Thưa luật sư, theo tôi được biết, giải thích pháp luật là một trong những hoạt động có ý nghĩa quan trọng và vô cùng cần thiết trong thực tiễn áp dụng và thực thi. Vậy để đảm bảo giải thích pháp luật đạt được hiệu quả thì phải tuân thủ những nguyên tắc nào? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Huy Giang - Hải Phòng

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Giải thích pháp luật là gì?

Giải thích pháp luật là một yêu cầu tất yếu đối với bất cứ hệ thống pháp luật nào trên thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Giải thích pháp luật được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm rõ nội dung một hoặc một số quy phạm nào đó của pháp luật thành văn để việc áp dụng, tuân thủ, chấp hành pháp luật trong một trường hợp cụ thể được được thực hiện một cách thống nhất.

2. Giải thích pháp luật nhằm mục đích gì?

Giải thích pháp luật nhằm hướng tới hai mục đích.

>> Xem thêm:  Quan hệ pháp luật là gì ? Đặc điểm, phân loại quan hệ pháp luật

Thứ nhất, thông qua mục tiêu trực tiếp là làm sáng tỏ những nội dung chưa được hiểu thống nhất của các quy phạm pháp luật, công tác giải thích pháp luật nhằm mục đích xoá đi ngăn cách giữa pháp luật thành văn với thực tiễn. Nó là cầu nối để các quy phạm pháp luật thành văn còn mập mờ chưa rõ nghĩa được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ trong thực tiễn.

Thứ hai, công tác giải thích pháp luật nhằm mục đích hoàn thiện công tác lập pháp. Sản phẩm của công tác lập pháp là các văn bản quy phạm pháp luật mà trước hết là các đạo luật, trong đó tất yếu sẽ có những quy phạm pháp luật đa nghĩa hoặc không rõ nghĩa. Qua hoạt động giải thích pháp luật, nội dung của những quy phạm đó sẽ được làm sáng tỏ; đồng thời, lỗ hổng của những quy phạm pháp luật, mà cụ thể là chính những điểm chưa rõ nghĩa hoặc những đối tượng chưa bao trùm hết của quy phạm pháp luật đó, sẽ được phát hiện. Việc tổng kết hoạt động và nội dung giải thích pháp luật một cách có hệ thống sẽ phục vụ đắc lực cho việc bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật thành văn, qua đó giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung.

3. Các nguyên tắc giải thích pháp luật

Những phân tích trên đây cho thấy đối với bất kỳ hệ thống pháp luật nào, giải thích pháp luật là công việc nhạy cảm, liên quan trực tiếp tới lợi ích và mối quan hệ của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau. Để bảo đảm giải thích pháp luật phát huy tác dụng tích cực, tức là vừa có vai trò xóa đi cách biệt giữa pháp luật thành văn và thực tiễn vừa có vai trò hỗ trợ hoàn thiện công tác lập pháp, hoạt động giải thích pháp luật thường phải tuân thủ một số nguyên tắc phổ quát sau đây.

3.1. Nguyên tắc tôn trọng sự trong sáng ngôn ngữ của quy phạm

Như đã đề cập, giải thích pháp luật phát sinh khi ngôn ngữ của một điều khoản luật có thể gây ra những cách hiểu hợp lý khác nhau. Thông thường nếu ngôn ngữ của một điều khoản luật đã đủ trong sáng và đơn nghĩa thì ít có nhu cầu giải thích. Tuy nhiên, mỗi quy phạm pháp luật đều có phần giả định cụ thể; và ngôn ngữ của quy phạm đó, đặc biệt là phần quy định, bị ràng buộc trong khung cảnh do phần giả định đó đặt ra. Vì vậy, nguyên tắc này yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật không được làm thay đổi nội dung của quy phạm thông qua hoạt đông giải thích. Nếu ngôn ngữ của điều khoản luật đã đủ trong sáng và đơn nghĩa thì phải tuyệt đối tuân theo và sự giải thích thêm chỉ là tối thiểu. Cơ quan có thẩm quyền sẽ chỉ giải thích những thuật ngữ, khái niệm chưa rõ ràng hoặc đa nghĩa. Nói một cách khác, nếu toà án có thẩm quyền giải thích pháp luật và trong câu văn của quy phạm không có điều gì là chưa rõ nghĩa theo cách hiểu thông thường thì công việc còn lại của tòa án chỉ là áp dụng điều khoản đó chứ không cần phải giải thích nó.

Do hoạt động giải thích pháp luật được coi là hoạt động kéo dài và hỗ trợ cho hoạt động lập pháp và nguyên tắc này thể hiện sự tuyệt đối tuân thủ quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành nên nó luôn được coi trọng nhất trong hoạt động giải thích pháp luật. Nó cũng được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động giải thích pháp luật ở các nước phát triển trên thế giới. Nó tương đồng với “quy tắc nghĩa trong sáng” (the plain meaning rule) ở Mỹ, “quy tắc nguyên nghĩa” (literal rule) ở Anh và “quy tắc giải thích ngữ pháp” (grammatical interpretation rule) ở Đức.

3.2. Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp

Đây cũng là một nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi trong thực tiễn giải thích pháp luật trên phạm vi quốc tế. Ở Mỹ, nguyên tắc này tương ứng với hai nguyên tắc là “Quy tắc mục đích điều chỉnh” (the mischief rule) và “quy tắc vàng” (the golden rule)[6]. Ở Đức, nó tương ứng với “quy tắc lịch sử” (historical rule) và “quy tắc tôn trọng mục đích lập pháp” (teleological rule).

Nguyên tắc này được áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành giải thích pháp luật đối với những quy phạm pháp luật và thuật ngữ trong quy phạm pháp luật có đa nghĩa hoặc nghĩa chưa sáng tỏ. Nó yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật phải tìm hiểu được và bám sát ý tứ và mục đích của cơ quan lập pháp khi ban hành ra quy phạm pháp luật. Vì vậy khi giải thích pháp luật, các tòa án không được quá xa rời tinh thần mà cơ quan lập pháp gửi gắm vào trong điều khoản luật.

>> Xem thêm:  Giải thích pháp luật là gì ? Khái niệm về giải thích pháp luật

Xu hướng thoát ra khỏi bộ khung ngữ nghĩa của quy phạm pháp luật là một xu hướng dễ nhận thấy trong bất kỳ hoạt động giải thích pháp luật nào. Xu hướng này có những khía cạnh tích cực vì nó cho phép tòa án kéo pháp luật trừu tượng xuống gần với thực tiễn của một vụ việc cụ thể và qua đó làm cho pháp luật theo kịp với sự vận động của thực tiễn. Tuy nhiên, nếu xu hướng đó phát triển quá xa để đi tới chỗ lời giải thích pháp luật khác hẳn với tinh thần của quy phạm thì sẽ rất nguy hiểm; bởi vì lúc đó kết quả của giải thích pháp luật sẽ không khác gì việc ban hành pháp luật thành văn mới theo con đường không dân chủ. Các cơ quan giải thích pháp luật, đặc biệt là các tòa án, cần hiểu rằng bản thân mình không phải là cơ quan lập pháp, hoạt động giải thích pháp luật không phải là hoạt động lập pháp mà chỉ hỗ trợ cho hoạt động lập pháp mà thôi. Vì vậy, nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp luôn được quán triệt trong suốt quá trình giải thích pháp luật.

Các nguyên tắc tương tự ở các nước phát triển đề cập trên đây có gắn liền với những yêu cầu rất cụ thể để bảo đảm ý chí của cơ quan lập pháp được tôn trọng trong quá trình giải thích pháp luật. Tinh thần và mục đích của một quy phạm luật cần được giải thích có thể được làm rõ thông qua việc phân tích bối cảnh và yêu cầu của đạo luật chứa đựng quy phạm, của bản thân quy phạm, đồng thời nắm được mục đích và đối tượng điều chỉnh của quy phạm đó. Để làm được điều này, các cơ quan có thẩm quyền GTPL, đặc biệt là tòa án thường tham khảo phần lời nói đầu và bố cục của đạo luật, các tài liệu liên quan tới lịch sử hình thành đạo luật và điều khoản, ví dụ như biên bản thảo luận hoặc báo cáo thẩm định đạo luật, cũng như ý kiến của các chuyên gia và các nhà khoa học phân tích, thảo luận về điều khoản hoặc đạo luật đó.

3.3. Nguyên tắc tôn trọng tính hệ thống của pháp luật thành văn và tính thống nhất của giải thích pháp luật

Mục đích của giải thích pháp luật là hỗ trợ và hoàn thiện hoạt động lập pháp và hệ thống pháp luật. Vì vậy việc tiến hành hoạt động này cũng phải tuân thủ một nguyên tắc rất quan trọng của công tác lập pháp, đó là tôn trọng tính hệ thống của hệ thống pháp luật thành văn. Khi giải thích pháp luật, tòa án phải đặt quy phạm pháp luật cần giải thích vào trong bối cảnh của đạo luật chứa đựng nó. Lời giải thích pháp luật đưa ra không được mâu thuẫn với các nội dung của các quy phạm pháp luật khác của đạo luật đó cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác của hệ thống pháp luật quốc gia.

Về phần mình, nội dung giải thích pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khác nhau cũng phải thống nhất với nhau. Sự mâu thuẫn giữa những lời giải thích pháp luật tất yếu sẽ dẫn tới tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, một điều cần tránh đối với bất kỳ hệ thống pháp luật nào.

3.4. Nguyên tắc hệ thống hóa giải thích pháp luật

Khác với ba nguyên tắc trên, nguyên tắc này được áp dụng sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã hoàn tất một công đoạn giải thích pháp luật. Nguyên tắc này phục vụ trực tiếp nguyên tắc tôn trọng tính thống nhất của giải thích pháp luật. Yêu cầu đặt ra là tất cả những lời giải thích pháp luật được tiến hành bởi các cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật ở các cấp phải được tập hợp và hệ thống hoá bởi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào đó. Đây là một nhu cầu khách quan, thể hiện ở những khía cạnh sau.

Thứ nhất, theo thời gian, “kho sản phẩm” của công tác giải thích pháp luật sẽ ngày một trở nên đồ sộ hơn. Sản phẩm của giải thích pháp luật thường mang tính diễn giải chứ không mang tính khái quát và cô đọng như quy phạm pháp luật, vì vậy đến một lúc nào đó nếu không được hệ thống hoá thì sẽ rất khó khăn cho người sử dụng trong việc tìm kiếm những lời giải thích pháp luật phù hợp.

Thứ hai, một trong những công dụng của giải thích pháp luật như phân tích ở trên là góp phần hoàn thiện hoạt động lập pháp. Thông qua nội dung giải thích pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền mà trước tiên là các tòa án, các lỗ hổng của pháp luật thành văn sẽ được phát hiện và đồng thời các phương án khắc phục cũng sẽ được thử nghiệm. Cơ sở dữ liệu giải thích pháp luật được hệ thống hóa sẽ tạo thuận lợi cho việc hoàn thiện đạo luật trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm áp dụng nó thông qua công tác giải thích pháp luật đối với chính đạo luật đó.

Cuối cùng, giải thích pháp luật thường được thực hiện bởi tòa án ở những cấp thẩm quyền khác nhau. Ngay trong một cấp thẩm quyền cũng có thể có nhiều tòa án có quyền giải thích pháp luật. Điều đó dẫn tới một thực tế có thể xảy ra là cùng một quy phạm luật nhưng các tòa án giải thích khác nhau, hoặc có một quy phạm nào đó đã được một tòa án giải thích nhưng những tòa án khác không biết. Công tác hệ thống hóa GTPL được tiến hành bởi một cơ quan có thẩm quyền sẽ giúp giải quyết được vấn đề này và sẽ đảm bảo được sự thống nhất trong công tác giải thích cũng như áp dụng pháp luật.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền xét xử của tòa án là gì ? Quyền giải thích pháp luật của tòa án

Khi đi nghiên cứu sâu hơn về chủ đề giải thích pháp luật, nhà nghiên cứu có thể thấy mô hình giải thích pháp luật ở các nước khác nhau có nhiều điểm khác nhau; tuy vậy, về nguyên tắc luôn có sự thống nhất cao trên phạm vi quốc tế về những vấn đề như sự cần thiết, tác dụng, vai trò, thẩm quyền, và các nguyên tắc của hoạt động giải thích pháp luật. Sự thống nhất mang tính chất “mẫu số chung” này có thể được xem như nền tảng lý luận đáng tham khảo đối với bất kỳ quốc gia nào cho dù đang trong giai đoạn hình thành hay hoàn thiện công tác giải thích pháp luật để phát huy hết tác dụng tích cực của hoạt động này trong hệ thống pháp luật nước mình.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập