1. Nghĩa vụ trả nợ chung sau khi ly hôn?

Thưa luật sư, tôi xin hỏi về vấn đề ly hôn như sau: Bây giờ, tôi muốn ly hôn với chồng tôi. Trong thời gian đầu mới cưới 2 vợ chồng tôi có mua 1 chiếc xe máy trả góp. Ban đầu là bên mẹ tôi có cho chồng tôi mượn 10 triệu và bên nhà chồng cho mượn 6 triệu để mua.

Và mỗi tháng phải góp tiền hàng tháng là 2.387.000 đồng. Phần nợ bên nhà chồng chúng tôi đã trả hết. Nhưng số nợ của mẹ tôi chồng tôi chưa trả. Bây giờ, tôi muốn hỏi khi ly hôn tôi có phải trả góp tiền hàng tháng cùng với chồng tôi nữa không? Hiện giờ xe máy đó đứng tên chồng tôi và chồng tôi đang sử dụng. Hiện vẫn còn phải trả góp 10 tháng nữa. Và tôi có quyền lợi gì và nghĩa vụ gì ở đây không? Tôi có thể đòi chồng tôi chu cấp tiền nuôi con hàng tháng được không? Hiện tại, công việc của chồng tôi mức thu nhập hàng tháng là từ 4 triệu rưỡi đến 5 triệu. Cảm ơn!

Người gửi: Phanlam

Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn:

1. Mẫu đơn xin ly hôn;

2. Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

3. Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;

4. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất: Các khoản nợ trong thời kì hôn nhân mà đến nay anh chị vẫn chưa trả xong thì pháp luật vẫn xác định đó là nghĩa vụ chung của anh chị. Khi anh chị ly hôn, mỗi người có nghĩa vụ thanh toán một nửa số nợ trên.

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, chiếc xe máy trả góp của anh chị được xây dựng trong thời kỳ hôn nhân nên nó được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Về mặt pháp lý, sau khi ly hôn, anh, chị không còn là vợ chồng của nhau nữa nhưng những tài sản mà anh, chị yêu cầu tòa án giải quyết và kể cả các khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được hiểu là tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng nên việc chia tài sản chung sau ly hôn cũng áp dụng tương tự các quy định của pháp luật như chia tài sản khi ly hôn.

Cụ thể, theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc chia tài sản phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Đối với các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân mà đến nay anh, chị vẫn chưa trả xong thì pháp luật vẫn xác định đó là nghĩa vụ chung của anh chị. Theo đó, mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán một nửa số nợ trả góp đó.

Thứ hai: Khi anh chị ly hôn, chị có thể yêu cầu chồng chị cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình

2. Chia tài sản, giải quyết nợ chung sau ly hôn theo quy định mới nhất hiện hành?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và vợ tôi lấy nhau hơn 3 năm và chưa có con. Nay do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp nên chúng tôi quyết định ly hôn. Vợ tôi đã viết đơn gửi ra huyện trong đơn có ghi: con không, tài sản chung không, nợ chung không.

Về phần tài sản chung hai vợ chồng đã thống nhất được với nhau nhưng tôi sống và kinh doanh trên đất, nhà của mẹ vợ mà tôi đã thuê từ trước khi kết hôn. Trong quá trình hôn nhân hai vợ chồng tôi có vay một khoản nợ tổng là 200 triệu để xây thêm hai tầng nhà trên đất của mẹ vợ (1 tầng ở và 1 tầng kinh doanh) để mở rộng kinh doanh. Số tiền khá lớn nên hai vợ chồng phải nhờ mẹ tôi (mẹ chồng) đứng ra vay hộ với sự đồng ý của mẹ vợ vì xây dựng trên đất của mẹ vợ tôi. Nay vợ chồng tôi vẫn sống cùng mẹ vợ ở đó.

