1. Nhà chưa có sổ đỏ khi ly hôn chia như thế nào ?

Xin chào Luật Minh Khuê ! Trước khi kết hôn chồng tôi có đặt tiền mua chung cư đang xây theo đợt. Sau khi kết hôn, chúng tôi vẫn phải nộp thêm 2 đợt cuối. Đến nay chúng tôi đã về ở được hơn nửa năm nhưng vẫn chưa có sổ đỏ. Tiền mua nhà chủ yếu từ chồng tôi, vay mượn bên ngoại và vay ngân hàng 400 triệu có trả lãi hàng tháng ngân hàng. Con của chúng tôi được 7 tháng.
Vậy giờ ra toà nhà của chúng tôi sẽ đc giải quyết như thế nào ?
Tôi xin cám ơn !

Trả lời:

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 : Tài sản chung của vợ chồng

“ 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”

Theo như quy định trên thì căn hộ này là do hai vợ chồng bạn mua trước thời kì hôn nhân nên không được xác định là tài sản chung của cả hai vợ chồng trong thời kì hôn nhân.

Ngoài ra căn cứ theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định : Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Bên cạnh đó theo Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013, quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”

Tuy nhiên tại thời điểm này vợ chồng bạn chưa được cấp giấy chứng nhận nên căn nhà này chưa được pháp luật công nhận là tài sản chung của vợ chồng bạn, do đó nêu lúc này bạn nộp hồ sơ khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn kèm theo yêu cầu phân chia tài sản chung thì tòa án không có căn cứ để thụ lý cũng như giải quyết yêu cầu phân chia căn nhà này.

Cho nên để giải quyết vấn đề của mình, bạn có thể đợi được cấp giấy chứng nhận xong rồi mới nộp hồ sơ khởi kiện ly hôn. Hoặc nếu không đợi được, bạn có thể nộp đơn khởi kiện ly hôn trong đó chỉ yêu cầu giải quyết mối quan hệ nhân thân giữa hai vợ chồng để được tòa án nhân dân thụ lý giải quyết.

Riêng vấn đề phân chia tài sản chung là căn nhà nêu trên, bạn có thể đợi đến khi được cấp giấy chứng nhận rồi thỏa thuận với người chồng cùng lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung sau thời kỳ hôn nhân. Trường hợp không thỏa thuận được, bạn có quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung sau khi ly hôn để được tòa án nhân dân thụ lý giải quyết thành một vụ án khác.

>> Xem thêm:  Giành quyền nuôi cả 3 đứa con sau khi ly hôn ? Thủ tục xin ly hôn vắng mặt ?

2. Ly hôn khi chồng đang sống và làm việc tại nước ngoài ?

Chào luật sư, Em tên Thanh Xuân, hiện tại đang công tác ở Cần Thơ, em đang gặp khó khăn về vấn đề hôn nhân không biết phải xử lý thế nào, nhờ luật sư tư vấn giúp em. Em và anh H quen biết nhau cách đây 5 năm, trước đó vài năm anh H đã định cư ở Mỹ cùng gia đình và thường xuyên về thăm em. Do có dự định làm thủ tục kết hôn trước để bảo lãnh qua em qua Mỹ nên tháng 01/2015 em và anh H có đăng ký kết hôn ở huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) thuộc quê quán của em. Khi anh H quay về Mỹ và đến tháng 07/2015, em và anh H không liên lạc nhau nữa. Đến nay, cả 2 bên đều đồng ý ly hôn nhưng do anh H sống ở Mỹ không về Việt Nam để cùng ra toà ly hôn được. Trường hợp này luật sư cho em hỏi nếu cả 2 cùng soạn đơn, bên anh H ký và gửi về Việt Nam để em cùng ký vào đơn và nộp vào toà án tỉnh Sóc Trăng thì có được không ạ.
Nếu không được, nhờ luật sư tư vấn giúp em hướng xử lý và cách làm thế nào để tiến hành ly hôn thuận lợi và trong thời gian ngắn nhất có thể không ạ ?
Em mong nhận được phản hồi tư vấn sớm từ luật sư. Em cảm ơn.
- Huynh Thanhxuan

Luật sư trả lời:

Ly hôn là điều không mong muốn nhưng khi cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mẫu thuẫn căng thẳng kéo dài thì đó là điều đương nhiên. Có rất nhiều cặp vợ chồng thuận tình ly hôn nhưng do điều kiện công việc, khoảng cách địa lý xa xôi không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết được thì có quyền làm đơn yêu cầu xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án.

Về quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn:

Theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, cụ thể là:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”

Theo Khoản 2, Mục II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao về giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình thì trường hợp ly hôn của bạn là trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Đối với trường hợp bạn là công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với chồng của bạn là công dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài. Ta có các trường hợp sau:

a. Đối với những trường hợp uỷ thác tư pháp không có kết quả vì lý do bị đơn sống lưu vong, không có cơ quan nào quản lý, không có địa chỉ rõ ràng nên không thể liên hệ với họ được, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử theo thủ tục chung.

b. Trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau:

– Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết.

– Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.”

Đồng thời, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ do tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết.

Theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết.

Vì vậy nếu muốn ly hôn,hai bạn có thể làm đơn lên tòa đến Tòa án cấp tỉnh nơi bạn đang cư trú hay làm việc để yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho bạn.

>> Xem thêm:  Nộp đơn xin ly hôn tại nơi tạm trú có được không ? Thủ tục thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn ?

3. Vợ đang mang bầu chồng có được ly hôn không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và chồng tôi đã có một đứa con và tôi đang mang thai một đứa nữa, trong quá trình mang thai đứa thứ hai thì chồng tôi có các biểu hiện gian díu với người. Sau khi bị tôi vạch trần thì anh ta thú nhận nhưng lại không có tí biểu hiện hối lỗi nào. Từ lúc bị tôi phát hiện ngoại tình, vợ chồng tôi liên tục cãi nhau. Mấy hôm trước anh ta có viết đơn xin li hôn và có ý định nộp lên tòa.
Tôi đang bụng mang dạ chửa mà anh không có chút thương xót nào. Xin hỏi liệu tòa có giải quyết yêu cầu li hôn của anh ta không?
Cảm ơn!

Vợ đang mang bầu chồng có được ly hôn không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo đó, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Khoản 1 Điều 56 có đưa ra điều kiện để Tòa giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng như sau:

Trong trường hợp anh không đồng ý ly hôn khi vợ ly hôn đơn phương và nếu anh không đồng ý ly hôn cần xác định căn cứ ly hôn theo quy định pháp luật đối với ly hôn đơn phương. Cụ thể tại điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được có thể hiểu như sau:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Như vậy, trong trường hợp chồng bạn có hành vi dan díu với người phụ nữ khác thì bạn hoàn toàn có quyền được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho bạn. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định một số trường hợp mà người chồng không được đơn phương, theo đó:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”

Quy định trên được áp dụng trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng mới bị hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn. Trong trường hợp này, tòa án sẽ không thụ lý đơn xin ly hôn của người chồng. Người chồng phải đợi đến khi người vợ sinh con xong và đứa trẻ trên 12 tháng tuổi mới được tiếp tục xin ly hôn. Pháp luật quy định như vậy nhằm bảo vệ bà mẹ và trẻ em khỏi bị tác động xấu tới tâm lý, có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn.

Như vậy, do bạn không mang thai nên khi chồng bạn có đơn xin ly hôn gửi đến Tòa thì sẽ không thụ lý đơn xin ly hôn của chồng bạn.

Tuy nhiên, quy định trên chỉ hạn chế quyền ly hôn của người chồng. Có nghĩa là nếu người vợ làm đơn xin ly hôn, mặc dù đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì tòa án vẫn thụ lý, giải quyết như những trường hợp bình thường khác.

Cho nên, trong trường hợp mà bạn không còn muốn níu giữ tình cảm với chồng bạn nữa thì bạn vẫn có thể yêu cầu giải quyết ly hôn cho bạn, Tòa vẫn giải quyết như những trường hợp bình thường khác.

Kết luận, việc chồng bạn đơn phương ly hôn với bạn trong khi bạn đang mang thai thì Tòa sẽ không thụ lý yêu cầu này.

>> Xem thêm:  Vợ có bầu 3 tháng, chồng có thể ly hôn được không ? Nộp đơn ly hôn ở đâu ?

4. Tư vấn thủ tục ly hôn khi nhà chông gây khó khăn về sổ hộ khẩu ?

Kính chào luật sư! Em có vấn đề muốn nhờ luật sư giải đáp giúp. Em nộp hồ sơ xin ly hôn đơn phương rồi nhưng toà án đòi phải có hộ khẩu nhưng chồng em không cho mượn hộ khẩu thì tôi phải làm như thế nào?
Em xin cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

Ly hôn khi chồng đang sống và làm việc tại nước ngoài

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.6162​

Trả lời:

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Theo quy định của pháp luật, nếu bạn muốn ly hôn, bạn phải nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện, nơi cư trú của chồng bạn cư trú.

Hồ sơ tiến hành thủ tục ly hôn, gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

Như vậy, nếu chồng bạn không đưa hộ khẩu cho bạn để làm thủ tục ly hôn, bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mình có hộ khẩu thực hiện cấp bản sao hộ khẩu hoặc nhờ can thiệp, yêu cầu phía gia đình chồng phải giao hộ khẩu để làm thủ tục khởi kiện ly hôn.

>> Xem thêm:  Tại sao phải hòa giải khi Ly Hôn ? Không hòa giải có được không ?

5. Cách phân chia tài sản nhà và đất khi ba mẹ chồng ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em vừa lấy chồng vào đầu năm 2015, gia đình chồng em gồm có ba,mẹ chồng, con trai lớn (chồng em 25 tuổi) và người con trai nhỏ (16 tuổi), hiện tại gia đình chồng em có 1 số vấn đề như sau: Ba và mẹ chồng em hiện tại có 1 ngôi nhà và 4 công đất ở quê, hiện tại tất cả đều do ba chồng em đứng tên. Từ thời điểm 2013 đến nay ba, mẹ chồng em mâu thuẫn, ba em đã lấy hết 10 cây vàng đem đi nhưng hiện tại không có bằng chứng hay nhân chứng cho việc ấy.

Tháng 4/2015 ba chồng em đòi ly dị và chia tài sản người lấy nhà người lấy đất nhưng mẹ chồng em không đồng ý. Do ba chồng em đứng tên và giữ hết giấy tờ nên ba em đã kêu bán đất, việc này công an xã đã tìm đến mẹ em hỏi việc bán này, mẹ em nói không đồng ý bán.

Cho em hỏi trong trường hợp này mẹ em không đồng ý thì ba em có bán được không ?

Khi bán thì tài sản này sẽ chia làm 2 hay phải chia làm 4 vì gia đình chồng em có ba me chồng và 2 người con trai ?

Nếu như ba mẹ chồng em ly dị, tài sản sẽ chia như thế nào ? Chồng em và người em trai có được chia tài sản không hay chỉ chia làm hai do ba mẹ em hiện tại tranh chấp tài sản và không thuận tình ly hôn ?

Và 10 cây vàng ba em đã lấy đi khi chia tài sản có được chấp nhận là ba em đã có phần đó không vì hiện tại ba em không thừa nhận đã lấy tài sản ?

Em xin chân thành cảm ơn!!

Người gửi: T.V

Tư vấn về việc phân chia tài sản nhà và đất khi ba mẹ chồng ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, trường hợp mẹ bạn không đồng ý thì ba bạn có bán được không ?

- Vào tháng 4/2015 ba chồng bạn đòi ly dị và chia tài sản người lấy nhà người lấy đất nhưng mẹ chồng bạn không đồng ý. Như vậy hiện tại ba mẹ chồng bạn vẫn còn đang tồn tại quan hệ hôn nhân, ngôi nhà, 4 công đất hay những tài sản khác xác định đều là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trừ trường hợp ba chồng bạn được thừa kế riêng, được tăng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng và nghĩa vụ chứng minh thuộc ba chồng bạn. Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014 :

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Trường hợp ba chồng bạn không chứng minh được đây là tài sản riêng của ba bạn vậy nên hiện tại khi xác lập giao dịch về đất này phải được sự đồng ý của mẹ chồng bạn. Nếu ba bạn vẫn có ý thực hiện với người thứ 3 thì giao dịch đó bị tuyên vô hiệu.

"Điều 26. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng"

Thứ hai, nếu ba chồng bạn bán đất thì số tiền được chia 2 hay chia 4 ?

Giả sử trường hợp mẹ bạn đồng ý bán đất thì tài sản này xác định là tài sản chung của bố mẹ bạn cho nên sẽ chia 2 mà không chia 4.

Thứ ba, giải quyết tài sản khi ly hôn

Điều 59: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Như vậy khi ba, mẹ bạn thuận tình hay đơn phương ly hôn mà có yêu cầu chia tài sản thì sẽ được tòa án giúp đỡ. Xác định tài sản hiện còn lại là 1 ngôi nhà, 4 công đất, căn cứ quy định trên thì tài sản về nguyên tắc được chia đôi có xem xét đến những yếu tố khác( như công sức đóng góp, hoàn cảnh, lỗi..). Nếu 2 người con xác định được công sức đóng góp của mình vào khối tái sản chung thì được chia 1 phần thuộc về mình.

Thứ tư, 10 cây vàng ba bạn lấy đi có được coi là phần của ba bạn không?

Luật hôn nhân gia đình quy định:

"Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, trừ khi ba bạn chứng minh được đó là tài sản riêng, nếu không 10 cây vàng đó được coi là tài sản chung của 2 vợ chồng. Khi ba bạn lấy 10 cây vàng đó đi tức là ba bạn đã lấy một phần tài sản trong khối tài sản chung với mẹ bạn.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục ly hôn thực hiện ở đâu ? Thời gian giải quyết bao lâu ? mất bao nhiêu tiền án phí ?