Cụ thể như sau:

- Từ năm 1997 đến năm 2000 tôi đảm nhiệm chức danh Phó chủ tịch Hội CCB xã;

- Từ năm 2000 đên năm 2010 tôi đảm nhiệm chức danh chủ tịch Hội CCB xã, đến năm 2010 tôi hết tuổi lao động nên UBND xã đã làm thủ tục cho tôi hưởng chế độ bảo hiểm y tế 1 lần theo quy định và tôi tiếp tục tham gia đảm nhiệm thêm chức danh chủ tịch hôi CCB đến tháng 4/ 2012 mới thôi công tác.

Vậy tôi có được hưởng chế độ thôi công tác theo Nghị định 150/2006/NĐ-CP của chính phủ hay không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: B.V.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật về người có công của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn chế độ với Cựu chiến binh, gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Đối với câu hỏi của Bác công ty Luật Minh Khuê xin hỗ trợ bạn trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý.

Nghị định 150/2006/NĐ-CP Hướng dẫn pháp lệnh cựu chiến binh. 

Thông tư liên tịch 10/2007/TTLT-BLĐTBXH-HCCBVN-BTC-BQP Hướng dẫn thực hiện một số điều nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2006 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh cựu chiến binh

2. Nội dung trả lời.

Với những căn cứ của bác đưa ra như vậy thì bác sẽ được hưởng chế độ, chính sách đối với cựu chiến binh đang làm công tác Hội Cựu Chiến Binh theo quy định tại khoản 5 điều 10 nghị định 150/2006 và được hướng dẫn cụ thể tại thông tư liên tịch 10/2007.

Khoản 5 điều 10 nghị định 150/2006/NĐ-CP quy định

Điều 10. Chính sách, chế độ đối với Cựu chiến binh đang làm công tác Hội Cựu chiến binh

Cựu chiến binh đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp bệnh binh đảm nhiệm chức danh Chủ tịch, Phó Chủ Tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã, phường, thị trấn; Cựu chiến binh tham gia công tác tại cơ quan Hội Cựu chiến binh từ cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh trở lên, khi thôi làm công tác hội, cứ mỗi năm ( đủ 12 tháng) được hưởng trợ cấp một lần bằng nửa (1/2) tháng lương mức lương lĩnh tại cấp Hội mà Cựu chiến binh đang công tác. "

Cụ thể tại điểm 5 mục II của thông tư liên tịch 10/2007/ quy định cụ thể như sau: 
 

" II. CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CỰU CHIẾN BINH 
... 
5. Chế độ trợ cấp khi thôi làm công tác Hội theo quy định tại khoản 5 Điều 10 Nghị định số 150/2006/NĐ-CP 

a) Đối tượng hưởng trợ cấp khi thôi làm công tác Hội. 
Cựu chiến binh thuộc diện đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp bệnh binh hàng tháng khi thôi làm công tác Hội được hưởng chế độ trợ cấp bao gồm: 
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam được Ban chấp hành bầu; 
Cựu chiến binh được bổ nhiệm, tuyển dụng, điều động trong biên chế làm việc tại cơ quan Trung ương Hội Cựu chiến binh và các đơn vị trực thuộc cơ quan Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam. 
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh được Ban chấp hành bầu; 
Cựu chiến binh được bổ nhiệm, tuyển dụng, điều động trong biên chế, làm việc tại cơ quan Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh. 
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp huyện được Ban chấp hành bầu; 
Cựu chiến binh được bổ nhiệm, tuyển dụng, điều động trong biên chế làm việc tại cơ quan Hội Cựu chiến binh cấp huyện. 
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã được Ban chấp hành bầu. 
b) Cách tính trợ cấp khi thôi làm công tác Hội. 
- Đối với người hưởng lương: 
Trợ cấp được hưởng = (Lương + phụ cấp chức vụ hiện lĩnh hàng tháng (nếu có) tại cấp Hội công tác/2) x Số năm công tác 

- Đối với người hưởng phụ cấp (Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn): 
Trợ cấp được hưởng = ( Phụ cấp hiện lĩnh hàng tháng ở địa phương /2 ) x Số năm công tác 
c) Thời gian làm công tác Hội để tính trợ cấp là tổng thời gian làm việc liên tục kể từ khi được bầu, bổ nhiệm, tuyển dụng, điều động đến khi có quyết định thôi làm công tác Hội. 
d) Lương và phụ cấp để tính chi trả trợ cấp khi thôi làm công tác Hội là mức lương và phụ cấp hiện lĩnh của tháng cuối cùng tại cấp Hội Cựu chiến binh nơi đang công tác trước khi nghỉ công tác Hội. 
đ) Thủ tục, thẩm quyền ra quyết định thôi làm công tác Hội để chi trả trợ cấp đối với Cựu chiến binh các cấp thực hiện như sau:
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam do cấp có thẩm quyền quyết định thôi làm công tác Hội sau khi có ý kiến của Đảng đoàn Cựu chiến binh và nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Hội; 
Cựu chiến binh làm công tác Hội tại cơ quan Trung ương Hội và các đơn vị trực thuộc cơ quan Trung ương Hội căn cứ ý kiến của Thường vụ Đảng Uỷ cơ quan Trung ương Hội, ý kiến của Đảng đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam quyết định thôi làm công tác Hội. 
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh căn cứ vào ý kiến của tỉnh uỷ, thành uỷ, ý kiến Đảng đoàn và của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam quyết định thôi làm công tác Hội; 
Cựu chiến binh làm công tác Hội ở cơ quan Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, căn cứ ý kiến Đảng đoàn Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh ra quyết định thôi làm công tác Hội. 
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp huyện, căn cứ vào ý kiến của cấp uỷ địa phương, ý kiến của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp huyện, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh quyết định thôi làm công tác Hội; 
Cựu chiến binh làm công tác Hội ở cơ quan Hội Cựu chiến binh cấp huyện, căn cứ vào ý kiến của cấp uỷ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp huyện quyết định thôi làm công tác Hội. 
- Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã, căn cứ vào ý kiến của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp xã, ý kiến của cấp uỷ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp huyện quyết định thôi làm công tác Hội. 
e) Các cấp Hội Cựu chiến binh có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi làm công tác Hội cho cán bộ cấp mình quản lý khi Cựu chiến binh có quyết định thôi làm công tác Hội."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật lao động và thông tin do quý khách hàng cung cấp, việc tư vấn nhằm mục đích cho cá nhân, tổ chức tham khảo.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng qua emailhoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900 6162 để nhận được sự tư vấn trực tiếp của đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê