Đợi 1 thời gian không thấy a L ra gặp và được biết a L đã đem điện thoại của tôi đi bán với số tiền 5 triệu. hiện giờ a L đã bỏ trốn. Vậy tôi xin được quý công ty giải đáp 1 số thắc mắc như sau:

1. Bây giờ tôi muốn kiện người đó có được không?

2. Nếu gia đình a L chịu bồi thường cho tôi thì tôi có thể rút đơn khiếu nại không?

3.với hành vi đưa tiền nhờ xin việc tôi có phải chịu trách nhiệm gì không?

Cảm ơn!

 

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Khuê. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, bây giờ bạn muốn kiện người đó có được không?

Người quen của bạn – anh L đã nhận số tiền 3.5 triệu đồng để xin việc cho bạn nhưng không xin được, không có giấy tờ chứng minh và đã mượn bạn chiếc điện thoại samsung của bạn mang đi cầm cố được 5 triệu đồng mà không có ý định sẽ trả lại số tiền và chiếc điện thoại nêu trên. Với hành vi này, bạn có thể trình báo với cơ quan công an để yêu cầu giải quyết đòi lại tài sản nêu trên nếu hành vi đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Việc xét xem anh L có vi phạm pháp luật hình sự không thì vẫn phải phụ thuộc thêm vào các tình tiết trên thực tế nữa.

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không ? Hợp đồng và giấy vay tiền mặt có khác nhau không ?

Nếu người này không có khả năng xin được việc nhưng lại có hành vi, thủ đoạn gian dối để khiến bạn tin tưởng và giao tiền cho thì hành vi này sẽ bị cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017):

“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

….”

Nếu anh L có khả năng xin được mà sau khi nhận tiền và sau khi mượn chiếc điện thoại mới có ý định chiếm đoạt nó thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật này:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

…."

Như vậy, bạn có thể trình báo với cơ quan công an để được giải quyết và không cần phải khởi kiện.

Thứ hai, nếu gia đình anh L chịu bồi thường cho bạn thì bạn có thể rút đơn không?

Nếu gia đình anh L chịu bồi thường thì bạn có rút lại đơn khởi kiện thì anh L vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu anh L có hành vi vi phạm pháp luật đã nêu ở trên do anh L không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (bộ luật tố tụng hình sự năm 2015):

“Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.”

Thứ ba, hành vi đưa tiền nhờ xin việc bạn có phải chịu trách nhiệm gì không?

Bạn có phải chịu trách nhiệm gì không thì còn phải xem anh L kia là người bình thường không liên quan đến công việc đó hay là người giữ chức vụ tương đối làm trong ngành. Nếu anh L là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến công việc thì với hành vi của bạn có truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội đưa hối lộ (Điều 289 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bồ sung năm 2009). Tuy vậy, trường hợp này nếu bạn khai báo thành khẩn có thể sẽ được miễn trách nhiệm hình sự. Còn nếu anh L không chức vụ gì liên quan đến công việc này thì bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm gì cả.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Luật Minh Khuê biên tập

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về vay vốn Học sinh, sinh viên như thế nào ? Chính sách vay ưu đãi cho sinh viên ?