I. Những điều khoản về viện trợ nhà nước trong Hiệp định Thương mại Tự do với các nước thứ ba

1. Khái niệm viện trợ nhà nước

Tại Điều 61 của Hiệp định Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA) là một ví dụ tốt về cách định nghĩa viện trợ Nhà nước trong bối cảnh quốc tế: “bất cứ khoản viện trợ nào được phê chuẩn bởi các Nhà nước Thành viên EC, các Nhà nước EFTA hoặc thông qua nguồn lực Nhà nước dưới bất cứ hình thức nào làm biến dạng, hay đe doạ cạnh tranh bằng cách ưu đãi những doanh nghiệp nhất định hoặc sản xuất những hàng hoá nhất định.”

=> Như vậy, khái niện trợ nhà nước ở trên có thể phân tích theo những hướng sau:

Thứ nhất, khái niệm viện trợ thông thường được diễn giải rộng nghĩa, vì vậy những khoản trợ cấp cũng ở dạng khác với trực tiếp thanh toán từ ngân sách công cho người thụ hưởng. Cho nên những biện pháp như lợi tức thuế (hoặc những dạng khác của thu nhập công đã từ bỏ), việc rót vốn từ các tổ chức công, bảo lãnh các khoản vay, trợ cấp lãi suất hoặc các giá khác biệt do các doanh nghiệp và các cơ quan đưa ra, cũng có thể tạo thành viện trợ.

Thứ hai, các biện pháp kinh tế mạng tính chất phổ thông áp dụng cho mọi nhà hoạt động kinh tế theo cách không phân biệt đối xử và không thể hiện rõ quyền lực của cơ quan, thông thường không được coi là viện trợ Nhà nước.

Tuy nhiên, nếu một chương trình phổ thông đối xử với với hàng hoá nội địa ưu đãi hơn là hàng nhập khẩu (chẳng hạn tiêu thụ sản phẩm nội địa nhận được tỷ lệ trợ cấp cao hơn tiêu thụ sản phẩm nhập khẩu), thì biện pháp ấy bị coi là viện trợ Nhà nước.

Thứ ba, viện trợ Nhà nước không nhất thiết liên kết với lợi ích được chính phủ trung trơng phê chuẩn, cho nên, các biện pháp ở cấp khu vực hay địa phương cũng có thể cấu thành viện trợ Nhà nước. Điều không quan trọng là tổ chức nào phê chuẩn viện trợ ở giai đoạn cuối cùng. Chẳng hạn, bảo lãnh khoản vay ở một số nước hay các khoản vay ưu đãi được chuyển qua các tổ chức tư nhân hay bán tư nhân. Tuy nhiên, nếu nguồn gốc của tài trợ là nguồn công, thì có nghĩa là các biện pháp liên quan bị coi là viện trợ Nhà nước.

Xét theo cơ sở pháp lý của biện pháp, tức là đó có phải là điều luật, Sắc lệnh, quyết định của cấp bộ trưởng hoặc cấp khác. Hơn nữa các qui tắc viện trợ Nhà nước bao trùm viện trợ phê chuẩn cho tất cả doanh nghiệp, dù là công ty tư nhân hay doanh nghiệp công.

 

2. Giới thiệu Hiệp định thương mại tự do

Hiện có nhiều cách hiểu về các Hiệp định thương mại tự do. Theo cách hiểu chung nhất thì một Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA) là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều Thành viên nhằm loại bỏ các rào cản đối với phần lớn thương mại giữa các Thành viên với nhau.

FTA có thể mang nhiều tên gọi khác nhau, ví dụ Hiệp định Đối tác Kinh tế (Economic Partnership Agreement), Hiệp định thương mại Khu vực (Regional Trade Agreement)… nhưng bản chất đều là các thỏa thuận hướng tới tự do hóa thương mại giữa các Thành viên.

Thành viên của các FTA có thể là các quốc gia (ví dụ Việt Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ…) hoặc các khu vực thuế quan độc lập (ví dụ Liên minh châu Âu, Hong Kong Trung Quốc…). Vì vậy, thông thường khi nói tới Thành viên FTA, người ta hay dùng từ chung là “nền kinh tế”.

Các FTA có thể là song phương (02 Thành viên) hoặc đa phương/khu vực (nhiều hơn 02 Thành viên).
Phạm vi “thương mại” trong các FTA được hiểu theo nghĩa rộng, có thể bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh sinh lời, trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và cả các vấn đề khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương mại (sở hữu trí tuệ, mua sắm công, lao động, môi trường…).

 

3. Những qui tắc chủ yếu

Quan điểm được sử dụng trong bối cảnh Công ước EFTA cũng được tuân theo trong các FTAs ký kết giữa các Nhà nước EFTA với các nước thứ ba, tuy nhiên quan điểm được sử dụng trong bối cảnh Công ước EFTA  cũng có một vài ngoại lệ nhỏ mà chúng ta sẽ cùng tìm hiểu dưới đây:

- Ngoại lệ thứ nhất liên quan tới sự hình thành điều khoản cơ bản nêu trong những hiệp định chủ yếu. Nó tuân theo chặt chẽ hơn cách hành văn sử dụng trong Hiệp ước Roma và các FTAs mà các Nhà nước EFTA ký kết những năm 1970 với EC và duy nhất chỉ dựa trên những tác động biến dạng của viện trợ được coi là tiêu chí để cấm đoán. Điểm khác nhau của sự hình thành không có ý nghĩa gì, nhất là khi những hiệp định có chứa những hướng dẫn giải thích để đánh giá các biện pháp viện trợ Nhà nước, và những hướng dẫn này giống như những giải thích của Hội đồng EFTA. Vì không có sự dẫn chiếu riêng biệt cho viện trợ liên quan đến xuất khẩu trong điều khoản cơ bản, nên danh mục trong Phụ lục C của Công ước Stockholm được gộp vào trong những bản hướng dẫn.

- Điểm khác nhau khác liên quan đến viện trợ vùng. Những hiệp định qui định rằng các đối tác nước thứ ba có thể tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế của mình mà phê duyệt viện trợ theo mật độ cao hơn mức cho phép, thông thường là trong 5 năm đầu tiên, sau khi hiệp định liên quan có hiệu lực.

- Điểm khác nhau thứ ba liên quan tới sự phát triển tương lai của sự diễn giải điều khoản cơ bản về viện trợ Nhà nước. Để dẫn chiếu, việc diễn giải khẳng định rằng Hiệp định EEA có thể được dùng làm căn cứ để bổ sung cho các tiêu chí. Điều này có thể làm hài hoà hóa các qui tắc chủ yếu về viện trợ Nhà nước được mở rộng hơn ở châu Âu, bởi vì các Nhà nước EFTA là một bộ phận của EEA đã phụ thuộc vào các qui tắc tương tự các qui tắc áp dụng ở EC, và những hiệp định Hiệp hội của các nước Trung và Đông Âu cũng có nêu điều khoản theo mục đích này. Đó là điều tự nhiên cho những qui tắc giống nhau này điều phối quan hệ thương mại giữa EFTA và các đối tác nước thứ ba. Tuy nhiên vì Thụy Sĩ không phải là bên ký Hiệp định EEA, sự hài hoà hoá đó đòi hỏi phải nâng cấp Công ước Xtốckhôm và thiết lập một hiệp định song phương về viện trợ Nhà nước giữa Thuy Sĩ và EU.

 

4. Tính minh bạch

Các FTAs của EFTA qui định ba loại biện pháp minh bạch.

- Thứ nhất các bên phải thông báo mọi biện pháp viện trợ mới, giống như đã làm trong EFTA.

- Thứ hai, một chế độ báo cáo như cũ được thực hiện trước, dưới dạng báo cáo hàng năm.

- Cuối cùng, theo yêu cầu, các bên phải cung cấp cho nhau thông tin về bất kỳ biện pháp viện trợ nào. Thời kỳ quá độ để thực thi những nguyên tắc này thông thường là một năm sau khi hiệp định có hiệu lực.

 

5. Hiệu lực của viện trợ nhà nước

Giống y như trường hợp Công ước EFTA, các bên có thể tiến hành những biện pháp chống trả, nếu việc thảo luận và tham khảo giữa các bên Nhà nước không đi đến giải pháp.

 

II. Những Hiệp định Hiệp hội EC

1. Giới thiệu Hiệp hội EC 

Cộng đồng châu Âu (European Community - EC) là một cộng đồng được thành lập vào năm 1967 bao gồm ba tổ chức của Liên minh châu Âu (EU), nhằm giải quyết các chính sách và quản lí theo hình thức cộng đồng tất cả các quốc gia thành viên.   

Cộng đồng châu Âu được phát triển sau Thế chiến thứ II với ý tưởng rằng một châu Âu thống nhất hơn sẽ đoàn kết với nhau hơn. 

Cộng đồng châu Âu ban đầu bao gồm ba tổ chức riêng biệt. 

- Đầu tiên là Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) còn được gọi là thị trường chung, và nó được thành lập để thống nhất các nền kinh tế của châu Âu. 

- Thứ hai là Cộng đồng Than và Thép châu Âu, được thành lập ra để điều chỉnh và quản lí các hoạt động sản xuất trên khắp các quốc gia thành viên. 

- Cuối cùng là Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu, được thành lập để thiết lập một thị trường chung cho năng lượng hạt nhân. 

Khi Cộng đồng châu Âu được thành lập vào năm 1957, có sáu quốc gia trong danh sách thành viên là: Bỉ, Đức, Pháp, Ý, Luxembourg và Hà Lan. Năm 1993, Cộng đồng Châu Âu được đưa vào Liên minh Châu Âu (EU). 

Tính đến năm 2018, EC đã có 28 quốc gia nằm trong EU, bao gồm sáu quốc gia ban đầu. 

Các quốc gia thành viên của EC tính đến hiện tại gồm 6 thành viện thuở ban đầu với Áo, Bulgaria, Croatia, Síp, Cộng hòa Séc, Demark, Estonia, Phần Lan, Hi Lạp, Hungary, Ireland, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Bồ Đào Nha , Romania, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Vương quốc Anh.

 

2. Những qui tắc chủ yếu

So với những hiệp định giữa EFTA với nước thứ ba, những điều khoản rất cơ bản trong các hiệp định hiệp hội EC với các nước Trung-Đông Âu và Địa Trung Hải cũng tương tự như nhau.

Tuy nhiên có sự khác nhau đáng kể về việc diễn giải. Hình mẫu “EFTA đã có” (EFTA acquis) tương đối khiêm tốn có thể là một cách hướng dẫn có diễn giải cho các hiệp định EFTA, trong khi các hiệp định EC khẳng định rằng các tiêu chí được sử dụng là những tiêu chí đã được triển khai tại EC trong việc áp dụng Điều 92 EC. Điều đó có nghĩa rằng mọi văn bản pháp lý thứ cấp sẽ được áp dụng cũng như các quyết định khác nhau của EC và của Toà án châu Âu (ECJ). Các qui tắc được áp dụng như thế nào trong thực tế sẽ được làm sảng tỏ trong thời gian chuyển đổi kéo dài ba năm.

EC đã đàm phán một hiệp định với Cộng hoà Séc và Xlôvác liên quan đến các qui tắc thực hiện viện trợ Nhà nước tại các hiệp định Hiệp hội có liên quan, kết quả là hai nước này đã chỉ định cơ quan kiểm soát và giám sát. Các biện pháp viện trợ Nhà nước sẽ được đánh giá trên cơ sở các tiêu chí phát sinh từ việc áp dụng các qui tắc của Điều 92 EC, bao gồm cả các văn bản pháp lý thứ cấp, các khuôn khổ, hướng dẫn và các luật hành chính liên quan hiện tại và sắp tới có hiệu lực tại EC. Các qui tắc còn nêu thêm các điều khoản về tính minh bạch và các thủ tục để tham khảo và giải quyết các vấn đề.

 

3. Những qui tắc minh bạch

Những biện pháp minh bạch thuộc các hiệp định Hiệp hội bao gồm những báo cáo hàng năm về tổng trị giá viện trợ cũng như sự phân bổ viện trợ. Theo yêu cầu, các bên phải cung cấp cho nhau thông tin về chương trình viện trợ và các biện pháp viện trợ riêng lẻ. Khoản này thực hiện được như thế nào, vẫn còn là vấn đề.

Trong các qui tắc về viện trợ Nhà nước thoả thuận giữa EC với Cộng hoà Séc và Xlôvác, các điều khoản về sự minh bạch khẳng định rằng mỗi bên sẽ cung cấp cho nhau thông tin đều đặn về các chương trình viện trợ của mình và các khoản viện trợ riêng lẻ. EC sẽ giúp các nước Cộng hoà này lập nên một danh mục các biện pháp viện trợ Nhà nước để đảm bảo và cải thiến sự minh bạch được liên tục.

 

4. Hiệu lực của viện trợ nhà nước

Về phần hiệu lực trong cấc hiệp định Hiệp hội là sự thoả thuận cốt lõi truyền thống liên chính phủ đưa lại khả năng tiến hành những biện pháp đối kháng thích hợp trong trường hợp thủ tục giải quyết tranh chấp không dẫn đến kết quả tích cực.

 

III. Kết thúc vấn đề 

Trên cơ sở các ví dụ về các chế độ viện trợ Nhà nước quốc tế khác nhau, những qui tắc cơ bản cốt lõi dường như rất giống nhau. Tuy vậy, cũng có những sự khác nhau rõ rệt về hiệu quả của chế độ, xem như bị lệ thuộc vào cơ chế hiệu lực ở từng chỗ. Hệ thống siêu quốc gia được dùng tại EC và EEA có vẻ tốt hơn cơ chế liên chính phủ truyền thống. Một biểu thị rõ rệt của hệ thống ấy là sự chuyển dịch một số Nhà nước EFTA từ chế độ EFTA sang EEA. Trong bối cảnh ấy, các nước liên quan phải rà soát lại các chính sách viện trợ Nhà nước trước kia, trong một số trường hợp có sự thay đổi rất đáng kể.

Hệ thống EC/EEA cũng có đặc điểm về tác dụng hài hoà hoá đối với các chính sách quốc gia. Điều đó thể hiện ở khung cảnh các mục tiêu của các qui tắc cạnh tranh EC/EEA liên quan mật thiết đến sự hợp nhất các thị trường quốc gia, một cái đích đi xa hơn các mục tiêu qui tắc cạnh tranh thuộc các FTAs. Trong EC, và trong thực tế của EEA, các qui tắc viện trợ Nhà nước cũng phục vụ như là một công cụ chính sách công nghiệp trorig một khung cảnh rộng hơn quốc gia.

Khi xem xét các chế độ viện trợ Nhà nước khác, điều ghi nhận được là những hiệp định của WTO được đàm phán tại Vòng Uru­guay bao hàm một bước tiến lớn về chất. Sẽ lý thú nhận ra nếu những cải tiến liên quan đến định nghĩa, sự minh bạch và một loạt các công cụ giải quyết tranh chấp dẫn đến một sự vận hành hệ thống tốt đẹp hơn.

Cuối cùng, vậy chính sách viện trợ Nhà nước sẽ thường xuyên được xem xét ở một bối cảnh rộng hơn, nhất là dưới ánh sáng của các nhận định về chính trị và xã hội. Mục đích cố tìm ra những giải pháp cân đối, cho nên không phải luôn dễ dàng và các nhà phê bình thậm chí có thể coi điều đó dẫn đến tình hình có những biến dạng rõ rệt về hiệu quả kinh tế và thương mại trong những trường hợp xử trí quá lỏng lẻo.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).