1. Giới thiệu vấn đề

Tâm lý học nhân văn là một phong trào trong tâm lý học ủng hộ niềm tin rằng con người, với tư cách là cá nhân, là những sinh thể độc nhất và cần được các nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần công nhận và đối xử như vậy. Phong trào phát triển đối lập với hai xu hướng chính của thế kỷ 20 trong tâm lý học,chủ nghĩa hành vi vàphân tâm học . Các nguyên tắc nhân văn đã được áp dụng trong phong trào “tiềm năng con người”, trở nên phổ biến ở Hoa Kỳ trong những năm 1960.

 

2. Giới thiệu nhà tâm lý học Carl. Rogers và Abraham Maxlow

a. Nhà tâm lý học Carl. Rogers

Carl Ransom Rogers (08 tháng 01, 1902 – 04 tháng 02, 1987) là một nhà tâm lý học người Mỹ và là một trong số những người sáng lập nên tiếp cận nhân văn (hay tiếp cận thân chủ trọng tâm) trong tâm lý học. Rogers được công nhận rộng rãi là một trong những người sáng lập ra hoạt động nghiên cứu tâm lý trị liệu và đã được vinh danh cho hoạt động nghiên cứu tiên phong với Giải thưởng cho Những Cống hiến Khoa học Nổi bật của Hiệp hội Tâm lý học Hoa kỳ vào năm 1956.

Tiếp cận độc đáo của ông, tiếp cận nhân vị trọng tâm, trong việc hiểu biết nhân cách và mối quan hệ giữa con người với con người, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tâm lý trị liệu và tham vấn (liệu pháp thân chủ trọng tâm), giáo dục (học tập lấy người học làm trung tâm), các tổ chức, và những hình thức nhóm xã hội khác. Vì những đóng góp trong sự nghiệp của mình, ông đã được vinh danh với Giải thưởng cho Những Cống hiến Nghề nghiệp Nổi bật Đối với Tâm lý học của Hiệp hội Tâm lý học Hoa kỳ vào năm 1972. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Steven J. Haggbloom và cộng sự đã sử dụng sáu tiêu chí như trích dẫn và sự quen thuộc, Rogers xếp thứ sáu trong số những nhà tâm lý học có sức ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 và ở ví trí thứ hai trong lĩnh vực lâm sàng, chỉ sau Sigmund Freud

Carl Rogers được nhiều người coi là một trong những nhà tư tưởng lỗi lạc nhất về tâm lý học. Ông nổi tiếng với việc phát triển phương pháp tâm lý trị liệu được gọi là liệu pháp lấy khách hàng làm trung tâm và là một trong những người sáng lập ra tâm lý học nhân văn.

b. Nhà tâm lý học Abraham Maxlow

Abraham Harold Maslow sinh ngày 1 tháng 4 năm 1908 – mất ngày 8 tháng 6 năm 1970.

Sinh năm 1908 và lớn lên ở Brooklyn, New York , Maslow là con cả trong gia đình có 7 người con. Cha mẹ anh là những người nhập cư Do Thái thế hệ đầu tiên từ Kiev, sau đó là một phần của Đế chế Nga (nay là Kyiv , Ukraine ), những người đã chạy trốn khỏi cuộc đàn áp của người Czarist vào đầu thế kỷ 20. Họ quyết định sống ở Thành phố New York và trong một khu dân cư đa sắc tộc, thuộc tầng lớp lao động. Cha mẹ anh nghèo và không chú trọng về trí tuệ, nhưng họ coi trọng giáo dục. Anh đã có nhiều cuộc chạm trán với các băng nhóm bài Do Thái, những kẻ sẽ đuổi theo và ném đá vào anh. [số 8]Maslow và những người trẻ khác cùng hoàn cảnh với ông đã phải vật lộn để vượt qua những hành vi phân biệt chủng tộc và định kiến ​​sắc tộc trong nỗ lực thiết lập một thế giới duy tâm dựa trên nền tảng giáo dục phổ biến và công bằng kinh tế.

Abraham Maxlow là một nhà tâm lý học người Mỹ được biết đến nhiều nhất cho việc tạo Tháp nhu cầu của Maslow , một lý thuyết về sức khỏe tâm lý xác định trên thực hiện nhu cầu nhân lực bẩm sinh ở ưu tiên, đỉnh cao là tự hiện thực hóa. Maslow là giáo sư tâm lý học tại Đại học Brandeis , Cao đẳng Brooklyn , Trường Nghiên cứu Xã hội Mới và Đại học Columbia. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trung vào những phẩm chất tích cực ở con người, thay vì coi họ như một "túi triệu chứng". Một cuộc khảo sát về Tâm lý học Tổng quát , xuất bản năm 2002, đã xếp hạng Maslow là nhà tâm lý học được trích dẫn nhiều nhất thứ mười trong thế kỷ 20.

Sau Thế chiến thứ hai thì nhà tâm lý học Maslow bắt đầu đặt câu hỏi về cách các nhà tâm lý học đưa ra kết luận của họ, và mặc dù không hoàn toàn đồng ý, nhưng ông có ý tưởng riêng về cách hiểu tâm trí con người. Ông gọi kỷ luật mới của mình là tâm lý học nhân văn. Maslow đã là một ông bố 33 tuổi và có hai con khi Hoa Kỳ bước vào Thế chiến thứ hai vào năm 1941. Do đó, ông không đủ điều kiện tham gia quân đội. Tuy nhiên, sự khủng khiếp của chiến tranh đã truyền cảm hứng cho tầm nhìn về hòa bình trong anh, dẫn đến những nghiên cứu tâm lý mang tính đột phá về việc tự hiện thực hóa bản thân. Các nghiên cứu bắt đầu dưới sự giám sát của hai cố vấn, nhà nhân chủng học Ruth Benedict và nhà tâm lý học Gestalt Max Wertheimer , những người mà ông ngưỡng mộ cả về chuyên môn và cá nhân. Họ đã thành tựu rất nhiều trong cả hai lĩnh vực. Cũng là "con người tuyệt vời", họ đã truyền cảm hứng cho Maslow ghi chép về họ và hành vi của họ. Đây sẽ là cơ sở cho nghiên cứu và suy nghĩ suốt đời của ông về sức khỏe tâm thần và tiềm năng của con người. Ông mở rộng chủ đề, vay mượn ý tưởng từ các nhà tâm lý học khác và thêm những ý tưởng mới, chẳng hạn như các khái niệm về hệ thống phân cấp nhu cầu , định lượng , siêu năng lực , con người tự hiện thực hóa và trải nghiệm đỉnh cao . Maslow là giáo sư tại Đại học Brandeis từ năm 1951 đến năm 1969. Ông trở thành thành viên thường trú của Viện Laughlin ở California. Năm 1967, Maslow lên cơn đau tim nghiêm trọng và biết rằng thời gian của mình là có hạn. Anh tự cho mình là người đi tiên phong về tâm lý. Ông đã thúc đẩy các nhà tâm lý học tương lai bằng cách đưa ra ánh sáng những con đường khác nhau để suy ngẫm. Ông đã xây dựng khung mà sau này cho phép các nhà tâm lý học khác tiến hành các nghiên cứu toàn diện hơn. Maslow tin rằng lãnh đạo không nên can thiệp. Nhất quán với cách tiếp cận này, ông đã từ chối một đề cử vào năm 1963 để làm chủ tịch Hiệp hội Tâm lý Nhân văn vì ông cảm thấy rằng tổ chức này nên phát triển một phong trào trí thức mà không có người lãnh đạo.

 

3. Giới thiệu tâm lý học nhân văn của Carl. Rogers và Abraham Maxlow

Tâm lý học nhân văn hay còn được gọi là trường phái tâm lý học lực lượng thứ ba do hai nhà tâm lý học Carl. Rogers (1902 – 1987) và Abraham Maxlow (1908 – 1972) sáng lập.

Thứ nhất, theo Abraham Maxlow cho rằng, các nhu cầu của con người được sắp đặt theo 5 thứ bậc thể hiện 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người xét thứ tự từ thấp đến cao bao gồm: Nhu cầu sinh lí cơ bản; Nhu cầu an toàn; Nhu cầu về quan hệ xã hội; Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ và Nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt.

Các thứ bậc càng thấp, nhu cầu của con người cơ bản càng giống với loài vật. Các thứ bậc càng cao, chúng càng đặc trưng cho con người. Các nhu cầu này được sắp đặt sao cho khi người ta thỏa mãn một nhu cầu thấp hơn, người ta có thể xử lý một nhu cầu cao hơn. Ví dụ như khi nhu cầu sinh lý của con người đươc thỏa mãn (ăn uống, tính dục) người ta có thể xử lý các nhu cầu về sự an toàn (bảo vệ khỏi các yếu tố vật chất, đau đớn và các nguy hiểm bất ngờ).

Thứ hai, đối với quan điểm của nhà tâm lý Rogers lại cho cho rằng bản chất con người là lương thiện với những khuynh hướng tiến đến sự phát triển tiềm năng và xã hội hóa mà nếu đặt trong môi trường thuận lợi sẽ phát triển nhận thức và hiện thức hóa tiềm năng đầy đủ. Ngoài ra, ông còn cho rằng mỗi người đều sở hữu những tiềm năng cho sự lớn lên, tiềm năng cho những hành vi có hiệu quả và có khuynh hướng tự hiện thực hóa tiềm năng của mình.

Theo đó, việc con người đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở, biết lắng nghe, chờ đợi và không áp đặt các điều kiện về giá trị trên người khác đó chính là cách giúp họ nhìn nhận giá trị của sự tích cực một cách vô điều kiện. Với sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện người ta được yêu mến và kính trọng bởi vì bản chất thực sự của họ trong nhân cách, và chỉ những ai nhìn thấy được sự tích cực vô điều kiện thì mới có thể trở thành một con người có đời sống tinh thần sung mãn.

 

4. Lịch sử hình thành tâm lý học nhân văn

Đó là vào đầu thập niên 1960, một phong trào được mệnh danh là tâm lý học lực lượng thứ ba đã được khởi xướng bởi nhóm nhà triết học do Abraham Maslow cầm đầu.

Theo các nhà triết học này, trường phái hành vi và trường phái tâm học đã bỏ quên một số thuộc tính quan trọng của con người. Cái thiếu sót chính là những thông tin có thể giúp chúng ta làm cho người bình thường trở nên khỏe mạnh hơn. Điều đó có nghĩa giúp họ đạt hết mức tiềm năng của họ.

Điều cần thiết để có một mô hình về con người nhấn mạnh tính độc đáo của họ và các khía cạnh tích cực hơn là tiêu cực của họ. Và đây cũng chính là cái mà tâm lý học lực lượng thứ ba nhằm cung cấp.

Mặc dù chỉ mới phổ biến trong các thập niên 1970 và 1980, nhưng tâm lý học lực lượng thứ ba lại mờ nhạt trong thập niên 1980. Thế nhưng trường phái này vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn trong tâm lý học hiện đại.

 

5. Kết thúc vấn đề

Nhìn chung, quan điểm của học thuyết nhân văn chính là đề cao bản chất tốt đẹp và luôn hướng tới những điều tốt đẹp của con người (lòng vị tha, tiềm năng kỳ diệu). Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình lại cho rằng học thuyết tâm lý học nhân văn quá đề cao những điều cảm nghiệm, thể nghiệm chủ quan của bản thân mỗi người, tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội, chú ý tới mặt nhân văn trừu tượng trong con người, vì thế thiếu vắng con người trong hoạt động thực tiễn.

 

(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).