Ví dụ: Trong tố tụng dân sự, chứng cứ được thu, nhận từ đương sự, người làm chứng, đồ vật và các tài liệu có chứa đựng các tin tức về vụ việc dân sự.

1. Nguồn chứng cứ là gì ?

Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng cứ, tức chứa đựng các thông tin tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguồn chứng cứ thường được gọi bằng thuật ngữ khác là phương tiện chứng minh.

Theo quy định của Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì chứng cứ được xác định bằng các nguồn là vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử, kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác.

2. Vật chứng là gì ? Khái niệm vật chứng

Vật chứng là vật thể được thu thập theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình Sự quy định chứa đựng các thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Theo Điều 89 BLTTHS năm 2015, vật chứng bao gồm:

- Vật được dùng làm công cụ, phưong tiện phạm tội. Đây là những vật dùng tác động lên đối tượng tội phạm để thực hiện tội phạm như dao, gậy, súng... (công cụ phạm tội) hoặc hỗ trợ cho việc thực hiện tội phạm như phương tiện giao thông, thông tin liên lạc (phương tiện phạm tội)...;

- Vật mang dấu vết tội phạm như vết máu, dấu vân tay, dấu giày, dấu cạy phá...;

- Vật là đối tượng của tội phạm mà thông qua việc tác động vào vật đó người phạm tội gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nhất định. Ví dụ: Tài sản bị chiếm đoạt, giấy tờ giả, tiền giả, các loại matuý...;

- Tiền và vật khác không thuộc các loại trên nhưng có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội.

>> Xem thêm:  Quy định mới về công bố các tài liệu, chứng cứ của vụ án dân sự ?

Đặc điểm cơ bản của vật chứng thể hiện ở chỗ đây là những vật ở dạng vật chất, được nhận thấy qua các giác quan của con người. Vì vậy, tính khách quan của vật chứng rất cao nhưng cũng rất dễ bị tác động của các điều kiện tự nhiên làm thay đổi; dễ bị làm giả, làm sai lệch ...

2.1 Thu thập, bảo quản vật chứng

Do các đặc điểm trên nên bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thủ tục thu thập và niêm phong, bảo quản vật chứng rất cụ thể, chặt chẽ. Vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng khi thu thập để đưa vào hồ sơ vụ án. Đối với vật chứng không thể đưa vào hồ sơ thì phải chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Việc thu thập vật chứng phải được lập biên bản.

Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn và hư hỏng. Mục đích chính của việc bảo quản là bảo vệ giá trị chứng minh của chứng cứ; đồng thời bảo quản cũng nhằm bảo vệ giá trị vật chất của vật chứng. Trình tự, thủ tục bảo quản các loại vật chứng khác nhau được quy định cụ thể tại Điều 90 BLTTHS năm 2015 như sau:

- Vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án; việc niêm phong, mở niêm phong được thực hiện theo quy định của Chính phủ;

- Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách khác. Nếu vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ lim dấu vết của tội phạm thì tiến hành niêm phong theo quy định; vật chứng là vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu và các mẫu vật khác của cơ thể người được bảo quản tại cơ quan chuyên trách theo quy định của pháp luật;

- Vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lí họp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;

- Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại Kho bạc nhà nước đế quản lí;

- Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan công an nhân dân, quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Trách nhiệm bảo quản vật chứng thuộc về cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án (đối với vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng), cơ quan chuyên trách (đối với tài sản, vật đặc biệt), cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi có vật chứng (trường hợp không đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan chuyên trách không bảo quản). Những người được giao tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường, kỉ luật hoặc trách nhiệm hình sự nếu để vật chứng bị phá niêm phong, hư hỏng, mất mát, phá huỷ... (khoản 1 Điều 90 BLTTHS nam 2015).

2.2 Xử lí vật chứng như thế nào ?

Việc xử lí vật chứng được quy định tại Điều 106 BLTTHS năm 2015. Tuỳ theo tính chất của vật chứng và giai đoạn tố tụng, thẩm quyền xử lí vật chứng thuộc về cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án. Cụ thể:

>> Xem thêm:  Chứng cứ là gì ? Phân tích thuộc tính của chứng cứ trong vụ việc dân sự

- Nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra hoặc xét thấy việc xử lí vật chứng là cấp thiết và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì cơ quan điều tra quyết định xử lí vật chứng;

- Nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố hoặc xét thấy việc xử lí vật chứng là cấp thiết và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì viện kiểm sát quyết định xử lí vật chứng;

- Toà án quyết định xử lí vật chứng ở giai đoạn xét xử.

