yêu cầu bảo đảm lương thực cho côngnghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, phân bổ lại lao động xã hội, và chủ trương Nhànước thống nhất quản lý lương thực.

Về chính sách phân phối lươngthực, cần quán triệt hơn nữa nguyên tắc phân phối theo lao động, đồng thời quantâm giải quyết nhu cầu lương thực của người không có sức lao động, kết hợp phânphối lương thực với quản lý lao động, quản lý hộ khẩu, quản lý sản phẩm, quảnlý thị trường, bảo đảm tiêu dùng hợp lý và tiết kiệm lương thực; từng bướcthống nhất và hoàn thiện chế độ, tiêu chuẩn cung cấp trong phạm vi cả nước.

A. CHÍNH SÁCH CUNG CẤP LƯƠNGTHỰC CỤ THỂ ĐỐI VỚI CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN.

1. Đối với lực lượng vũtrang, công nhân, viên chức Nhà nước và công tư hợp doanh, cán bộ, nhân viêntrong biên chế, các đoàn thể từ cấp huyện trở lên, học sinh các trường đại họcvà trung học chuyên nghiệp, các trường dạy nghể của cả Nhà nước:

Nhà nước bảo đảm phân phối lươngthực cần thiết để lao động, sản xuất, công tác và học tập, theo tiêu chuẩnthống nhất trong cả nước.

Tiêu chuẩn cung cấpVẫngiữ như hiện nay. Việc tăng hoặc giảm tiêu chuẩn cung cấp do Chính phủ xem xétvà quyết định.

Công nhân, viên chức làm cabaVẫn bồi dưỡng như chế độ hiện hành.

Tiêu chuẩn bồi dưỡng lương thựccho lao động ở môi trường độc hại, nay thay thế bằng đường sữa hoặc thực phẩmkhác.

Ngành nội thương cố gắng cungcấp thêm các loại thực phẩm khác để bổ sung cho phần lương thực, nhất là rau,đậu, nước chấm, cá, để đảm bảo tiền lương thực tế và sức khỏe của người laođộng.

Công nhân, viên chức Nhà nướcđã về hưu, hoặc mất sức lao động ở cả thành thị và nông thôn, trong cả nước,được cung cấp lương thực theo tiêu chuẩn thống nhất là 13 kilôgam/tháng.

Đối với những người trong giađình công nhân, viên chức vốn ở khu vực phi nông nghiệp:

Ở các tỉnh và thành phố miềmBắc, Nhà nước vẫn cung cấp lương thực theo chính sách hiện nay.

Ở các tỉnh và thành phố miềnNam, đối với những người trong gia đình cùng ở với người công nhân, viên chứccó trách nhiệm nuôi dưỡng, có hộ khẩu ở các thành phố, thị xã, trước mắt, đượcNhà nước cung cấp lương thực theo tiêu chuẩn bình quân đầu người không quákhoảng 7 đến 9 kilôgam/tháng theo tình hình thực tế của từng nơi.

2. Đối với những người làmnghề tiểu, thủ công nghiệp ở thành thị có bán toàn bộ sản phẩm cho Nhà nước,làm nghề vận tải hàng hóa, làm nghề xây dựng cho Nhà nước…,

Trong thời gian họ thực sự làmviệc cho Nhà nước thì được Nhà nước cung cấp lương thực cho bản thân họ vànhững người trong gia đình họ vốn ở khu vực phi nông nghiệp mà họ có tráchnhiệm trực tiếp phải nuôi dưỡng theo tiêu chuẩn như đối với từng loại côngnhân, viên chức Nhà nước và gia đình họ.

3. Đối với nhân dân phi nôngnghiệp khác ở các thành phố, thị xã:

a) Ở các thành phố, thị xãthuộc các tỉnh miền Bắc:

Nhà nước vẫn cung cấp lương thựcnhư hiện nay:

Chính quyền địa phương cần kếthợp việc cung cấp lương thực với việc phân bổ và quản lý lao động, quản lý hộkhẩu, quản lý thị trường, đưa người đến tuổi lao động vào sản xuất, xây dựng,vận tải, đi sản xuất vùng kinh tế mới. Đối với những người làm nghề phục vụ,cần tổ chức họ lại đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước về kinh doanh vàgiá cả. Đối với những người buôn bán, cần chuyền phần lớn sang sản xuất.

b) Ở các thành phố, thị xãmiền Nam:

Tùy theo khả năng lương thựcNhà nước nắm được và yêu cầu phân bổ lao động và quản lý thị trường ở từng khuvực, Nhà nước mở dần diện cung cấp từ các thành phố và khu công nghiệp lớn, rồiđến các thị xã, thị trấn.

Trước mắt, tập trung sức bảođảm nhu cầu của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và khu công nghiệp Biên Hòa,theo mức cung cấp hàng tháng 9 kilôgam bình quân đầu người (cả người lớn và trẻem).

Ở các thành phố và thị xã, thịtrấn khác, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tuỳ theo tình hình sản xuất và khảnăng huy động lương thực của địa phương mà chỉ đạo mở thêm cơ sở sản xuất, thuhút, sắp xếp, sử dụng số lao động thành thị chưa có việc làm chính đáng vào cácngành nghề cần thiết trên cơ sở đó cung cấp lương thực cho người lao động theongành, nghề; còn những người ăn theo gia đình họ có hộ khẩu được cung cấp theotiêu chuẩn như nhân dân phi nông nghiệp khác ở địa phương.

4. Đối với người chuyên làmnghề cá, nghề muối, nghề rừng và các nghề thủ công khác, chuyên chăn nuôi,trồng rau, trồng cây công nghiệp tập trung không có lương thực hoặc thiếu lươngthực.

Đối với những người này, nếu sảnxuất theo quy hoạch và kế hoạch, Nhà nước, ký hợp đồng bán sản phẩm cho Nhànước, Nhà nước cung cấp lương thực cho họ theo định mức thông qua việc thựchiện hợp đồng kinh tế hai chiều. Ngành lương thực bàn bạc với các ngành có liênquan và các Ủy ban nhân dân địa phương (chủ yếu là tỉnh và huyện), để xác địnhmức cung cấp lương thực cho từng loại lao động nói trên phù hợp với điều kiệnsản xuất của từng ngành nghề ở từng vùng. Bảo đảm cho những người thực hiệnđúng kế hoạch sản xuất và kế hoạch bán sản phẩm cho Nhà nước, nếu là lao độngnghề cá, nghề muối, nghề rừng và thủ công nghiệp khác thì được cung cấp lươngthực như những lao động cùng ngành nghề hoặc tương đương trong bộ máy Nhà nước;nếu là nông dân thì được cung cấp tương đương với mức ăn bình quân của nông dânsản xuất lương thực trong vùng. Còn đối với những người không thực hiện đúng kếhoạch sản xuất và bán sản phẩm cho Nhà nước, Ủy ban nhân dân huyện phải xét kỹnguyên nhân vì sao không thực hiện được hợp đồng để quy định mức cung cấp lươngthực hợp lý cho họ. Đối với gia đình họ, Nhà nước cung cấp lương thực theochính sách chung đối với nhân dân phi nông nghiệp ở địa phương.

5. Đối với những người đi xâydựng vùng kinh tế mới.

Những người đi xây dựng vùngkinh tế mới được Nhà nước cung cấp lương thực theo tiêu chuẩn hiện nay thốngnhất trong phạm vi cả nước.

Người đi xây dựng nông trườngquốc doanh thì được Nhà nước cung cấp lương thực như đối với công nhân, viênchức Nhà nước,

Những người khác đi xây dựngvùng kinh tế mới được Nhà nước cung cấp lương thực trong thời gian một năm,bình quân đầu người 13 kilogam lương thực một tháng. Sau thời gian một năm, nếulàm nghề rừng, hoặc chuyên chăn nuôi, chuyên trồng rau hay cây công nghiệp tậptrung và thiếu lương thực, thì Nhà nước cung cấp lương thực theo chế độ quyđịnh ở điểm 4 trên đây.

