1. Thế nào là Giám đốc thẩm?

Giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt, chỉ được tiến hành khi có kháng nghị giám đốc thẩm. Đó là đặc điểm khác biệt so với các thủ tục xét xử thông thường như sơ thẩm (đương nhiên được thực hiện khi có khởi kiện hợp pháp của đương sự), phúc thẩm (đương nhiên được thực hiện khi có kháng cáo hợp pháp của đương sự hoặc các kháng nghị của Viện kiểm sát). Các Thẩm phán không tham gia trực tiếp giám đốc thẩm cũng có thể tham gia vào trình tự giám đốc công tác xét xử bằng việc phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm.

Đối tượng của việc kháng nghị giám đốc thẩm chỉ là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Kháng nghị và giám đốc thẩm là cơ chế nhằm khắc phục sai lầm nghiêm trọng của Tòa án trong việc giải quyết vụ án mà bản án, quyết định đó đã có hiệu lực. Vì vậy, cấp giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử thứ 3 sau sơ thẩm và phúc thẩm.

2. Thủ tục thông báo bản án, quyết định của Tòa án cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

Điều 374 BLTTHS 2015 quy định thủ tục thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm:

+ Thay cho đơn yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp với người có thẩm quyền kháng nghị hoặc với Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có);

+ Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau: ngày, tháng, năm; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo; bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật; nội dung các vi phạm pháp luật được phát hiện; kiến nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị. Cuối văn bản thông báo, người thông báo là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp cơ quan, tổ chức thông báo thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu.

3. Tục tiếp nhận thông báo bản án, quyết định của Tòa án cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

Điều 375 BLTTHS 2015 quy định thủ tục tiếp nhận thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm:

+ Khi nhận được thông báo bằng văn bản thì Tòa án, Viện kiểm sát phải vào sổ nhận thông báo. Khi người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trình bày trực tiếp về vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản; nếu người thông báo cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản thu giữ;

+ Tòa án, Viện kiểm sát đã nhận thông báo, lập biên bản phải gửi ngay thông báo, biên bản kèm theo các chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho người có thẩm quyền kháng nghị và thông báo lại bằng văn bản cho người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị, đề nghị biết.

Việc bổ sung các quy định về thông báo và nhận thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, theo đó không chỉ Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền, mà cả Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất có trách nhiệm tiếp nhận và gửi thông báo về bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm cho người có thẩm quyền kháng nghị là rất cần thiết nhằm không những nâng cao trách nhiệm của Tòa án và Viện kiểm sát đối với người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc khắc phục những vi phạm pháp luật của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, mà còn nâng cao tính kịp thời, hiệu quả trong tiếp nhận yêu cầu giám đốc thẩm; khắc phục được tình trạng đơn yêu cầu được chuyển lòng vòng không đúng địa chỉ.

4. Thủ tục chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Điều 376 BLTTHS 2015 quy định thủ tục chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, nhằm bảo đảm cho việc kháng nghị nhanh chóng, kịp thời khắc phục các vi phạm pháp luật của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, điều luật quy định trường hợp cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì Tòa án, Viện kiểm sát nơi mà Chánh án, Viện trưởng có thẩm quyền kháng nghị yêu cầu bằng văn bản để Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ án; trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án đang quản hồ sơ vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án, Viện kiểm sát đã yêu cầu.

Trường hợp Tòa án và Viện kiểm sát cùng có văn bản yêu cầu thì Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án chuyển hồ sơ cho cơ quan có yêu cầu trước và thông báo cho cơ quan yêu cầu sau biết.

5. Thời hạn, thủ tục kháng nghị và gửi kháng nghị; hình thức quyết định kháng nghị

Các điều 378, 379, 380, 381 BLTTHS 2015 đã sửa đổi, bổ sung và cơ cấu lại các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thời hạn, thủ tục kháng nghị và gửi kháng nghị; hình thức quyết định kháng nghị; việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị và việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

+ Điều 378 quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn về hình thức bản quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau: số, ngày, tháng, năm của quyết định; người có thẩm quyền ra quyết định; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định bị kháng nghị; nhận xét, phân tích những vi phạm pháp luật, sai lầm của bản án, quyết định bị kháng nghị; căn cứ pháp luật để quyết định khống nghị; quyết định kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án, quyết định; tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án và yêu cầu của người kháng nghị.

Việc quy định cụ thể, đầy đủ nội dung kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm giúp cho các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm dễ dàng xác định phạm vi giám đốc thẩm; giúp cho Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng được triệu tập có điều kiện thuận lợi hơn để trình bày ý kiến và chuẩn bị tranh tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm.

+ Điều 379 giữ nguyên quy định thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trong trường hợp kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án; việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án là không có thời hạn, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ; thời hạn kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Đồng thời, điều luật cũng quy định nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

+ Điều 380 có những sửa đổi, bổ sung quan trọng trong việc gửi quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, trong mọi trường hợp, quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; người bị kết án và những người khác (cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị; đến cơ quan có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị là cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự để có biện pháp bảo vệ quyền lợi của mình liên quan đến kháng nghị hoặc xử lý việc thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị (khoản 1). Cùng với kháng nghị, quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải được gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát nơi đã xét xử sơ thẩm và cơ quan thi hành án có thẩm quyền để tổ chức và kiểm sát thi hành quyết định đó.

Điều luật cũng quy định thủ tục và thời hạn gửi bản kháng nghị. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm; trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải gửi lại hồ sơ vụ án cho Toà án (khoản 2).

Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm (khoản 3).

+ Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được tách thành một điều luật (Điều 381) quy định về thủ tục và hậu quả pháp lý của việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Theo quy định thì người kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa nếu chưa hết thời hạn kháng nghị. Việc sửa đổi, bổ sung trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định và được gửi ngay cho Tòa án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị; cho người bị kết án và những người khác (cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị; đến cơ quan có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị là Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án dân sự; việc sửa đổi, bổ sung kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.

Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mồ phiên tòa phải bằng quyết định; việc rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.

Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho Tòa án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị, cơ quan thi hành án, người bị kết án và những người khác (cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)