1. Người làm trong ngành công an có được kết hôn với người đã từng ly hôn không ?

Xin chào Luật sư, em đã từng kết hôn và ly hôn hiện tại em có quen 1 anh công an chúng em đang tính tới chuyện kết hôn. Lý lịch 3 đời thì gia đình có nhiều đảng viên và quân đội. Ông ngoại em cũng là thương binh, anh trai ruột hiện đang làm bên Nga như vậy có ảnh hưởng gì không ?
Khi em lấy chồng thì đăng kí kết hôn ở Đồng Nai và hộ khẩu gia đình e ở đó, em không nhập hộ khẩu vào nhà chồng cũ. Khi ly hôn song em ra Bắc học, cắt khẩu ở Đồng Nai và nhập về Bắc. Việc em đã từng kết hôn như vậy có ảnh hưởng tới quyết định được lấy người trong nghành công an không ?
Mong luật sư tư vấn giúp em !

Trả lời:

Chào bạn ! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau :

- Về điều kiện đăng ký kết hôn : Việc kết hôn của hai bạn phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính".

Như vậy, trong trường hợp này của bạn, trước hết bạn và bạn trai bạn phải đáp ứng được ba điều kiện để kết hôn là về độ tuổi, về năng lực hành vi dân sự và hai bạn phải tự nguyện kết hôn mà không bị ai ép buộc. Điều kiện cuối cùng là hai bạn kết hôn mà không thuộc điều cấm nào của pháp luật.

Thứ hai là phải đáp ứng quy định về điều kiện kết hôn của ngành công an nhân dân. Theo quy định trong nội bộ nghành công an vì ngành có đặc thù riêng, phải tuân thủ những nguyên tắc hoạt động quy định trong Luật Công an nhân dân năm 2014 cho nên về điều kiện kết hôn cũng phải tuân theo quy định của ngành.

Khi quyết định tiến tới hôn nhân, bản thân 2 người cần nắm được thủ tục thực hiện kết hôn. Người đang công tác trong ngành Công an nhân dân cần chú ý tuân thủ điều kiện kết hôn cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và thực hiện thủ tục theo quy trình sau:

- Chiến sỹ công an chủ động làm đơn tìm hiểu để kết hôn trong thời gian từ 03 đến 06 tháng tùy theo mức độ tình cảm của hai người;

- Tiếp theo chiến sỹ công an làm đơn xin kết hôn gồm 02 đơn : 1 đơn gửi thủ trưởng đơn vị, 1 đơn gửi phòng tổ chức cán bộ;

- Người dự định kết hôn với chiến sĩ công an làm đơn để kê khai lý lịch trong phạm vi 03 đời của mình;

- Phòng Tổ chức cán bộ có trách nhiệm tiến hành thẩm tra lý lịch, xác minh người mà chiến sỹ công an dự định kết hôn và tất cả những người thân trong gia đình tại nơi sinh sống và nơi làm việc.

- Thời gian tiến hành thẩm tra, xác minh lý lịch nói trên khoảng từ 2 đến 4 tháng.

- Sau khi thẩm định lý lịch, phòng tổ chức cán bộ ra quyết định có cho phép kết hôn hay không. Nếu đồng ý cho chiến sỹ công an đó kết hôn với người chiến sỹ đó dự định cưới thì Phòng tổ chức cán bộ gửi quyết định về đơn vị nơi chiến sỹ ấy công tác.

- Về thẩm tra lý lịch : Do có những đặc thù riêng về vấn đề bí mật và an ninh quốc gia, trước khi kết hôn với người trong ngành công an bạn và gia đình sẽ phải thẩm tra lý lịch ba đời về các điều kiện cơ bản. Nếu trong gia đình bạn có một hoặc nhiều đảng viên thì thẩm tra 2 đời cũng được ( tùy thuộc và người đi thẩm tra ). Để đáp ứng điều kiện kết hôn với chiến sĩ công an thì phải đáp ứng thêm các diều kiện khắt khe khác. Cụ thể như các trương hợp dưới đây thường sẽ không được kết hôn với công an :

- Gia đình làm tay sai cho chế độ phong kiến, Nguy quân, Ngụy quyền;

- Bố mẹ hoặc bản thân có tiền án hoặc đang chấp hành án phạt tù;

- Gia đình hoặc bản thân theo Đạo thiên chúa, Cơ đốc, Tin lành...;

- Gia đình hoặc bản thân là người dân tộc Hoa;

- Bố mẹ hoặc bản thân là người nước ngoài (kể cả đã nhập tịch)

Như vậy nếu bạn đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì bạn có thể đăng ký kết hôn với người bạn trai là công an nhân dân theo quy định của pháp luật.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

>> Xem thêm:  Tư vấn về trình tự thủ tục và mẫu đơn ly hôn ?

2. Ly hôn khi Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ghi nhầm thông tin ?

Thưa luật sư, Em tiến hành ly hôn nhưng trên giấy đăng ký kết hôn của em lại ghi nhầm thông tin. Vậy, em phải làm sao ạ ? Cảm ơn!

Trả lời:

Theo thông tin chị cung cấp thì trong Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của vợ chồng chị có sự nhầm lẫn về số CMND của bạn và chồng bạn. Do đó, để tiến hành thủ tục ly hôn, trước tiên chị cần sửa đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Theo các quy định tại Luật Hộ tịch năm 2014, đăng ký kết hôn là một trong các hoạt động đang ký hộ tịch và sửa đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do sai sót khi đăng ký kết hôn là một trong các hoạt động cải chính hộ tịch. Do đó, thủ tục sửa đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn phải tuân thủ theo quy định về thủ tục đăng ký cải chính hộ tịch tại Điều 28 Luật Hộ tịch năm 2014:

“Điều 28. Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch

1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch”.

Sau khi đã thực hiện việc sửa đổi nội dung giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo thủ tục nêu trên, chị có thể thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan khác.

>> Xem thêm:  Xin tư vấn về thủ tục ly hôn ở tỉnh Hà Nam ? Quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

3. Hỏi về phân chia tài sản của mẹ chồng khi ly hôn ?

Kính chào các Anh/ Chị Tôi đang có câu hỏi này rất mong được các Anh/ Chị tư vấn liên quan đến việc phân chia tài sản khi ly hôn: Trước đây, mẹ tôi có ngôi nhà cấp 4 ở cùng con trai và con dâu, sau khi chia đất cho con trai và con gái ( đất mang tên cả hai vợ chồng anh trai tôi), anh chị tôi đã phá nhà cấp 4 của Mẹ tôi để xây nhà mới (ngôi nhà cấp 4 này nằm trên cả diện tích của anh trai tôi và của tôi). Tiền xây nhà của anh trai tôi và mẹ tôi đang ở cùng anh chị.

Hiện nay anh chị tôi đang làm thủ tục ly hôn, vậy cho tôi hỏi việc chia tài sản như thế nào, mẹ tôi có được chia trong phần này không vì hiện nay mẹ tôi không có chỗ ở nào khác?

Rất mong nhận được câu trả lời của các Luật sư. Trân trọng!

Người hỏi: TM

Muốn sửa lại thông tin địa chỉ đã ghi trên tờ giấy chứng nhận ly hôn thì em phải làm như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình: 1900.6162

Trả lời:

Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nguyên tắc xử lí tài sản khi vợ chồng li hôn sẽ là:

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Trong trường hợp của bạn, trước hết, bạn nên khuyến khích mẹ bạn và vợ chồng anh trai bạn tiến hành thỏa thuận với nhau để xác định rõ phần tài sản của từng người trong khối tài sản chung là căn nhà một cách hợp lí, căn cứ vào tình hình thực tế vì ai cũng tham gia đóng góp tài sản và công sức. Việc thỏa thuận thành sẽ giảm các thủ tục phải giải quyết tại tòa.
Trong trường hợp các bên không thể thỏa thuận được, Tòa án sẽ căn cứ vào nguyên tắc qui định tại điều 61 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như đã nêu để giải quyết. Theo đó, anh trai, chị dâu và mẹ của bạn sẽ được hưởng phần giá trị tương ứng với công sức đóng góp vào việc xây dựng căn nhà. Người được nhận nhà và đất phải hoàn trả giá trị phần căn nhà của những người còn lại bằng tiền mặt. Có khả năng Tòa án sẽ ưu tiên cho mẹ bạn nhận căn nhà vì đất xây nhà là của mẹ bạn và bà hiện không có nơi ở nào khác. Sau đó, bà phải hoàn trả bằng tiền phần giá trị tài sản của anh trai và chị dâu bạn đã đóng góp xây dựng.
Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Chúc bạn sức khỏe và thành công! Trân trọng!

>> Xem thêm:  Muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn thực hiện như thế nào ?

4. Làm thế nào để ly hôn đúng quy định của pháp luật ?

Thưa Luật sư: Tôi Lê Thị Ngọc Trang, sinh năm 1982 và chồng tôi Nguyễn Thanh Thuần, sinh năm 1982 đã kết hôn năm 2003 nơi tôi sinh sống Thị Trấn Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, nhưng đến năm 2004 vợ chồng tôi không sống chung nữa, chồng tôi đã về Thôn 2, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận sống cùng cha mẹ đẻ.