Nếu sản xuất lương thực mà cònthiếu lương thực thì trường hợp thật khó khăn Nhà nước mới xét cấp để hỗ trợthêm một phần.

6.Thương binh gia đình liệtsĩ, gia đình có công với cách mạng ở vùng không sản xuất hoặc thiếu lương thực.

 Vẫn được Nhà nước cung cấplương thực như hiện nay.

7. Đối với các nhu cầu kháccủa nhân dân.

Muốn quản lý tốt thị trườnglương thực, ngoài việc bảo đảm phân phối hợp lý cho các đối tượng theo tiêuchuẩn định lượng, Nhà nước dành một số lương thực cần thiết để giải quyết mộtphần nhu cầu về ăn uống của người qua lại các thành phố, khu công nghiệp, trêncác đường giao thông.

Trong tình hình lương thực còncó khó khăn, ngoài số lương thực được Nhà nước cấp cho nhu cầu ăn uống côngcộng theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, ngành thương nghiệp phải tổ chức mạnglưới chế biến bún, bánh đổi cho nhân dân bằng cách thu tem lương thực, hoặc đổibún, bánh, mì sợi cho nhân dân lấy gạo, bột mì, vừa đáp ứng được nhu cầu của nhândân, vừa tiết kiệm được lương thực và quản lý được thị trường.

B. TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VÀ CẢITIẾN KHÂU CUNG CẤP LƯƠNG THỰC CỦA NHÀ NƯỚC.

Ngành lương thực phải bảo đảmcung cấp lương thực cho các nhu cầu thuộc diện Nhà nước quản lý đúng đối tượng,đúng chính sách, đúng tiêu chuẩn, đúng số lượng và đúng phẩm chất; phải quản lýchặt chẽ lương thực trong tất cả các khâu: Kho tàng vận tải, cửa hàng, và cùngcác ngành hữu quan thường xuyên kiểm tra việc sử dụng lương thực ở các cửa hàngăn uống công cộng, các nhà ăn tập thể của các cơ quan, xí nghiệp, v.v…, triệtđể chống lấy cắp, lợi dụng buôn bán lương thực dưới mọi hình thức, hoặc khaiman số người, khai tăng tiêu chuẩn để lấy thừa lương thực của Nhà nước.

Các cơ quan, xí nghiệp, đơn vịbộ đội, truờng học, v.v… được Nhà nước cung cấp lương thực theo kế hoạch phảilập dự trù xin cấp phát, phải thanh toán, quyết toán minh bạch, kịp thời với cơquan lương thực về số lương thực đã được cấp. Nếu dự trù không sát, dùng khônghết, phải trả lại cho Nhà nước, không được đem dùng vào việc khác. Ủy ban nhândân tỉnh và huyện phải thường xuyên kiểm tra việc tiêu dùng lương thực ở cácđơn vị từ cơ sở đến cơ quan Trung ương.

Các nhà ăn của các xí nghiệp, cơquan, đơn vị bộ đội, trường học, của hàng ăn uống công cộng phải có biện pháptích cực chống tệ lấy cắp, bớt xén lương thực, bảo đảm cho mọi người ăn đủ tiêuchuẩn; phải cùng với công đoàn cơ sở tổ chức thực hiện đều đặn chế độ thanhtoán công khai giữa nhà ăn với người ăn; động viên mọi người cùng kiểm tra,giám sát, ngăn chặn kịp thời việc ăn cắp, bớt xén lương thực.

Thủ trưởng các ngành, các cấp,các cơ sở, các đơn vị vũ trang phải chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ, không đểxảy ra tham ô, lạm dụng lương thực trong các đơn vị thuộc phạm vi mình phụtrách.

Ngành lương thực phải cố gắngkhắc phục mọi khó khăn, kết hợp chặt chẽ với ngành giao thông vận tải điều độngkịp thời lực lượng đến những nơi tiêu thụ tập trung, nhất là thành phố Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, các khu công nghiệp lớn. Cần có lực lượng tồn kho cầnthiết ở các nơi đó, bảo đảm cung cấp lương thực với số lượng và cơ cấu hợp lýgiữa gạo, mì và hoa màu.

Việc mở diện cung cấp lương thựcở các thị trấn, thị tứ thuộc các tỉnh, thành miền Namphải được tính toán, xem xét chặt chẽ và thực hiện dần từng bước theo khả nănglương thực thực tế có thể huy động được ở từng địa phương. Việc tăng tiêu chuẩncung cấp lương thực cho từng đối tượng cụ thể phải được trình Chính phủ xem xétvà quyết định.

Công nhân, viên chức Nhà nước ởnơi có điều kiện sản xuất và có thu hoạch thực sự, thì trừ phần để lại cảithiện bữa ăn hàng ngày, nếu bán phần còn lại cho cơ quan lương thực thì đượctrả theo giá Nhà nước mua thưởng vượt kết hoạch. Đối với những lực lượng vũtrang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế theo kế hoạch Nhà nước, được Nhà nước đầutư vốn, máy móc, vật tư kỹ thuật, phân bón, giống… thì phải thực hiện đầy đủ kếhoạch giao nộp sản phẩm cho Nhà nước. Đối với các đơn vị lực lượng vụ trangkhác, thì kế hoạch sản xuất và giao nộp sản phẩm do Bộ Quốc phòng quyết địnhcăn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao cho quân đội hàng năm.

IV. TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THỊTRƯỜNG, KIÊN QUYẾT CHỐNG ĐẦU CƠ BUÔN LẬU LƯƠNG THỰC, TỪNG BƯỚC XOÁ BỎ THỊTRƯỜNG KHÔNG CÓ TỔ CHỨC VỀ LƯƠNG THỰC TRONG CẢ NƯỚC.

Đây là những việc nhất thiếtphải làm để đưa VIỆC sản xuất và lưu thông phân phối lương thực vào kế hoạch vàtổ chức chặt chẽ, thực hiện Nhà nước hoàn toàn thống nhất quản lý lương thực.

Ở miền Bắc: Dựa trên cơsở lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh, quan hệ sảnxuất xã hội chủ nghĩa không ngừng được củng cố và hoàn thiện, Nhà nước nắmtuyệt đại bộ phận lương thực hàng hóa, bảo đảm các nhu cầu của sản xuất và đờisống, ngoài phần các hợp tác xã nông nghiệp phụ trách, cần xoá bỏ thị trườngkhông có tổ chức về lương thực trong năm 1978.

Ngành lương thực cần phốihợp chặc chẽ với các ngành có liên quan cùng các cấp chính quyền địa phương vàcác đoàn thể (công đoàn, thanh niên, phụ nữ) cố gắng vươn lên làm tốt các mặthuy động, bảo quản, chế biến, lưu thông, phân phối lương thực, đáp ứng kịp cácmặt nhu cầu về lương thực của xã hội.

Ngành nội thương phảitích cực tổ chức mạng lưới ăn uống quốc doanh để giải quyết nhu cầu ăn uống củanhân dân các đô thị, trước hết là các thành phố, tỉnh lỵ và huyện lỵ lớn, vànhững người qua lại; ở những nơi mạng lưới quốc doanh chưa phát triển kịp, phảitổ chức những người kinh doanh ăn uống lại, dưới sự quản lý và kiểm soát trựctiếp của quốc doanh về kinh doanh và giá cả.

Các hợp tác xã nông nghiệp phảigắn chặt việc phân phối lương thực trong nội bộ hợp với việc quản lý lao động,góp phần quản lý thị trường lương thực tận gốc ở xã, ấp, không để thương nhânđầu cơ len lỏi về địa phương hoạt động phá rối thị trường và chính sách kiểm soátlương thực của Nhà nước.

Cấm tư nhân buôn bán thóc, gạo,bột mì, mì sợi, bánh mì, cao lương, ngô, khoai khô, sắn khô, bột sắn và cácloại tem, phiếu, sổ lương thực. Nghiệm trị những bọn in và lưu hành tem, phiếulương thực giả, bọn ăn cắp lương thực (kể cả tem phiếu) của Nhà nước.

Cơ quan xí nghiệp Nhà nướcvà các đơn vị bộ đội vận chuyển lương thực phải có giấy phép và chứng từhợp lệ.

Ở các tỉnh miền Nam, phảicó biện pháp tích cực và kế hoạch cụ thể hạn chế từng 6 tháng từng năm để tiếntới xoá bỏ hẳn thị trường không có tổ chức về lương thực vào năm 1980.

Muốn thế, phải trên cơ sở ra sứcđẩy mạnh sản xuất lương thực, tăng cường công tác huy động, bảo đảm Nhà nướcnắm tuyệt đại bộ phận lương thực hàng hóa, quản lý chặt chẽ lao động, quản lýchặt chẽ hộ khẩu ở các thành thị, sắp xếp tổ chức lại các ngành nghề, tiến hảnhcung cấp lương thực theo tiêu chuẩn, chế độ quy định cho các nhu cầu của sảnxuất và đời sống của những người không sản xuất lương thực, trong diện Nhà nướcphụ trách, tăng cường quản lý thị trường, kết hợp với đẩy mạnh công cuộc cảitạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp và công thương nghiệp tư nhân.

Trước mắt thương nhân không đượcphép buôn bán thóc, gạo, bột mì, ngô, cao lương, khoai khô, sắn khô, sắn bột;riêng về khoai sắn tươi, thương nhân còn được buôn bán nhưng phải được chínhquyền địa phương cho phép đăng ký hành nghề và quy định phạm vi, mức độ kinhdoanh, Kiên quyết trừng trị bọn ăn cắp, đầu cơ, buôn lậu lương thực.

Hàng xay hàng xáo còn được hoạtđộng với điều kiện được chính quyền địa phương cho phép đăng ký hành nghề, quyđịnh phạm vi và mức độ được buôn bán và phải chịu sự quản lý về giá cả của địaphương.

Tư nhân không được kinh doanhmáy xay xát lúa gạo. Những cơ sở máy xay nhỏ của tư nhân hiện có tại các xã, ấpphải được tổ chức lại thành các tổ hợp xay xát do nhân dân trong xã hay ấp gópvốn cổ phần mua lại máy của tư nhân và cử ra ban quản trị để điều hành phục vụnhu cầu xay xát của xã viên và nhân dân địa phương.

Nhân dân được phép đem lươngthực làm quà cho bà con thân thuộc, nhưng không được mang quá 10 kilôgam gạo,nhiều nhất mỗi tháng 01 lần, và phải có giấy phép của Ủy ban nhân dân xã cấp,giấy phép đó chỉ có giá trị từng chuyến, Ủy ban nhân dân huyện phải kiểm trachặt chẽ việc cấp giấy phép của cấp xã, đề phòng mọi sơ hở và lợi dụng, gây rốicho việc quản lý thị trường lương thực.

Việc vận chuyển lương thực củacác cơ quan xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và đơn vị bộ độiđều phải có giấy tờ hợp lệ theo đúng những thể lệ hiện hành. Mọi hình thức đedọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, xí nghiệp, bộ đội, v.v… đểchuyên chở phi pháp và buôn bán lương thực đều phải nghiêm trị. Thủ trưởng trựctiếp các cơ quan, xí nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang phải có trách nhiệmkiểm tra những đơn vị trực thuộc của mình và liên đới chịu trách nhiệm khi việcchuyên chở lương thực phi pháp xảy ra.

V. VỀ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO VÀ TỔCHỨC THỰC HIỆN.

Phấn đấu trong những năm trướcmắt giải quyết cho được vấn đề lương thực của cả nước là nhiệm vụ hàng đầu củatoàn Đảng, toàn dân ta, của các ngành, các cấp, của nhà nước và nhân dân.

Nhằm mục tiêu đó, kế hoạch Nhànước năm 1978 về phát triển kinh tế nói chung, về sản xuất và công tác lươngthực nói riêng có một vị trí cực kỳ quan trọng. Phải tạo ra sự chuyển biến sâusắc, rõ rệt về các mặt tư tưởng, chính sách, tổ chức và quản lý trong các khâutừ sản xuất đến lưu thông, phân phối, tiêu dùng và quản lý thị trường lươngthực (kiên quyết trừng trị bọn đầu cơ, buôn lậu phá rối thị trường lương thực)để bảo đảm thực hiện thắng lợi chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước đã đề ra.

Muốn thế, trước hết bản thân cácngành có trách nhiệm ở Trung ương và các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền, quânđội, công an, đoàn thể ở địa phương phải thật sự thông suốt chính sách, nhấttrí về phương hướng, nhiệm vụ, chủ trương, biện pháp, mà Trung ương Đảng vàChính phủ đã đề ra, và quyết tâm thực hiện; phải nắm vững tinh thần và nội dungNghị quyết của Hội đồng Chính phủ lần này về công tác lương thực trong tìnhhình mới để vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của địa phương và chỉ đạo tổ chứcthực hiện tốt.

Mặt khác, phải làm cho toàn thểcán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ chính sách, nhận thức đúng ý nghĩa vàtầm quan trọng của vấn đề lương thực đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội và đời sống của nhân dân trong cả nước; trên cơ sở đó phát huy mạnh mẽquyền làm chủ tập thể và tinh thần sáng tạo của nhân dân - nhất là nông dân,động viên thành phong trào cách mạng sâu rộng trong quần chúng, ra sức khắcphục khó khăn, bảo đảm phát triển sản xuất theo quy hoạch và kế hoạch của Nhànước, thực hành triệt để tiết kiệm tiêu dùng lương thực, hăng hái làm trònnghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp và bán lương thực cho Nhà nước, chấp hành nghiêmchỉnh các chính sách, chế độ về lưu thông phân phối lương thực, tích cực gópsức với Nhà nước tăng cường quản lý thị trường, chống đầu cơ, tích trữ và buônlậu lương thực.

Cần dựa vào các chi bộ Đảng,chính quyền xã và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở giáo dục, động viên cán bộ,đảng viên và nhân dân nêu cao tinh thần tự lực tự cường, ý thức cần kiệm xâydựng chủ nghĩa xã hội, khắc phục những tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, vào cấptrên, vào bên ngoài trong vấn đề lương thực, chống xu hướng tự phát chạy theogiá thị trường tự do của tư thương và luận điệu xuyên tạc của phản động. Cánbộ, đảng viên phải xung phong gương mẫu trong mọi việc chấp hành chính sáchlương thực của Đảng và Chính phủ. Mặt khác, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dâncác tỉnh huyện, các tổ chức kinh tế quốc doanh có liên quan phải phối hợp chặtchẽ, tổ chức thực hiện tốt chế độ hợp đồng kinh tế hai chiều và chính sách giámà Hội đồng Chính phủ đã ban hành để thắt chặt quan hệ giữa Nhà nước với cáchợp tác xã và nông dân, thức đẩy nông dân tích cực sản xuất để tăng thu nhập,cải thiệu đời sống và đóng góp ngày càng nhiều lương thực cho Nhà nước để xâydựng chủ nghĩa xã hội.

Các bộ Lương thực và thựcphẩm, nông nghiệp, Nội thương, Vật tư, Tài chính, Ngân hàng, Giao thông vận tảicùng Ủy ban kế hoạch nhà nước và các ngành có liên quan khác cần thấy hết tráchnhiệm của mình và phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc chỉ đạo và bảo đảmthực hiện tốt các kế hoạch của Nhà nước về sản xuất – huy động – phân phối vàtiêu dùng lương thực, bảo đảm cung ứng vật tư và hàng hóa theo kế hoạch đãđịnh cho các tỉnh, thành phố để phân phối kịp thời cho các huyện, xã và hợp tácxã, tạo điều kiện cho các cơ quan kinh tế quốc doanh ở địa phương thực hiện đầyđủ hợp đồng hai chiều ký kết với các hợp tác xã và nông dân.

Các Ủy ban nhân dân cáccấp có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện toàn bộ chính sách và nhiệm vụ công táclương thực ở địa phương, phải nắm chắc cân đối từ khâu sản xuất đến lưu thông,phân phối, tiêu dùng; Ủy ban nhân dân thành phồ, tỉnh, cần đặc biệt quan tâmtăng cường cấp huyện, hướng dẫn,giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cần thiết để Ủyban nhân dân huyện nắm và quản lý được lao động và ruộng đất của huyện, chỉ đạochặt chẽ các hợp tác xã nông nghiệp, các tập đoàn sản xuất và các ấp xây dựngvà thực hiện tốt các kế hoạch sản xuất , huy động và phân phối lương thực nhằmbảo đảm nhu cầu các mặt (kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…) của huyện vàđóng góp ngày càng nhiều lương thực cho Trung ương theo chỉ tiêu kế hoạch Nhànước.

Ủy ban nhân dân huyện phảichỉ đạo chặt chẽ việc ký hợp đồng kinh tế hai chiều giữa các tổ chức kinh tếquốc doanh ở huyện với các hợp tác xã và nông dân, đòi hỏi cả hai bên phải thựchiện đúng và đầy đủ những điều khoản của hợp đồng đã ký.

Ủy ban nhân dân xã phảichỉ đạo trực tiếp các hợp tác xã, các tập đoàn sản xuất và hộ nông dân thi hànhcác mặt chính sách lương thực của Đảng và Nhà nước, theo dõi đôn đốc bảo đảmcác hợp đồng đã ký trong phạm vi xã được thực hiện tốt.

Các cơ quan tuyên huấn, thôngtin, tuyên truyền các cấp, các đoàn thể nhân dân và các Ủy ban nhân dântỉnh, thành phố, cần huy động một số cán bộ có năng lực, bồi dưỡng chính sáchlương thực và nghiệp vụ cần thiết, đưa xuống cùng huyện giúp xã phổ biến, giảithích chính sách lương thực, chính sách giá và ý nghĩa của việc ký hợp đồngkinh tế hai chiều trong các chi bộ và nhân dân, giúp cán bộ cơ sở tổ chức triểnkhai toàn bộ nghị quyết này.

Bộ lương thực và thực phẩmcùng các Ủy ban nhân dân địa phương cần coi trọng việc kiện toàn tổ chức,giáo dục chính trị, tư tưởng và nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên toàn ngànhlương thực, làm cho mọi người hiểu biết rõ nhiệm vụ, nắm bắt chính sách, tíchcực cải tiến phương pháp công tác, đi đúng đường lối quần chúng. Luôn bám sáttình hình sản xuất và đời sống của nhân dân để triển khai các mặt hoạt động củangành đạt kết quả tốt.

Các ngành có liên quan ởtrung ương phối hợp cử một số đoàn cán bộ nắm vững tinh thần và nội dungnghị quyết này xuống cùng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạotriển khai nghị quyết ở một số huyện trọng điểm để rút kinh nghiệm, qua thựctiễn mà phát hiện những thiếu sót lệch lạc trong khâu tổ chức thực hiện để uốnnắn kịp thời, đồng thời xem xét đề nghị Chính phủ bổ sung chính sách cho sáthợp với thực tế.

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Phạm Hùng