Tôi cũng đã nói chuyện với mẹ vợ tôi về khoản nợ mà mẹ đẻ tôi đứng ra vay để xây nhà để ở và kinh doanh, mẹ vợ tôi nói sẽ có trách nhiệm trả và tôi có yêu cầu mẹ vợ tôi viết giấy nợ về khoản vay này nhưng bà không viết mà chỉ nói sẽ có trách nhiệm trả. Nên tôi muốn hỏi luật sư là tôi phải làm gì để chắc chắn rằng mẹ vợ tôi sẽ có trách nhiệm với khoản vay đó mà nếu trả thì sẽ trả trong bao lâu vì khoản vay đó vẫn phải trả lãi. Và trong đơn ly hôn không có ghi nợ chung thì ra tòa tôi có thể yêu cầu về khoản vay này với tòa không?

Rất mong luật sư giải đáp giúp những thắc mắc của tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn ly hôn: Ai được quyền nuôi con - Cafe sáng VTV3

Trả lời:

Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 335. Bảo lãnh

1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh."

Như vậy, theo thông tin pháp luật nêu trên thì việc bảo lãnh là sự cam kết giữa các bên sẽ thực hiện nghĩa vụ, việc bảo lãnh này không bắt buộc phải được lập thành văn bản. Tuy nhiên, việc cam kết này phải được người thực hiện với bên có quyền - chủ nợ, bên cho vay. Do đó, với thông tin bạn đưa ra, mẹ vợ bạn có nói sẽ có trách nhiệm trả khoản với vợ chồng bạn và với mẹ đẻ bạn thì việc cam kết này không có giá trị pháp lý.

Chính vì vậy, trong trường hợp này, nếu hai vợ chồng bạn ly hôn thì bạn nên ghi rõ khoản nợ/vay chung của hai vợ chồng trong đơn để yêu cầu giải quyết. Hoặc trong trường hợp hai vợ chồn bạn đã tự thỏa thuận được với nhau về thanh toán khoản nợ này thì nên lập thành biên bản để các bên căn cứ vào biên bản đó mà có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình.

3. Ly hôn rồi kết hôn lại thì phần tài sản nợ chung giải quyết thế nào?

Thưa luật sư, tôi và vợ ly hôn có căn hộ đang trả góp ngân hàng nhưng không kê khai ra toà. Và hai bên tự chia ra trả ngân hàng.Tôi nhường lại vợ căn hộ. Giấy tờ sổ đỏ chưa có. Vậy giờ vợ chồng tôi quay lại kết hôn lại thì tài sản đó vẫn là thuộc vợ chồng tôi hay thuộc vợ tôi? Cảm ơn!

Trả lời:

Để xác định căn hộ này là tài sản của hai vợ chồng bạn hay là của riêng vợ bạn thì cần xem xét nguồn gốc hình thành của nó là do tiền - là tài sản chung của hai vợ chồng mua hay do tiền riêng của vợ bạn. Bên cạnh đó, bạn có nhắc đến việc nhường lại căn hộ cho vợ mình khi ly hôn. Vậy việc "nhường lại" được thực hiện bằng hình thức nào? Nếu là thỏa thuận tặng cho giữa bạn và vợ bạn được lập thành văn bản và có công chứng chứng thực thì việc nhượng lại này có hiệu lực pháp luật và đương nhiên đây là tài sản riêng của vợ bạn. Ngược lại, nếu việc "nhượng lại" này chỉ là thỏa thuận miệng không có căn cứ pháp lý thì đây vẫn là tài sản chung của hai vợ chồng.

Chào luật sư. Tôi là nguyên đơn trong vụ án ly hôn. Trong ngày 30/9 vừa qua tòa án sơ thẩm đã xét xử vụ án và tôi không đồng ý với Quyết định đã tuyên tại tòa. Hiện nay, tôi muốn làm đơn kiến nghị lên tòa án cấp trên. Tôi đã liên lạc với thẩm phán xét xử vụ án để xin bán án chưa có hiệu lực, tuy nhiên thẩm phán trả lời là không được. Xin hỏi luật sư điều đó là đúng hay sai? Thời hạn để làm đơn kiến nghị là bao lâu? Nộp đơn thời điểm nào là đúng luật? Xin trân trọng cảm ơn luật sư!

>> Đối với vấn đề hiệu lực của bản án sơ thẩm, theo quy định tại Điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Do đó, bạn không thể xin thẩm phán để bản án chưa có hiệu lực pháp luật và câu trả lời của thẩm phán trong trường hợp này là đúng pháp luật.

Tuy nhiên, nếu bạn không đồng ý với bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm thì nếu còn trong thời hạn mà pháp luật quy định bạn có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

+ Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

+ Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.

+ Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.

Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:

  • Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
  • Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo;
  • Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo
  • Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

Xin chào luật sư. Tôi có một số vấn đề về việc muốn giành quyền nuôi con. Xin được luật sư tư vấn giúp: Tôi đã ly hôn được 2 năm rưỡi. Khi ly hôn chúng tôi tự thỏa thuận về con cái và chồng tôi là người trực tiếp nuôi con. Nhưng hiện tại, tôi thấy điều kiện phía chồng tôi chăm lo cho con không được tốt. Chồng tôi đi miền Nam làm ăn để con ở nhà với một bà giúp việc cũng tầm 60 tuổi và ông nội cháu thì bị lẩm cẩm từ mấy chục năm trước. Hiện tại, tôi cũng đi lao động ở nước ngoài. Về tài sản tôi có một mảnh đất 150m2 và dựng 1 căn nhà cấp 4. Nhà cách trường cấp 1 là trường đạt chuẩn quốc gia khoảng 100m, cấp 2 khoảng 50m, cấp 3 khoảng 1km nhà giáp với trạm y tế. Tiền mặt khoảng 600~700 triệu trong tài khoản ngân hàng. Thu nhập thì buôn bán tự do 5~7 triệu/ tháng không tính tiền lương hiện tại tôi đang lao động ở nước ngoài khoảng 20~25 triệu/ tháng. Còn chồng tôi không có nhà đất đứng tên riêng. Về tiền thì cũng không có. Làm ăn thì có vay mượn mua 1 xe tải 8 tấn đang đi làm ở xa thu nhập cũng kém. Vậy xin luật sư tư vấn giúp với trường hợp của tôi như vậy tôi có thể giành được quyền nuôi con không? Và cần phải làm những thủ tục như thế nào để có thể giành được quyền nuôi con? Vì sau ly hôn chồng tôi luôn ngăn cấm hai mẹ con tôi liên lạc và cắt không cho quan hệ với phía gia đình nhà tôi. Cháu rất buồn. Cháu sinh ngày 09/09/2008. Xin luật sư tư vấn giúp cho. Xin chân thành cảm ơn luật sư.

>> Theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu giữa bạn và chồng có thỏa thuận với nhau về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc nếu bạn có chứng cứ chứng minh chồng bạn không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

..."

Do đó, để giành lại quyền nuôi con bạn cần phải chứng minh được chồng cũ của mình không đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho con bạn một cách tốt nhất cũng như đảm bảo sự phát triền tốt nhất cho con bạn và mình có thể đáp ứng được điều đó thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết cho bạn được quyền nuôi con.

Thưa luật sư, chị em kết hôn đã được 10 năm, cùng chồng sở hữu một nhà hàng khoảng 1 tỷ đồng. Đầu năm 2016, chồng chị ấy có quen biết với một người phụ nữ khác và mua cho cô ấy một căn nhà và tiền tiêu vặt hàng tháng. Hai người đã thuận tình ly hôn, vậy sẽ có những quyền và nghĩa vụ nào phát sinh khi hai người đã có 3 con chung và chị em đang mang thai đứa thứ 4. Em xin cảm ơn !

>> Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Trường hợp hai vợ chồng thuận tình ly hôn và thỏa thuận được với nhau về vấn đề chia tài sản và việc nuôi con trên cơ sở đảm bảo được quyền lợi chính đáng của vợ và con thì tòa án sẽ ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn này. Theo đó thì chế độ tài sản và việc nuôi con sẽ tiến hành theo sự thỏa thuận của hai vợ chồng.

Tuy nhiên, nếu hai vợ chồng chỉ thuận tình ly hôn nhưng không thỏa thuận được về việc chia tài sản và nuôi con thì Tòa án án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/01/2018 anh A kết hôn với chị B. Ngày 08/06/2018 chị X nộp đơn yêu cầu tòa án hủy hôn nhân của A và B kết hôn trong thời gian anh A và chị X đang ly thân chứ chưa ly hôn là trái pháp luật. Trong đơn yêu cầu, chị X đưa ra được các chứng cứ xác thực để chứng minh. Ngày 26/06/20158, anh A trúng xổ số được 3 tỷ, sau đó anh lấy tiền trúng số mua một xe ô tô ghi tên anh. Ngày 25/07/2018 tòa án giải quyết cho A và X ly hôn. Ngày 28/07/2018 anh A mua một căn nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên anh A. Ngày 28/10/2018, tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của A và B. Tại buổi giải quyết A và B yêu cầu tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của họ. Cho em hỏi: tòa án có công nhận quan hệ của A và B không? Xe ô tô và căn nhà là tài sản của ai? Xin cảm ơn!

>> Về việc A và B yêu cầu tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của họ, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

"Điều 11. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật

1. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

3. Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự."

Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này. theo đó, trường hợp của bạn nêu thì ngày 25/07/2018 tòa án đã tiến hành giải quyết ly hôn cho anh A và chị X. Cho nên, theo quy định này đến thời điểm tòa án giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật là ngày 28/07/2018 anh A và chị B đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật này. Cho nên, nếu anh A và chị B yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ này thì Tòa án sẽ tiến hành công nhận quan hệ hôn nhân giữa A và B.

Đối với tài sản là chiếc xe ô tô và căn nhà: Thứ nhất là về chiếc xe ô tô là tài sản anh A có được trong thời kỳ hôn nhân do trúng xổ số. Tuy nhiên, nếu anh A chứng minh được số tiền mua xổ số là tài sản riêng của mình thì chiếc xe mua được từ tiền trúng xổ số sẽ là tài sản riêng của anh. Nếu tiền mua là tiền lương của anh và được mua khi hai người chưa ly hôn thì đây vẫn là tài sản chung của hai vợ chồng. Thứ hai là về căn nhà. Căn nhà này được mua sau khi ly hôn nên căn cứ vào Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì đây sẽ là tài sản riêng của anh A.

4. Giải quyết nợ chung của vợ chồng khi ly hôn?

Thưa luật sư, những khoản vay của vợ chồng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân có phải là nợ chung? Thắc mắc phổ biến này:

Trả lời:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Thưa luật sư, mình có vay tín dụng bên bạn, và hàng tháng bên bạn thông báo hạn mức và số tiền phải đóng cho mình, và mình thực hiện đúng, không để chậm ngày nào. Nhưng tháng này bên bạn chưa thông báo gì cho mình qua số điện thoại, cũng như liên hệ với mình và quan trọng là chưa đến ngày nộp hàng tháng mà mình hay nộp (25 hàng tháng). Vậy mà bên ngân hàng đã cho người về trực tiếp gia đình mình để thông báo, và chụp ảnh nhà cửa đất đai gia đình mình làm gia đình và xã hội hiểu nhầm mình giống như sau khi mình chơi bời cờ bạc, lô đề nợ mấy chục triệu làm người ta đến nhà tìm mình mượn tiền không trả làm người ta về tận nhà tìm. Mình nợ nần nhiều quá làm chủ chỗ làm mình đuổi việc Mình nợ không trả, phải đi trốn, làm người ta về bắt bố mẹ nó cắm nhà để trả *Hậu quả của việc này gây lên Gia đình tan vỡ uy tín tổn hại danh dự bị mất, vợ đòi viết giấy ly hôn. Chỗ làm thì bảo giải quyết xong việc rồi đi làm cuộc sống biến đổi mọi ngừoi họ hàng xa lánh, ra đường mọi ngừoi nhìn với ánh mắt khác Bên ngân hàng chỉ gởi mail đến và bảo thông cảm, do nhân viên nhầm lẫn Mong các bác tư vấn hộ vấn đề của em lên làm thế nào ạ ? Cảm ơn!

>> Việc vay nợ và có thỏa thuận về phương thức thanh toán nợ mỗi tháng mà hai bên đã thỏa thuận. Mặc dù chưa đến thời hạn thanh toán mà ngân hàng đã có những hành vi thể hiện rằng bạn có hành vi trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Thông tin mà ngân hàng đưa ra có thể ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm và uy tín cá nhân bạn. Bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu ngân buộc cải chính thông tin và xin lỗi công khai với bạn. Bên cạnh đó, bạn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do tinh thần bị xâm phạm theo quy định tại Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

- Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

- Thiệt hại khác do luật quy định.

- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Xin chào văn phòng luật sư Minh Khuê. Em là T, năm nay em 29 tuổi, em muốn nhờ luật sư hướng dẫn thêm cho em về thủ tục ly hôn đơn phương ạ. Hiện em đã có những giấy tờ sau: Đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, Hộ khẩu thường trú, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng minh nhân dân. Nhưng một người bạn của em bảo là vẫn còn thiếu. Luật sư tư vấn giúp em với. xem em còn thiếu giấy tờ gì nữa để em sớm hoàn tất thủ tục ạ. Em xin cảm ơn!

>> Hồ sơ ly hôn bao gồm những giấy tờ sau:

- Đơn xin ly hôn đơn phương;

- CMND, hộ khẩu photo có chứng thực của vợ chồng;

- Giấy đăng ký kết hôn bản chính;

- Giấy khai sinh của con bản sao có chứng thực;

- Giấy tờ về tài sản (nếu có tranh chấp về tài sản).

Như vậy, nếu bạn yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung và tài sản chung thì cần nộp thêm bản sao giấy khai sinh của con và những giấy tờ chứng minh về tài sản đang có yêu cầu phân chia.

Thưa luật sư, tôi chân thành cảm ơn toàn thể công ty Luật Minh Khuê. Tôi có thể nói rõ hơn là năm 2011 hai vợ chồng tôi có mua một thửa đất 405 m2 do hai vợ chồng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2012, thì hai vợ chồng tôi xây một căn nhà cấp 4 trên thửa đất đó nhưng chưa làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (căn nhà cấp 4). Đến năm 2014 thì vợ tặng cho tôi 1/2 tài sản là thửa đất trên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2011 và đã làm hợp đồng cho tặng tại UBND. Vậy mong luật sư tư vấn giúp cho tôi là căn nhà cấp 4 này là tài sản chung hay đã thuộc sở hữu của tôi. Xin cảm ơn!

Tài sản trên đất cần được đăng ký biến động để xác nhận về quyền sở hữu. Đây cũng là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, việc xác định tài sản chung hay riêng được thực hiện theo quy định theo Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, theo đó với căn nhà cấp 4 được xác định là tài sản chung của vợ chồng chưa phân chia. Bởi trong khi thực hiện tặng cho cơ quan có thẩm quyền chưa xác nhận về việc cho tặng với căn nhà cấp 4 này vì vậy, vợ bạn vẫn có quyền yêu cầu xác nhận đó là tài sản chung.

Xin hỏi luật sư: Tôi có nhận một luật sư làm cố vấn và bảo vệ cho tôi về vụ án liên quan tới việc đòi chia tài sản chung của ba má tôi để lại sau khi chết. Vài tháng sau, nhận thấy luật sư này có vẻ uể oải, tôi phàn nàn là ''luật sư yếu quá, dường như luật sư ấy cảm thấy bị xúc phạm hoặc vì tự ái, bèn nói với tôi là thôi ''thanh lý hợp đồng'', tôi đành nói ''vâng''. Cho đến nay, gần hai tháng luật sư ấy vẫn chưa hòa thành việc thanh lý như đã hứa với tôi. Tôi đã trả một nửa phần tiền thỏa thuận giữa đôi bên, ngay khi vụ án bắt đầu. Vậy việc thanh lý hợp đồng do luật sư đề xuất, ai sẽ phải làm việc thanh lý? Và luật sư kia sẽ phải trả lại tôi một bao nhiều phần trăm tiền tôi đã ứng trước? và thể thức như thế nào, xin luật sư giúp tôi ý kiến, tôi phải làm gì? Tôi xin cảm ơn!

Điều 26 Luật luật sư 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý như sau:

" Điều 26. Thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý

1. Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức.

2. Hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được làm thành văn bản và có những nội dung chính sau đây:

a) Tên, địa chỉ của khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng, đại diện của tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân;

b) Nội dung dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng;

c) Quyền, nghĩa vụ của các bên;

d) Phương thức tính và mức thù lao cụ thể; các khoản chi phí (nếu có);

đ) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

e) Phương thức giải quyết tranh chấp."

Thanh lý hợp đồng là thủ tục hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Trong trường hợp một trong hai bên vi phạm hợp đồng thì sẽ được giải quyết theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Khoản nợ chung của vợ chồng khi ly hôn giải quyết như thế nào?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về tài sản chung và các vấn đề liên quan.

Khoản nợ chung của vợ chồng khi ly hôn giải quyết như thế nào ?

Luật sư tư vấn:

Thủ tục ly hôn bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của các con;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

Về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn:

Căn cứ theo Điều 43 và Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định về tài sản riêng của vợ, chồng và nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
...

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Về vấn đề chia con chung khi ly hôn:

Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

=> Vậy đối với đơn phương ly hôn thì phải nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi mà người còn lại cư trú. Còn ly hôn thuận tình thì có thể yêu cầu giải quyết tại TAND cấp huyện nơi chồng hoặc vợ cư trú đều được.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em cưới vợ vào năm 2011 đến nay có một con trai đươc hơn 4 tuổi. Gia đình kinh tế cũng khá. Vợ làm giáo viên mầm non, còn tôi làm công nhân viên cho công ty dược vốn nước ngoài. Bây giờ hai vợ chồng tôi không còn muốn sống chung với nhau muốn ly hôn. Tôi muốn sau ly hôn tôi sẽ được quyền chăm sóc con và nuôi con được không? Hai vợ chồng có vay ngân hàng với khoảng 100 triệu. Như vậy, tôi muốn biết nếu tôi ly hôn như thế thì ra sao? Xin cảm ơn!

=> Vì con bạn hiện nay đã hơn 4 tuổi nên nếu bạn muốn giành quyền nuôi con thì bạn phải chứng minh được bản thân có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con tốt hơn vợ. Bạn cần cung cấp cho tòa những chứng cứ kèm theo: bảng thu nhập hàng tháng, giấy tờ chứng minh thu nhập phát sinh từ các nguồn khác, cụ thể điều kiện vật chất bạn sẽ đảm bảo cho con là gì: điều kiện ăn uống, may mặc, các đồ dùng vật chất phục vụ cuộc sống của con. Bên cạnh đó bạn cần chứng minh cho Tòa án thấy bạn luôn đảm bảo tốt cho sự phát triển về mặt tinh thần của con: vui chơi giải trí, học hành, sự phát triển trí tuệ...

Về khoản nợ chung 100 triệu là khoản nợ hình thành trong quá trình hôn nhân, cả 2 vợ chồng cùng đứng tên vay và mục đích sử dụng là mục đích chung nên khi giải quyết sẽ chia đôi phần khoản nợ chung.

Thưa luật sư, xin hỏi: tôi kết hôn tháng 11/2011, đến tháng 03/2013 thì chồng tôi mua baán ma túy và bị bắt. Thời gian chung sống vợ chồng được 5 tháng và chồng tôi phải cải tạo 7 năm. Vợ chồng tôi chưa có con cái, sống chung với mẹ chồng. Rồi một năm sau tôi vào BD làm việc cho tới giờ, chưa một lần đi thăm chồng tôi. Giờ tôi muôn hỏi luật sư tôi muốn nộp đơn ly hôn đơn phương được không? Và tôi muốn nộp đơn ở BD được không hay là phải về quê? Hộ khẩu thường trú tôi ở CB?

=> Trường hợp này bạn có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn đơn phương được. Khi nộp đơn thì bạn phải nộp tại nơi mà chồng bạn đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú. Và những giấy tờ cần có xác nhận của chồng bạn hoặc giấy chứng minh chồng bạn đang trong quá trình bị phạt tù thì phải có xác nhận của người quản lý tù giam.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi sinh sống tại LS và làm giáo viên mầm non. Năm 2010, tôi có kết hôn (đăng ký ở LS) với anh PHT trú tại VT-TB. Hiện nay, hộ khẩu của tôi và con tôi là ở LS, còn T vẫn khẩu ở TB. Vì anh đấy uống rượu và thường xuyên đánh tôi. Đi làm thì không mang tiền về mà còn xin vợ tiền. Nên tôi không thể sống với anh ta được. nay tôi muốn hỏi tôi có thể làm đơn ly hôn đơn phương tại địa phương được không gồm các thủ tục nào?

=> Vì bạn ly hôn đơn phương nên bạn phải nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đăng ký thường trú hoặc tạm trú, cụ thể là VT-TB. Bạn có thể nộp đơn theo đường bưu điện để có thể thuận tiện hơn chứ không bắt buộc phải nộp trực tiếp. Thủ tục ly hôn như chúng tôi đã trình bày bên trên.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi xin hỏi tôi muốn được tư vấn về thủ tục xin ly hôn đơn phương thì chi phí thế nào? Hiện nay vợ tôi đã bỏ đi theo người khác hơn một năm nay không có tin tức gì tôi có thể làm đơn xin đơn phương ly hôn được không? Vợ chồng tôi có hai con chung hiện nay do tôi chăm sóc, nuôi dưỡng từ ngày vợ tôi bỏ đi. Tài sản chung không có gì phải phân chia, tôi muốn làm đơn xin ly hôn thì cần những gì thủ tục thế nào? Công ty có dịch vụ giúp đỡ làm thủ tục nộp đơn không các chi phí cần thiết thế nào?

=> Vì vợ bạn đã bỏ đi hơn 01 năm chưa có tin tức gì nên bạn phải xác nhận vợ bạn đi biệt tích đủ 2 năm rồi bạn yêu cầu Tòa án thông báo mất tích rồi bạn mới có thể ly hôn được.

Theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Khi người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất tích thì người đó phải nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết với nội dung như sau:

Ngày, tháng, năm, viết đơn; tên, địa chỉ của người yêu cầu, những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết; lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết vụ việc dân sự đó; tên địa chỉ những người có lên quan; các thông tin khác mà người yêu cầu thấy cần thiết cần cung cấp; kèm theo là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Kèm theo đơn là các chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết và chứng minh việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm.

Toà án sẽ xem xét đơn và thụ lý vụ án; trong thời hạn là 20 ngày, kể từ ngày thụ lý, Toà án sẽ ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng (thông báo trong 4 tháng kể từ ngày thông báo đầu tiên).

Sau 15 ngày kể từ ngày hết hạn công bố thông báo Tào án sẽ mở phiên họp xét yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Thủ tục ly hôn như chúng tôi đã cung cấp ở các bài viết nêu trên.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và chồng tôi sống ly thân đã được nửa năm. Do chồng tôi hay ghen tuông nên tôi muốn ly hôn. Nhưng chồng tôi không đồng ý. Và yêu cầu tôi phải cam kết không được nuôi con. Vậy nếu tôi cam kết để được ly hôn. Theo luật sư tôi còn có thể giành quyền nuôi con trên toà không? Xin cảm ơn!

>> Nếu bạn có bằng chứng như băng ghi âm, ghi hình chứng minh việc chồng bạn ép buộc bạn phải làm bản cam kết thì chồng bạn mới đồng ý ly hôn thì bạn có thể giành quyền nuôi con. Tuy nhiên, bạn có thể làm thủ tục ly hôn đơn phương thì không cần phải có chữ ký của chồng bạn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em gái tôi lấy chồng năm 2015, có 01 con chung 04 tuổi, chồng em tôi mê cờ bạc nên nhiều lần đã phải bán tài sản để trả nợ cho chồng, phải nghỉ việc lấy tiền trợ cấp BHXH để trả nợ nhưng vẫn không đủ, trong cuộc sống em tôi đã từng bị chồng bóp cổ mấy lần gần chết, giờ còn dọa nếu em tôi quen ai sẽ chặt đầu nó, đã nhiều lần cho chồng cơ hội sửa chữa nhưng không được; cha tôi khuyên nhủ nhiều lần cũng không được do phải suy nghĩ nên ông bị bệnh cao huyết áp, tai biến nằm một chỗ nhưng em rể tôi vẫn không quan tâm còn thường xuyên chửi mắng em tôi (Hai vợ chồng em tôi đã ly thân, nhưng em rể không chịu đi ở chỗ khác, vẫn ở phòng riêng của hai vợ chồng, còn em tôi lên phòng cha mẹ để chăm sóc cha bệnh). Em tôi quá sợ khi phải sống với người chồng như vậy nên đã làm đơn xin ly hôn gửi tòa, xin được ly hôn và xin được nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng, tòa đã triệu tập 02 lần nhưng em rể tôi không đến. Vậy theo luật sư tại phiên tòa xử ly hôn, em tôi có được ly hôn hay không? Có được nhận nuôi con hay không? Hiện em tôi có chỗ ở, việc làm thu nhập ổn định, còn em rể không có chỗ ở, cũng có việc làm, có thu nhập vì em lái xe chở rác sinh hoạt của công ty vệ sinh.

=> Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;"

Thì trường hợp này khi em rể bạn không có lý do chính đáng mà Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai thì Tòa án sẽ tiến hành xét xử ly hôn vắng mặt chồng. Về người có quyền trực tiếp nuôi con thì Tòa án sẽ xem xét vào khả năng tài chính và khả năng giáo dục của cả hai vợ chồng để quyết định.

6. Trách nhiệm trả nợ chung của vợ chồng khi ly hôn ?

Kính chào luật sư Minh Khuê. Luật sư cho em hỏi khi ly hôn về nợ chung có cần giấy xác nhận nợ không ạ? Em cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Căn cứ vào quy định pháp luật trên thì vợ/chồng bạn phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng bạn nếu khoản vay nợ là nợ chung của hai vợ chồng hoặc khoản nợ là nợ bạn vay nhưng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vì vậy, nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được về việc trả nợ thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết và trong hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn bạn cần gửi kèm các giấy tờ xác nhận nợ để tòa án có căn cứ giải quyết.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Vấn đề giải quyết nợ sau khi tiến hành giải quyết thủ tục ly hôn?

Mọi vướng mắc quý khách hàng vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê