Công việc chính là kế toán bán hàng tại kiêm kế toán thanh toán khi chị kế toán thanh toán nghỉ phép, nghỉ thai sản. Ngày 15/11/2016, em có ký hợp đồng lao động với công ty thời hạn là 1 năm, công ty chưa gửi lại em một bảng giữ lại. Ngày 24/11/2016,  B- kế tóan bán hàng tại tỉnh xin nghỉ việc. Em được phân công làm thay B. Em vừa nhận bàn giao từ b lại thường xuyên thay thế các bạn khi mọi người nghỉ phép nên rất mệt. Ngày 26/11 em viết đơn xin nghỉ việc, em có viết mail xin được nghỉ sớm nếu có người mới. Ngày 4/12/2016 có người mới vào làm, B bàn giao lại cho bạn này.
Em đã viết mail xin nghỉ việc kể từ ngày 05/12/16 trước thời gian là 26/12/16 như đã quy định, nhưng sếp không phản hồi. Ngày 5/12/2016 em đã tự nghỉ việc ở cty này. Ngày 10/12/2016, kế toán bên cty a nói em đã vi phạm hđlđ, tự ý nghỉ việc trước thời hạn là 26/12/2016, không thông báo trước nên phài bồi thường tiền là (3.800.000/30)*21=2.660.000 và phải nộp tiền bhyt t12/16 là 3.800.000 * 4.5%=171.000.
Luật sư cho em hỏi:  Em có bị vi phạm hđlđ và phải bồi thường như trên không.Nếu không, thì điều nào trong bộ luật lao động thể hiện và em phải làm gì khi cty a bắt em phải bồi thường và đang giữ sổ bảo hiểm của em.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Lao động, gọi:  1900.6162

 

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020

Bộ luật lao động 2012

2. Luật sư tư vấn:

Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Như vậy, trường hợp bạn thấy bản thân không đủ khả năng để tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, bạn phải tuân thủ quy định về thời hạn báo trước 30 ngày trước khi chấm dứt hợp đồng lao động. Việc cấp trên của bạn chưa phê duyệt mà bạn đã tự ý nghỉ trước thời hạn đợc coi là hành vi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Điều 43 Bộ luật lao động quy định về Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Theo quy định tại khoản 2, điều 54 Quy định quản lý thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT ban hành kèm theo Quyết định số 1111/QĐ-BHXH thì người lao động ngừng việc, nghỉ việc trong tháng, có ít nhất 1 ngày làm việc và hưởng tiền lương trong tháng, thì tính đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với đơn vị và người lao động như sau: "... Người lao động ngừng việc, nghỉ việc thì tính đóng BHXH, BHYT, BHTN đến ngày cuối cùng của tháng ngừng việc, nghỉ việc..." Như vậy, bạn vẫn phải đóng tiền bảo hiểm tháng 12 cho công ty theo quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về "Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có phải bồi thường không? " Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người lao động bị tạm giam có được coi là lý do để công ty chấm dứt hợp đồng lao động ?