3) Cha mẹ không có quốc tịch và không có nơi thường trú để xác định quốc tịch cho con..

Người không quốc tịch cư trú ở Việt Nam được Nhà nước Việt Nam bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng khác theo pháp luật Việt Nam đồng thời phải tuân theo pháp luật Việt Nam, tôn trọng phong tục, tập quán của nhân dân Việt Nam.

Ở Việt Nam, khái niệm người không quốc tịch chính thức được quy định từ Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988.

Quy định pháp luật Việt Nam về quốc tịch

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa, nửa phong kiến vì vậy quốc tịch Việt Nam hồi đó chưa có. Với thắng lợi của Cách mạng tháng 8, ngày 2/9/1945, một quốc gia độc lập có chủ quyền, bình đẳng với tất cả các quốc gia khác trên thế giới ra đời. Nhà nước Việt Nam có đầy đủ thẩm quyền quy định quốc tịch cùa mình. Chỉ mới hơn một tháng sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, Chù tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ký các sắc lênh quy định về quốc tịch Việt Nam. Từ đó đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản khác nhau quy định các vấn đề về quốc tịch. Luật quốc tịch năm 1988 và Luật quốc tịch năm 1998 đã thể hiện được nhiều quan điểm tiến bộ của Nhà nước ta và phục vụ đất nước trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau.

Để phù hợp với tình hình mới và sự phát triển của đất nước trong điều kiện hội nhập, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá xn đã chính thức thông qua Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.

Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 bao gồm 6 chương và 44 điều. Về cơ bản, Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 kế thừa các quy định của Luật quốc tịch năm 1998 như căn cứ xác định có quốc tịch Việt Nam, căn cứ chấm dứt quốc tịch Việt Nam... Bên cạnh đó, Luật quốc tịch năm 2008 cũng có những sửa đổi, bổ sung có ý nghĩa quan trọng như khắc phục được những hạn chế trong các quy định về nguyên tắc một quốc tịch theo Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998; tạo ra cơ chế hữu hiệu, khả thi hơn để giải quyết vấh đề người không quốc tịch qua đó góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch và hạn chế tình trạng không quốc tịch; tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc tịch; tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài...

Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 được ban hành đã quán triệt và thể chế hoá đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quốc tịch Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết của Bộ chính trị số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Nghị quyết của Bộ chính tri số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hòàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Mặt khác, Luật quốc tích Việt Nam năm 2008 còn bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 1992, sự đồng bộ với các văn bản pháp luật có liên quan cũng như tính khả thi của các quy định có tính nguyên tắc của Luật. Hơn thế nữa, Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 còn là sự kế thừa và phát triển những giá trị của pháp luật quốc tịch Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời nghiên cứu áp dụng có chọn lọc những kinh nghiêm quốc tế trong việc điều chỉnh vấn đề quốc tịch frong những năm gần đây. Để hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về quốc tịch, ngày 24/6/2014, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật số 56/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008. Một số quy định của Luật quốc tich Việt Nam năm 2008 về đăng ký quốc tich Việt Nam đã được điều chỉnh nhằm phù hợp vói sự thay đổi cùa tình hình mới.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Quốc tịch là gì ? Đương nhiên mất quốc tịch khi nào ?

>> Xem thêm:  Luật quốc tịch Việt Nam là gì? Tìm hiểu về luật quốc tịch Việt Nam