1. Thế nào là người thành niên?

Khoản 1 Điều 20 Bộ luật dân dự quy định: “Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên”.

Đó là những người đã đến tuổi trưởng thành từ 18 tuổi tròn trở lên. Cá nhân khi đủ mười tám tuổi tròn (tính theo ngày, tháng), còn phải là người khỏe mạnh, có trí tuệ phát triển bình thường; không bị mắc các bệnh tâm thần, mất trí, không bị Toà án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi... Nghĩa là, cá nhân đó có đủ khả năng để nhận thức việc mình làm, đủ khả năng để làm chủ được hành vi của mình.

2. Năng lực hành vi dân sự của người thành niên.

Những người từ đủ mười tám tuổi (tính theo ngày tròn) được suy đoán là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Những cá nhân này là những chủ thể có đầy đủ tư cách chủ thể và có thể tham gia vào các quan hệ dân sự độc lập.

Khoản 2 Điều 20 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này”.

Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

Điều 23. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

2. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Điều 24. Hạn chế năng lực hành vi dân sự

1. Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

2. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

3. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Theo quy định trên đây, người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là những cá nhân có đầy đủ tư cách chủ thể và có thể tham gia vào các quan hệ dân sự với tư cách là chủ thể độc lập.

Đốí với những trường hợp là những người đã đến tuổi trưởng thành từ 18 tuổi tròn trở lên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc đó là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì chưa được coi là người thành niên. Các chủ thể này khi tham gia vào các quan hệ dân sự phải có những điều kiện nhất định: được sự đồng ý hoặc phải có người giám hộ.

>> Xem thêm:  Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của các nhân ? Mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự

3. Thế nào là người chưa thành niên?

Theo khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi."

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 21 trên đây, nhà làm luật đã dựa vào độ tuổi, vào sự phát triển về tâm sinh lý của con người để quy định về người chưa thành niên. Sự phát triển dần hoàn thiện cả về thể chất và trí tuệ của con người dựa vào độ tuổi, ở mỗi độ tuổi khác nhau (giữa người thành niên và chưa thành niên) thì có sự nhận thức khác nhau; từ đó có khả năng thực hiện những hành vi ở mức độ khác nhau. Do đó, một người dù khoẻ mạnh, có trí tuệ phát triển bình thường; không bị mắc các bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nhưng chưa đủ 18 tuổi, được coi là người chưa thành niên.

Tuổi trưởng thành của con người là độ tuổi cụ thể được pháp luật quy định hoặc thừa nhận là người đã thành niên và đã có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Trái lại, người chưa đến tuổi trưởng thành là chưa thành niên - chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật.

4. Giao dịch dân sự do người dưới 15 tuổi thực hiện.

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 thì:

2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

- Trẻ em chưa đủ sáu tuổi thì không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Mọi quan hệ dân sự do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. Người dưới 6 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý, nhận thức còn hạn chế nên những người này không có khả năng để hành động một cách đúng đắn theo ý chí của mình, không có đủ khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Do đó, mọi giao dịch dân sự của những người này đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập và thực hiện. Theo quy định của pháp luật dân sự những cá nhân trên vẫn có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự.

- Những người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi, không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh lý khác dẫn đến tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình là người có năng lực hành vi dân sự nhưng chưa đầy đủ. Những người này không bị Tòa án, (theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan) tuyên bố bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi thì cá nhân đã có những nhận thức, hiểu biết nhất định nhưng chưa đầy đủ nhưng người từ đủ 18 tuổi trở lên.

Những người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi tham gia các giao dịch dân sự, pháp luật dân sự đã cho phép họ có thể tham gia xác lập, thực hiện một số giao dịch dân sự nhất định.

Ví dụ các giao dịch có giá trị nhỏ như mua sách vở, bút viết, mua thức ăn, đồ chơi... nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày.

>> Xem thêm:  Thủ tục huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự

5. Giao dịch dân sự do người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện.

Theo khoản 4 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 thì:

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

Như vậy, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Nhưng đối với các giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Pháp luật quy định như vậy vì bất động sản, động sản phải đăng ký thường là những tài sản có giá trị lớn nên với nhận thức, hiểu biết ở độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể không lường trước được những rủ ro có thể xảy ra.

Những người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi nếu có tài sản riêng, đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Tuy nhiên, khi phải chịu trách nhiệm về tài sản mà tài sản riêng của người đó không đủ thanh toán, chi trả thì cha mẹ phải bổ sung cho đủ. Đối với người giám hộ không phải là cha, mẹ thì họ có những nghĩa vụ theo quy định tại Điều 52 Bộ luật dân sự năm 2015. Người giám hộ trong trường hợp này sẽ là người đại diện cho người được giám hộ, trừ trường họp pháp luật có quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự như đã nêu ở trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

>> Xem thêm:  Không thực hiện cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn phải giải quyết như thế nào?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi gây ra?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự:

Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.

Câu hỏi: Nếu người trên 15 tuổi đến dưới 18 tuổi gây thiệt hại thì ai phải bồi thường?

Trả lời:

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. (Khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự).

Câu hỏi: Người chưa thành niên gây thiệt hại nhưng không có bố mẹ thì ai phải bồi thường?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 586 Bộ luật dân sự:

"Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.