1. Có thể ủy quyền cho người khác xác nhận tình trạng hôn nhân ?

Thưa luật sư. Tôi có 1 vấn đề muốn hỏi luật sư mog luật sư giúp tôi giải đáp thắc mắc. Tôi lấy chồng và muốn đăg kí kết hôn tại nơi thường trú của tôi. Nhưng vì hộ khẩu chồng tôi ở quê nên giờ chồng tôi phải làm giấy xác nhận độc thân ở quê nhưg vì ở xa nên chồng tôi gửi hộ khẩu về nhờ người làm dùm nhưng ở địa phương không chấp nhận và muốn chồng tôi phải về quê để làm giấy xác nhận độc thân. Chồng tôi hộ khẩu ở quê nhưng đã chuyển vào Biên Hòa từ lúc nhỏ đến nay .
Vậy thưa luật sư giờ chồng tôi có cần về quê để làm giấy xác nhận độc thân không? và nếu có thì cần mag theo giấy tờ gì? Chồng tôi muốn cắt hộ khẩu và làm hộ khẩu thường trú ở nơi đăng kí tạm trú dài hạn có được không. Và cần nhữg giấy tờ gì ạ ?
Tôi mong luật sư sớm trả lời giúp tôi. Tôi xin cảm ơn.

Trả lời:

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là một loại giấy tờ mà cơ quan tư pháp thuộc UBND xã/ phường nơi thường trú/ tạm trú của công dân cấp để xác nhận công dân độc thân, được sử dụng để thực hiện các thủ tục như: đăng ký kết hôn, mua bán tài sản...

1.1. Trách nhiệm xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Trách nhiệm này trước hết là thuộc về người có nhu cầu xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, khi có yêu cầu thì người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Đối với trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau mà người có nhu cầu xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không thể tự mình thực hiện được thủ tục này, trường hợp của bạn là một lý do điển hình. Trong trường hợp như vậy, chồng bạn hoàn toàn có thể ủy quyền cho người thân ở địa phương- nơi thường trú thực hiện thay mình thủ tục xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không cấm ủy quyền xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; mà chỉ cấm 2 trường hợp đó là: đăng ký kết hôn hoặc đăng ký nhận cha, con là không được ủy quyền. Khi ủy quyền, nếu ủy quyền cho bố, mẹ, anh, chị, em ruột thịt thì không cần làm văn bản ủy quyền chỉ cần đem giấy tờ chứng minh quan hệ; nếu ủy quyền cho người không có quan hệ huyết thống thì phải có giấy ủy quyền.

Vì vậy trường hợp bạn nói, chồng bạn bị cơ quan từ chối với lý do không chấp nhận người làm giúp là không đúng.

1.2. Thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

+ Giấy tờ cần nộp gồm có:

- Tờ khai xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân;

- Chứng minh nhân dân

+ Hồ sơ nộp đến UBND xã nơi cư trú, trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Như bạn trình bày, chồng bạn từ nhỏ đã không ở quê gốc, tuy nhiên chồng bạn vẫn đang có hộ khẩu ở quê. Nên theo quy định trên thì chồng bạn có trách nhiệm phải xin xác nhận tình trạng hôn nhân ở các nơi đã thường trú, trong đó có địa phương cũ đã từng cư trú; nếu không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

1.3. Thủ tục đăng ký thường trú:

Trường hợp của chồng bạn, trước tiên sẽ phải làm thủ tục xin giấy chuyển khẩu tại địa phương đang có hộ khẩu; sau đó sẽ làm thủ tục đăng lý thường trú tại nơi ở mới.

+ Đăng ký chuyển khẩu:

Người có nhu cầu chuyển nơi thường trú nộp: sổ hộ khẩu và phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu cho Công an huyện nơi đang thường trú.

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải cấp giấy chuyển hộ khẩu cho công dân.

+ Đăng ký thường trú: Người có nhu cầu đăng ký thường trú nộp hồ sơ gồm:

Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;

Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;

Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở... nếu có nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình; hợp đồng thuê nhà hoặc văn bản đồng ý cho ở nhờ của chủ sở hữu nhà nếu nhà đang ở là nhà đi thuê, ở nhờ...

Hồ sơ nộp đến Công an xã/ phường. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

2. Có thể xin giấy độc thân ở nước ngoài không ?

Cho tôi hỏi là bạn trai tôi là người có quốc tịch Úc. Muốn về Việt Nam đăng ký kết hôn, nhưng khi bạn trai tôi về đây không mang theo giấy chứng nhận độc thân do Úc cấp. Hiện tại bạn trai tôi còn đang ở Việt Nam. Vậy cho tôi hỏi là tôi có thể xin giấy chứng nhận độc thân do Úc cấp ở lãnh sự quán úc tại việt nam không ạ ? Xin cảm ơn.

Người gửi : Nguyễn Lê Hạnh D.

Trả lời:

Điều 30 Nghị định 123/2015/NĐ-CP có quy định về giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài như sau:

Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng;

Trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó.

Nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này và giấy xác nhận của tổ chức y tế theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Hộ tịch 2014 chỉ có giá trị 6 tháng, kể từ ngày cấp.

Hầu hết Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán của các nước tại quốc gia khác đều có thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nước mình tại quốc gia khác. Đối với một số quốc gia, họ không cấp giấy xác nhận tình trạng quan hệ, hôn nhân mà buộc công dân phải có bản tuyên thệ (Mỹ). Trường hợp của bạn, bạn trai là công dân Úc, hai bạn có thể gửi hồ sơ kết hôn đến Đại sứ quán Úc tại Hà Nội nếu như nơi cư trú gia đình của bạn tại Hà Nội (tức thuộc khu vực lãnh sự của Đại sứ quán Úc); còn nếu gia đình của bạn thuộc các tỉnh khác sẽ do Tổng Lãnh sự quán Úc tại TP Hồ Chí Minh thụ lý.

Đại sứ quán sẽ niêm yết công khai hồ sơ kết hôn tại Đại sứ quán và tại tòa thị chính bên Úc nơi bạn trai bạn cư trú. Sau khi niêm yết kết hôn và sau khi đã nhận được giấy xác nhận của tòa thị chính bên Úc về việc không có sự phản đối kết hôn, Đại sứ quán sẽ cấp cho bạn giấy xác nhận năng lực kết hôn và giấy xác nhận độc thân.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về xác nhận tình trạng độc thân trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

3. Đã kết hôn đi chứng nhận độc thân có vi phạm pháp luật ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê, chồng tôi kết hôn vào tháng 3-2008 nhưng vào ngày 02/02/2015 lại yêu cầu UBND Xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là độc thân để bổ sung giấy tờ hợp thức hóa nhà để cho vợ đứng tên một mình trên sổ đỏ và được cấp. Vậy cho tôi hỏi chồng tôi yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng độc thân trong khi đã kết hôn thì có vi phạm pháp luật không ?
Tại sao UBND Xã vẫn cấp ? Và hiện tại sổ đỏ nhà đã được cấp do tôi đứng tên thì về mặt pháp lý có hợp pháp không? Nếu xảy ra trường hợp ly hôn thì tôi cần phải làm giấy ly hôn như thế nào? (vì hiện tại Giấy đăng ký kết hôn vẫn còn mà chồng tôi lại xin được giấy độc thân). Chồng tôi nói chỉ cần đem giấy chứng nhận độc thân ra UBND Phường 12, Quận Gò Vấp, TP.HCM (nơi chúng tôi đăng ký kết hôn) để yêu cầu hủy giấy đăng ký kết hôn là được mà không cần gửi Đơn ly hôn đến Tòa Án Quận Gò Vấp có đúng không ?
Tôi đang gặp rắc rối trong vấn đề ly hôn. Xin Công ty trả lời thắc mắc của tôi. Xin cảm ơn!

>> Xem thêm:  Có phải ghi tên chồng sắp cưới vào giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ?

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng độc thân trong khi đã kết hôn thì có vi phạm pháp luật không?

Theo quy định của pháp luật thì trước ngày 1/1/2016 việc xác nhận độc thân do cơ quan nơi cư trú cuối cùng thực hiện. Người dân được cam kết về tình trạng độc thân của mình vào các khoảng thời gian trước đó. Như vậy, chồng bạn yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng độc thân trong khi đã kết hôn thì có vi phạm pháp luật vì bạn và chồng bạn vẫn chưa ly hôn nên chồng bạn phải chịu trách nhiệm trước cam kết không đúng với tình trạng hôn nhân thực tế.

Ngoài ra, vì do người dân cam kết về tình trạng hôn nhân của mình vào các khoảng thời gian trước đó nên việc UBND Xã vẫn cấp là không trái pháp luật.

Thứ hai, sổ đỏ nhà đã được cấp do bạn đứng tên thì về mặt pháp lý có hợp pháp không?

Vì thông tin bạn cung cấp không đầy đủ nên trường hợp căn nhà và mảnh đất là tài sản chung thì căn cứ vào Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung như sau:

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.

Như vậy, việc chỉ mình bạn đứng tên trên sổ hồng vẫn có giá trị pháp lý. Tuy nhiên nếu sau này hai vợ chồng bạn ly hôn thì chồng bạn vẫn có quyền đối với tài sản là mảnh đất và căn nhà này

Thứ ba, thủ tục ly hôn

Vấn đề ly hôn được quy định cụ thể tại Mục 1 Chương IV Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể tại các Điều 51, 53, 54, 55, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Theo những quy định trên thì khi tiến hành ly hôn bạn cần gửi Đơn ly hôn đến Tòa Án Quận Gò Vấp chứ không phải theo như chồng bạn nói là chỉ cần đem giấy chứng nhận độc thân ra UBND Phường 12, Quận Gò Vấp, TP.HCM (nơi các bạn đăng ký kết hôn) để yêu cầu hủy giấy đăng ký kết hôn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

4. Chưa ly hôn có thể xin giấy xác nhận độc thân được không?

Chào luật sư. Xin luật sư tư vấn cho tôi vấn đề sau. Em gái tôi ở đồng nai, lấy chồng ở bạc liêu, đăng kí kết hôn tại xã xuân quế - cẩm mỹ - đồng nai vào năm 2010. Sau khi sống và sinh con sinh năm 2011 tại đây gần 1 năm sau thì xé giấy đăng ký kết hôn và bỏ đi, đến nay đã 5 năm, anh ta không liên lạc và cũng không cấp dưỡng nuôi con. Đến nay khi em gái tôi ra xã xin giấy xác nhận độc thân để lấy chồng khác nhưng xa không cấp ?

Xin luật sư tư vấn dụm. Xin cám ơn.
- Sơn Lê

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Điều 9, Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.”

Vậy nếu em gái bạn và người chồng đã sinh sống tại Đồng Nai có giấy đăng ký kết hôn hợp pháp theo quy định trên nên em gái bạn và người chồng chưa ly hôn thì em gái bạn không thể xin giấy xác nhận độc thân để kết hôn với người khác được. Điều này là trái với quy định của pháp luật. Nếu chồng của em gái bạn đã xé giấy đăng ký kết hôn thì em gái bạn phải xin cấp lại bản sao giấy đăng ký kết hôn.

Vấn đề cấp lại bản sao giấy Đăng kí kết hôn được pháp luật quy định như sau:

Để được cấp lại bản sao giấy đăng kí kết hôn thì chị làm tiến hành như sau:

Căn cứ Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ- CP hướng dẫn luật hộ tịch về điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử quy định như sau:

Như vậy, theo quy định trên, để được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính (bản gốc), em gái bạn phải thực hiện việc đăng ký kết hôn lại. Tuy nhiên bạn cần đối chiếu xem có đáp ứng điều kiện đăng ký lại việc kết hôn là "Sổ hộ tịch và bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bị mất" hay không. Nếu bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bị xé nhưng sổ hộ tịch vẫn còn thì em gái bạn chỉ có thể xin cấp bản sao trích lục giấy tờ hộ tích. Việc cấp bản sao trích lục hộ tịch được quy định tại Điều 63, Điều 64 Luật Hộ tịch và Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP như sau:

Điều 63. Cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch đã đăng ký

Cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch của mình đã được đăng ký.

Điều 64. Thủ tục cấp bản sao trích lục hộ tịch

1. Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch trực tiếp hoặc thông qua người đại diện gửi tờ khai theo mẫu quy định cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

Trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đề nghị cấp bản sao trích lục hộ tịch của cá nhân thì gửi văn bản yêu cầu nêu rõ lý do cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

2. Ngay sau khi nhận được yêu cầu, nếu đủ điều kiện thì Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch cho người yêu cầu.

Điều 2. Quy định về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch

1. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú....

Sau khi đã xin được bản sao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì em gái bạn mới thực hiện được thủ tục ly hôn và chứng minh cuộc sống hôn nhân không đạt được (xảy ra mâu thuẫn, anh ta đã bỏ đi 5 năm và không quan tâm đến các con). Tuy nhiên, người chồng của em gái bạn đã bỏ đi 5 năm nên em gái bạn có thể làm đơn xin ly hôn đơn phương.

Về việc đơn phương ly hôn

Căn cứ Khoản 1, Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Và căn cứ tại Khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về Ly hôn theo yêu cầu của một bên thì :

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Như vậy, bạn có quyền được đơn phương xin ly hôn, không phụ thuộc vào việc chồng của em gái bạn có đồng ý hay không, theo những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi hiểu rằng em gái bạn đang rất mong muốn đơn phương ly hôn, tuy nhiên chỉ cần có căn cứ về việc hành vi của người chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài hoặc mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho em gái bạn.

Sau khi đã ly hôn thì em gái bạn có thể xin giấy chứng nhận độc thân.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

5. Thủ tục đăng ký công hàm độc thân được không ?

Xin chào luật sư ! Em có một số thắc mắc nhờ luật sư giải đáp và tư vấn giúp: Em là Việt Kiều Canada, Tháng 6/2015 vừa qua em vừa về Việt Nam đăng kí kết hôn (em quen người này qua giới thiệu). Vừa kết hôn xong em phát hiện người này đã có người yêu và đang lừa dối em nên em liền làm giấy ly hôn. Em đang trong thời gian chờ đợi Toà Án phán xét vì là đơn phương ly hôn (người ta không đồng ý kí). Em chỉ mới đăng kí kết hôn ở Việt Nam thôi, chưa đăng kí tại Canada. Nay em quen được 1 người khác và muốn kết hôn với người này.

Vậy cho em hỏi :

Trong lúc chờ đợi kết quả ly hôn của Toà Án ở Việt Nam thì ở bên Canada em có thể đi làm lại giấy công hàm độc thân được không? Em dự định tháng 12/2015 sẽ về lại Việt Nam nên em muốn tranh thủ thời gian đi làm và đem về luôn. Rồi khi có được kết quả em đi làm đăng ký kết hôn lại. Em có hỏi ở bên Canada ,người ta bảo vẫn có thể làm công hàm độc thân được nhưng sợ ảnh hưởng bên phía Việt Nam về vấn đề kết hôn và bão lãnh sau này?

Xin Luật sư tư vấn và giải đáp giúp em. Em xin chân thành cám ơn. Rất mong nhận được hồi âm.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi :1900.6162

Trả lời:

Được biết bạn đang trong quá trình chờ Tòa án giải quyết quá trình đơn phương ly hôn của mình và bạn muốn biết ở bên Canada bạn có thể đi làm lại giấy công hàm độc thân được không. Chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất , Do bạn đang trong quá trình chờ đợi Tòa án giải quyết ly hôn đơn phương, bạn cần phải chờ đợi phán quyết ly hôn của Tòa án Việt Nam thì mới làm được công hàm độc thân như bạn muốn. Vì đó là một trong những giấy tờ quan trọng cho phần ghi chú ly hôn của bạn trong quá trình xin công hàm độc thân.

Thứ hai, Bộ Công hàm độc thân là giấy tờ dùng để chứng minh người bên Canada vẫn còn trong tình trạng độc thân và có đủ tiêu chuẩn để kết hôn với người Việt Nam.Công dân Canada khi về Việt Nam cưới vợ và đăng ký kết hôn bắt buộc phải có bộ Công hàm độc thân. Nếu đã từng ly hôn thì phải có thêm bộ Ghi chú ly hôn. Ngoài ra công dân nước ngoài có nguồn gốc Việt ( Việt Kiều ) cần xin Giấy Xác Nhận Tình Trạng Hôn Nhân do Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam tại Canada . Như vậy mới có một công hàm độc thân hoàn chỉnh.

Theo bạn cung cấp , bên Canada ,người ta bảo vẫn có thể làm công hàm độc thân được nhưng sợ ảnh hưởng bên phía Việt Nam về vấn đề kết hôn và bão lãnh sau này.Theo pháp luật Việt Nam quy định như sau: Nếu bạn là Việt Kiều Canada và mang quốc tịch Canada thì thẩm quyền xác nhận tình trạng hôn nhân của bạn phải do cơ quan có thẩm quyền Canada xác nhận. Nếu bạn đang ở Canada thì có thể xin ngay tại cơ quan có thẩm quyền nơi bạn sinh sống còn nếu bạn đang ở Việt Nam và muốn xin công hàm độc thân thì bạn có thể đến Đại sứ quán Canada tại Thành phố Hà Nội hoặc Tổng lãnh sự quán Canada tại Việt Nam ở Thành phố HCM.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ?