(và cho đến tận thời cận đại gần đây) thì phụ nữ đã bị phân biệt và giới hạn về quyền hạn và cơ hội.

Nhờ sự sáng suốt và công tâm của Đức Phật mà những người phụ nữ đã được chấp nhận và thọ giới vào Tăng Đoàn của Đức Phật lúc đó, và họ đã chứng minh được sự tiến bộ và xứng  đáng với lòng tin và  kỳ vọng của Đức Phật.

Một số tu sĩ nữ, tức Tỳ kheo Ni, thời đó đã được Đức Phật khen ngợi rất nhiều, ví dụ như Tỳ kheo Ni Bhikkhuni Patacara tinh thông bậc nhất về  Luật  Tạng và Tỳ kheo Ni Bhikkhuni Khema  thông thái  bậc nhất về trí tuệ giác ngộ. Trong số những phụ nữ  là những Phật tử tại gia (Upasikas, Ưu-bà-di) có cô Visakha là bậc nhất về lòng bố thí cúng dường cho Đức Phật và Tăng Đoàn, cô Samavati là người đức hạnh bậc nhất về lòng từ bi.

Nói chung, phụ nữ đã thể hiện khả năng tu hành  và tiềm năng giác ngộ cũng như nam giới và Phật giáo không phân biệt hay nghi ngờ về khả năng này của phụ nữ. Trong lịch sự Phật giáo Nguyên thủy từ thời còn Đức Phật, phụ nữ đã chứng minh  tu  tập được sự hiểu biết, sự tu hành và trí  tuệ  giác  ngộ cũng như nam giới. Phụ nữ tu hành đúng đắn thì  cũng có giác ngộ.

Kinh điển ghi lại rằng Đức Phật ban đầu từ chối không cho những phụ nữ đi tu và gia nhập Tăng Đoàn, mãi cho đến khi ngài Ananda nhiều lần thỉnh cầu Đức Phật, thì Phật mới chấp nhận, và sau đó đã  đề ra nhiều giới luật khắc khe hơn cho bên Ni Đoàn các Tỳ kheo Ni. Nhiều người cũng cho  rằng  Đức Phật có lý do gì đó và đã có ‘phân biệt nam nữ’. Sự thật là không phải vậy. Ý của  Phật là phụ nữ nếu đi  tu là phải hy sinh rất nhiều những bổn phận  và những quan hệ tình cảm sâu đậm của một người phụ nữ đối với gia đình và con cái. Vì vậy, rất khó và sẽ  là những sự hy sinh quá lớn cho bản thân  họ  và người thân nếu những phụ nữ xuất gia đi tu.

Ví dụ đơn giản nhất là những phụ nữ có gia đình con cái nếu xuất gia đi tu, thì hoàn cảnh của những đứa con ở lại thật là đáng lo và khổ sở, trong khi đó nếu một người cha đi tu, thì người mẹ vẫn chăm sóc được cho gia đình và con cái một cách chu toàn, vì tình mẫu tử lúc nào cũng lo toan cho con cái tốt hơn là người cha. (Không có cha thì vẫn ăn cơm với cá, không có mẹ thì lót lá mà nằm), vân vân...

Đức Phật đã nhìn xa trông rộng về điều này. Cho nên sự từ chối ban đầu của Đức Phật là vì những lý do đó và có thể là để cho những người phụ nữ phải suy xét kỹ lưỡng mọi bề trước khi rời bỏ nhà đi tu.

Trong Luật Tạng cũng có ghi lại rằng Đức Phật   đã nói giáo pháp của Phật có thể tồn tại 1.000 năm nếu những phụ nữ không gia nhập vào Tăng Đoàn Phật Giáo (vào thời Đức Phật). Nhưng nếu  chấp  nhận cho những phụ nữ gia nhập vào Tăng Đoàn thì giáo pháp của Phật sẽ bị ‘đoản mệnh’ và chỉ còn tồn tại được 500 năm thay vì 1.000 năm. Đáng  mừng thay đây là một lời tiên đoán sai lầm, chắc có lẽ vì tư tưởng phân biệt nam nữ ở đâu đó  mà người chép kinh có thể đã têm vào sự tiên đoán này. Ni Đoàn Phật giáo vẫn còn tồn tại đến ngày nay, sau khi trải qua bao nhiêu thăng trầm hưng vong trong lịch sử.  Và toàn bộ Tăng Đoàn Phật giáo cũng  như  Giáo Pháp của Đức Phật vẫn còn được lưu  truyền  đến ngày hôm nay, chứ không bị diệt vong trong vòng  500 năm như lời ghi chép đó trong Luật Tạng. (Có  thể đây là một ghi chép nhầm lẫn  hay cố ý trong  kinh điển Phật giáo hay không,  chúng ta cũng khó  mà nói được).

Có lẽ là Đức Phật đã không nói lời tiên đoán này, vì chính Người đã cho phép phụ nữ vào Tăng đoàn   và thành lập Ni Đoàn Tỳ kheo Ni. Một trí tuệ như Đức Phật tại sao lại cho thành lập Ni Đoàn để mà (tiên đoán) Giáo Pháp phải bị đoản mệnh bớt đi 500 năm như vậy?

Nguồn: Vấn Đáp Phật Giáo - Lê Kim Kha (biên soạn)