Vật chứng được xử lí bằng các biện pháp sau:

- Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;

- Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;

- Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẳm quyền quy định tại khoản 1 Điều 106 BLTTHS năm 2015 có quyền:

- Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp tài sản đó;

- Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lí vụ án và thi hành án;

>> Xem thêm:  Uỷ thác thu thập chứng cứ là gì ? Nghiên cứu chứng cứ là gì ? Quy định về đánh giá chứng cứ

- Vật chửng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;

- Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lí chuyên ngành có thẩm quyền xử lí theo quy định của pháp luật.

3. Lời khai, lời trình bày

Lời khai, lời trình bày của người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người tố giác, người chứng kiến, người bị giữ, bị tố giác, người bị bắt, bị can, bị cáo cũng là những nguồn chứng cứ quan trọng.

Đặc điểm chung của lời khai thể hiện các thông tin về vụ án được lưu giữ trong ý thức của người tham gia tố tụng. Vì vậy, các thông tin đó được thu thập thông qua lời khai, lời trình bày của người tham gia tố tụng.

Do được lưu giữ trong ý thức chủ quan của con người cho nên tính khách quan của lời khai dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó là:

- Ảnh hưởng bởi các hoàn cảnh khách quan (thời gian, thời tiết...) hoặc năng lực tâm, sinh lí chủ quan của con người (trạng thái tâm lí, khả năng thị giác, thính giác, khả năng nhận thức, trí nhớ...) khi thu nhận, lưu giữ thông tin hoặc cung cấp lời khai;

- Ảnh hưởng bởi lợi ích, mối quan hệ của người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự. Do lợi ích, mối quan hệ xã hội khác nhau mà người cung cấp lời khai có thể vô tình hay hữu ý làm sai lệch những thông tin mà người đó biết được về vụ án.

Lời khai của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án; không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội (Điều 98 BLTTHS năm 2015).

Những tình tiết mà người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày không được dùng làm chứng cứ nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó (các điều 91,92, 93, 94 BLTTHS năm 2015).

>> Xem thêm:  Bảo quản chứng cứ như thế nào ? Quy định pháp luật về bảo vệ chứng cứ

3.1 Lời khai của người làm chứng

Người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án được triệu tập để làm chứng. Trong lời khai cùa minh, người làm chứng trình bày những gì họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị bị buộc tội, bị hại (theo quy định tại Điều 91 BLTTHS).

Để có cơ sở cho việc đánh giá chính xác, khách quan lời khai của người làm chứng, BLTTHS quy định người làm chứng phải khai báo về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác. Trong những trường hợp cần thiết người tiến hành tố tụng cũng phải làm rõ các đặc điểm về tâm, sinh lí của người làm chứng.

Khi thu thập, đánh giá lời khai của người làm chứng cân chú ý các điểm sau:

- Trong một vụ án có thể có một hoặc nhiều người làm chứng với những khả năng nhận thức, trạng thái tâm sinh lí, mối quan hệ khác nhau. Lời khai của họ rất dễ tác động lẫn nhau, ảnh hưởng đến tính khách quan của lời khai đó. Vì vậy, cần tiến hành cách li người làm chứng khi lấy lời khai (khoản 2 Điều 186, khoản 1 Điều 311 BLTTHS năm 2015).

- Cân nhắc đặc điểm tâm sinh lí, khả năng nhận thức, tiếp nhân thông tin của người làm chứng. Khi lấy lời khai của người làm chứng dưới 18 tuổi phải có mặt của người đại diện. Trường hợp nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo của người làm chứng thì trang cầu giám định để xác định tình trạng tâm thần của người đó (Điều 206 BLTTHS năm 2015).

- Xuất xứ thông tin mà người làm chứng biết được: Do trực tiếp chứng kiến vụ án, trực tiếp biết được tình tiết liên quan đến vụ án hay được nghe kể lại (chứng cứ thuật lại) để từ đó có biện pháp thu thập thêm chứng cứ, kiểm tra, đánh giá hợp lí. Không được dùng làm chứng những tình tiết người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

- Cân nhắc mối quan hệ của họ với người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khác. Thông thường tính chất mối quan hệ này ảnh hưởng đến tính chính xác, khách quan của các thông tin mà người làm chứng cung cấp. cần giải thích cho người làm chứng biết rằng hành vi từ chối khai báo, từ chối cung cấp các tình tiết mà họ biết về vụ án cũng như cố tình khai báo sai sự thật có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 (các điều 382, 383).

3.2 Lời khai của bị hại

Trong lời khai cùa mình, bị hại trình bày những tình tiết về nguồn tin về tội phạm, vụ án, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội và trả lời những câu hỏi đặt ra. Tuỳ theo các trường hợp phạm tội khác nhau, các tội phạm khác nhau mà phạm vi các tình tiết của vụ án bị hại biết được cũng khác nhau. Ví dụ: BỊ hại trong vụ án trộm cắp tài sản chỉ biết về đối tượng của tội phạm mà không biết được sự việc phạm tội; trái lại, bị hại trong vụ án cố ý gây thương tích thường biết rất rõ về sự việc phạm tội ... theo quy định tại Điều 92 BLTTHS.

Đe có cơ sở cho việc đánh giá chính xác, khách quan lời khai của bị hại, BLTTHS quy định bị hại phải khai báo về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội.

Khi thu thập, đánh giá lời khai của bị hại cần chú ý các đỉểm sau:

>> Xem thêm:  Phân loại chứng cứ như thế nào ? Nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự ? Cho ví dụ ?

- Cân nhắc đặc điểm tâm sinh lí, khả năng nhận thức, tiếp nhận thông tin của bị hại. Trường hợp nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo của bị hại thì trưng câu giám định để xác định tình trạng tâm thần của người đó (Điều 206 BLTTHS năm 2015). Là người bị tội phạm gây thiệt hại, nhiều trường hợp bị hại tiếp nhận thông tin về vụ án trong trạng thái tâm thần xúc động, mất bình tĩnh. Người bị gây thiệt hại về sức khoẻ, về tinh thân cũng có thể bị ảnh hưởng về thể chất hoặc tâm thần khi khai báo, làm cho tính chính xác, khách quan của lời khai bị ảnh hưởng V.V..

- Xuất xứ thông tin mà bị hại biết được. Không được dùng làm chứng những tình tiết bị hại trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

- Cân nhắc mối quan hệ của họ với người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Thông thường bị hại khai báo với cơ quan tiến hành tố tụng theo hướng buộc tội đối với người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Việc buộc tội này biểu hiện ở hai mặt: cung cấp chứng cứ buộc tội và không cung cấp chứng cứ gỡ tội mà họ biết được. Vì vậy, khi lấy lời khai của bị hại cần làm thế nào để người bị hại khai báo toàn bộ các tình tiết của vụ án mà họ biết, kể cả chứng cứ buộc tội, cả chứng cứ gỡ tội.

- Trong trường hợp bị hại là cơ quan, tổ chức thì lời khai do người đại diện theo pháp luật hoặc người được uỷ quyền cung cấp.

3.3 Lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trình bày những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày về những tình tiết liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ (theo quy định của các điều 93, 94 BLTTHS năm 2015)

Đặc điểm lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thể hiện ở chỗ:

- Phạm vi khai báo của họ chỉ là những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại (nếu họ là nguyên đơn dân sự, bị đon dân sự) hoặc những tình tiết liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ (nếu họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án);

- Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trong trường hợp họ là cơ quan, tổ chức thì lời khai do người đại diện theo pháp luật hoặc người được uỷ quyền cung cấp.

Những đặc điểm nêu trên đòi hỏi khi thu thập, đánh giá lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cần chú ý một số vấn đề sau:

- Phạm vi trình bày của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng­ười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ hạn chế về các tình tiết liên quan đến bồi thường thiệt hại hoặc liên quan đến quyền, nghĩa vụ liên quan. Nếu những người này khai báo về các tình tiết khác của vụ án thì họ tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng;

>> Xem thêm:  Thu thập chứng cứ trong vụ án, vụ việc dân sự như thế nào ?

- Thẩm quyền của người đại diện cho cơ quan, tổ chức khi khai báo;

- Phương pháp thu thập chứng cứ từ nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án còn có thể là yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu.

3.4 Lời khai của người bị giữ, người bị bắt, tạm giam, tin báo

Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người phạm tội tự thú, đầu thú, người bị bắt, người bị tạm giữ (Điều 95 BLTTHS 2015); người tố giác, báo tin về tội phạm (Điều 96 BLTTHS 2015); người chứng kiến (Điều 97 BLTTHS 2015).

- Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người tự thú, đầu thú, người bị bắt, người bị tạm giữ trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm.

- Người tố giác, báo tin về tội phạm, người chứng kiến trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ tố giác, báo tin về tội phạm, chứng kiến trong hoạt động tố tụng.

3.5 Lời khai của bị can, bị cáo

Theo quy định tại điều 98, bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì lời khai của bị can, bị cáo có những đặc điểm sau:

- Bị can, bị cáo khai báo vê tất cả các tình tiết của vụ án;

- Ngoài việc cung cấp lời khai như là chứng cứ, việc khai báo của bị can, bị cáo là biện pháp để họ thực hiện quyền tự bào chữa theo quy định của pháp luật. Pháp luật không truy cứu trách nhiệm đối với hành vỉ từ chối khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối của họ. Vì vậy, thông thường bị can, bị cáo cung cấp chứng cứ gỡ tội và không khai báo các chứng cứ buộc tội;

- Khai báo là quyền chứ không phải nghĩa vụ của bị can, bị cáo...

Những đặc điểm nêu trên đòi hỏi phải chú ý khi thu thập, đánh giá lời khai của bị can, bị cáo như sau:

>> Xem thêm:  Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự ?

- Cần động viên, khuyến khích bị can, bị cáo khai báo trung thực về các tình tiết của vụ án. cần giải thích cho họ biết rằng thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;

- Để bảo đảm tính khách quan của lời khai bị can, bị cáo và bảo đảm quyền bào chữa của họ, BLTTHS quy định chỉ coi lời nhận tội cùa bị can, bị cáo là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Vì vậy, lời khai của họ phải được phân tích, xem xét kĩ lưỡng, so sánh với các chứng cứ, tài liệu khác trong vụ án để đánh giá cho chính xác;

- Khi thu thập, kiểm tra, đánh giá lời khai của bị can, bị cáo cần chú ý thái độ ăn năn hối cải hay không của họ để có biện pháp thu thập, kiểm tra đầy đủ, đánh giá chính xác, khách quan. Tuyệt đối không được sử dụng biện pháp trái pháp luật để lấy lời khai như bức cung, dùng nhục hình V.V..

4. Dữ liệu điện tử

- Dữ liệu điện tử là kí hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử (Điều 99 BLTTHS năm 2015).

- Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác. Vì vậy, phương pháp thu thập dữ liệu điện tử rất phong phú, đa dạng như khám xét (Điều 192 BLTTHS năm 2015), thu giữ phương tiện, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín (các điều 196, 197 BLTTHS năm 2015)...

- Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác. Vì vậy, việc đánh giá chứng cứ là dữ liệu điện tử cần có sự hỗ trợ của các chuyên gia công nghệ thông tin; cần trưng cầu giám định về tin học.

5. Kết luận giám định, định giá tài sản

5.1 Kết luận giám định

Theo quy định tại diều 100, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì:

- Kết luận giám định là văn bản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân thể hiện kết luận chuyên môn về những vấn đề khoa học, kĩ thuật liên quan đến vụ án hình sự được trựng cầu, yêu cầu giám định.

>> Xem thêm:  Chứng cứ là gì ? Các đặc điểm của chứng cứ ? Các thuộc tính của chứng cứ ?

Việc giám định có thể do một người hoặc một nhóm người tiến hành. Nếu do một nhóm người tiến hành thì kết luận giám định là văn bản kết luận chung; nhưng nếu có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi ý kiến kết luận riêng vào văn bản kết luận chung.

Phạm vi kết luận giám định được giới hạn trong quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu giám định. BLTTHS năm 2015 quy định các trường hợp bắt buộc phải giám định (Điều 206) và những trường hợp giám định mà cơ quan tiến hành tố tụng thấy cần thiết hoặc đương sự yêu cầu.

Những vấn đề cần chú ý khi đánh giá kết luận giám định:

- Kết luận giám định là sự đánh giá khẳng định của người có trinh độ chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kĩ thuật. Kết luận giám định có giá trị chứng minh cao. Trong trường hợp khi so sánh với các chứng cứ khác, nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận giám định thì phải nêu rõ lí do; trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh những vấn đề mới liên quan dến những tình tiết của vụ án đã được kết luận trước đó thì tiến hành giám định bổ sung; trường hợp có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề thì tiến hành giám định lại bằng người giám định khác (khoản 3 Điều 100, cac điều 210, 211,212 BLTTHS năm 2015).

- Trong trường hợp việc giám định do một nhóm người tiến hành thì kết luận giám định được thể hiện bằng văn bản kết luận chung. Nếu có ý kiến khác nhau thì mỗi người giám định đều có kết luận riêng của mình trong văn bản kết luận giám định chung. Điều này giúp cho cơ quan tiến hành tó tụng cân nhắc, đánh giá độc lập, khách quan về đối tượng giám định.

- Để đảm bảo cho việc đánh giá kết luận giám định được chính xác, khách quan, BLTTHS quy định cụ thể nội dung bản kết luận giám định. Đe làm sáng tỏ hoặc bổ sung nội dung kết luận giám định, cơ quan trưng cầu giám định, người yêu cầu có quyền yêu cầu giải thích kết luận giám định; hỏi thêm người giám định (khoan 3 Điều 213 BLTTHS năm 2015).

Bị can, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác có quyền có ý kiến của minh về kết luận giám định, đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại (khoản 3 Điều 214 BLTTHS năm 2015).

5.2 Kết luận định giá tài sản

Theo quy định tại điều 101, bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì:

- Kết luận định giá tài sản là văn bản do hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu.

Hội đồng định giá tài sản kết luận giá của tài sản và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó. Trường hợp không đồng ý với giá của tài sản do hội đồng quyết định thì thành viên của hội đồng ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận. Ket luận định giá của Hội đồng định giá tài sản vi phạm quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật về định giá thì không có giá trị pháp lí và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.

>> Xem thêm:  Chứng minh trong tố tụng hình sự là gì ? Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự ?

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận định giá tài sản thì phải nêu rõ lí do; nếu kết luận chưa rõ thì quyết định định giá lại theo thủ tục chung quy định tại BLTTHS.

- Kết luận định giá tài sản phải ghi rõ kết luận về giá của tài sản theo nội dung yêu cầu định giá và cạc nội dung khác theo quy định của pháp luật.

Để làm sáng tỏ nội dung kết luận định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá tài sản có quyền yêu cầu hội đồng định giá tài sản giải thích kết luận định giá; hỏi thêm hội đồng định giá tài sản về những tình tiết cần thiết (Điều 221 BLTTHS năm 2015).

6. Biên bản trong hoạt động khởi tổ, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án

Các hoạt động tố tụng trong điều tra và xét xử vụ án hình sự như bắt người, giữ người, khám xét, khảm nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, tiến hành phiên toà và các hoạt động tố tụng khác (thu giữ tài liệu, điện tín, điện báo, xem xét dấu vết trên thân thể...) thực hiện theo quy định của pháp luật đều phải lập thành biên bản. Những tình tiết được ghi trong các biên bản đó có thể được coi là chứng cứ (Điều 102 BLTTHS năm 2015).

Để được coi là chứng cứ, tức thoả mãn các thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp, biền bản hoạt động tố tụng phải được thực hiện một cách khách quan, thể hiện toàn bộ diễn biến của hoạt động tố tụng, theo đúng các hình thức, thủ tục được pháp luật quy định (Điều 133 BLTTHS năm 2015).

7. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác

Kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp và họp tác quốc tế khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án (Điều 103 BLTTHS năm 2015).

Tài liệu, đồ vật do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập theo ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc tài liệu, đồ vật do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài gửi đến Việt Nam để uỷ thác truy cứu trách nhiệm hình sự có thể được coi là chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ vật này có đầy đủ đặc điểm của vật chứng theo quy định tại Điều 89 của BLTTHS thi có thể được coi là vật chứng (Điều 494 BLTTHS năm 2015).

8. Các tài liệu, đồ vật khác

>> Xem thêm:  Cách thức phân loại chứng cứ trong tố tụng hình sự ? Cho ví dụ ?

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cung cấp các tài liệu cũng như đồ vật cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ngoài các tài liệu, đồ vật là vật chứng theo quy định tại Điều 89 BLTTHS năm 2015, các tình tiết được ghi nhận, thể hiện trong các tài liệu, đồ vật đó nếu phù hợp với thực tế, liên quan đến vụ án, được thu thập theo quy định của pháp luật (tức có đầy đủ đặc tính của chứng cứ) có thể được coi là chứng cứ (Điều 104 BLTTHS năm 2015).

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về chứng cứ, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân tích quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự ? Cho ví dụ ?