Đến năm 2014 được sự quan tâm của gia đình và cơ quan khuyên tôi nên ly hôn để có cuộc sống mới, bản thân tôi đến nay vì chuyện chưa được ly hôn nên không được vào Đảng, Tôi sẽ kể tiếp theo câu hỏi hôm trước, năm 2014 tôi được tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh chỉ dẫn vào tòa án Nhân dân huyện Ma Lâm tỉnh Bình Thuận gửi đơn, nhưng tòa ở đây lại không xử vì lý do không có mạt chồng tôi tại địa phương, nên tôi có gặp gia đình chồng lên côn an xã xác nhận chồng tôi không có mặt tại địa phương, khi tôi và mẹ của chồng tôi có cầm đơn xác nhận của công an xã lên tòa, nhưng ở đây tòa vẫn không chịu giải quyết để tôi được ly hôn. Thưa luật sư vậy tôi phải làm thế nào để được ly hôn đơn phương, như hoàn cảnh của tôi hiện nay phải nộp đơn ở tòa án nơi tôi sinh sống, hay nộp đơn nơi quê chồng tôi.

Tôi xin cảm ơn!

Làm thế nào để ly hôn đúng quy định của pháp luật ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về những tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án, cụ thể như sau:

"Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

5. Tranh chấp về cấp dưỡng.

6. Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

7. Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.

8. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật".

"Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;

d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam".

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết"

"Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết".

Theo Điều 12 Luật cư trú năm 2006; Luật cư trú sửa đổi, bổ sung năm 2013:

Điều 12. Nơi cư trú của công dân

"1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống"

Theo quy định trên, Bạn có thể nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn tại Tòa án nơi chồng chị cư trú, trong trường hợp không xác định được nơi chồng trị đang cư trú thì nộp đơn tại Tòa án nơi làm việc, cư trú cuối cùng của chồng chị. Như thông tin bạn cung cấp, chồng chị từ năm 2004 về quê mẹ tại Thôn 2, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, nhưng hiện tại không ở địa phương. Như vậy, bạn phải xác định nơi chồng chị đang cư trú hiện tại, hay là nơi chồng chị đang kí tạm trú, trường hợp không xác định được nơi thường trú thì xác định nơi người đó đang sinh sống. Nếu như bạn không xác định được, tức bạn không biết nơi cư trú của chồng mình thì theo Điều 36 Luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định thì có thể nộp tại Tòa án huyện Hàm Thuận Bắc, còn Tòa án huyện Ma Lâm chưa có căn cứ để xác định thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết nên Tòa án không thụ lý là đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, trong trường hợp bạn không xác định được nơi cư trú của chồng bạn, thì bạn có quyền gửi đơn đến Tòa án huyện Hàm Thuận Bắc để giải quyết.

>> Xem thêm:  Kết hôn ở Malaysia thì ly hôn ở Việt Nam được không ?

5. Cách sửa lại thông tin trên tờ giấy chứng nhận ly hôn ?

Thưa luật sư. Xin tư vấn cho em về việc ly hôn. Trường hợp của gia đình em như sau: mẹ và ba em li hôn đã 16 năm. Giấy tờ li hôn được làm và chứng nhận ở bình định. Trong giấy tờ xác nhận ly hôn thì địa chỉ cư trú của mẹ em bị toà án nhầm lẫn và ghi sai không đúng như trong hộ khẩu địa chỉ mà mẹ em cư trú.
Vậy xin hỏi luật sư nếu bây giờ mẹ em muốn sửa lại thông tin địa chỉ đã ghi trên tờ giấy chứng nhận ly hôn thì mẹ em phải làm như thế nào là hợp lí và đúng quy định của pháp luật ?
Kính mong luật sư tư vấn giúp em. Chân thành cảm ơn luật sư.

Luật sư trả lời:

Theo thông tin mà bạn đã cung cấp, chúng tôi hiểu rằng mẹ bạn đã ly hôn được 16 năm, trong quyết định ly hôn thì địa chỉ cư trú của mẹ bạn bị toà án nhầm lẫn và ghi sai không đúng như trong hộ khẩu địa chỉ mà mẹ em cư trú, mẹ bạn muốn sửa lại thông tin địa chỉ đã ghi trên quyết định ly hôn.

Căn cứ Điều 268 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 về Sửa chữa, bổ sung bản án cụ thể như sau:

'1. Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.

2. Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp Thẩm phán đã xét xử vụ án đó không còn đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Tòa án đã ra bản án đó thì Chánh án Tòa án thực hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án"

Như vậy, mẹ bạn cần liên hệ với Tòa án nơi đã xét xử vụ án cụ thể là tòa án nhân dân thành phố để sửa chữa, bổ sung bản án khi phát hiện ra lỗi sai về địa chỉ, nơi mẹ bạn cư trú. Sau khi có đơn của bạn thì Tòa án sẽ xem xét và có văn bản thông báo về việc sử chữa, bổ sung bản án cho mẹ bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chưa làm thủ tục chuyển khẩu về nhà chồng muốn ly hôn thì có ảnh hưởng gì không ?