1. Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là gì?

Thủ tục rút gọn là một dạng đặc biệt của tố tụng hình sự, trong đó có sự giảm lược bớt một số khâu, một số thủ tục không cần thiết trong việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm rút ngắn thủ tục tố tụng, làm cho việc xử lý vụ án được nhanh chóng hơn nhưng vẫn đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm kịp thời, có hiệu quả, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

2. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Theo quy định tại Điều 319 BLTTHS năm 2003 thì thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

Điều kiện thứ nhất là người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang;

Điều kiện thứ hai là sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng-đây được xem là điều kiện mang tính định tính (Sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp và dễ xác định;

Sự việc phạm tội có chứng cứ rõ ràng, có thể hiểu là những chứng cứ phản ánh đầy đủ, chính xác và toàn diện những vấn đề phải chứng minh trong vụ án).

Điều kiện thứ ba là tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đấy là đến ba năm tù (khoản 3 Điều 8 BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Điều kiện thứ tư là người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng: Lý lịch của bị can, bị cáo ảnh hưởng đến năng lực trách nhiệm hình sự của họ; liên quan đến việc quyết định hình phạt (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo). Căn cước, lai lịch của người phạm tội rõ ràng thì thời gian điều tra, xác minh có thể được rút ngắn, thời gian tố tụng được đảm bảo. Đặc điểm về căn cước lai lịch được hiểu một cách chung nhất là nhân thân người phạm tội, bao gồm đặc điểm giới tính, độ tuổi, tôn giáo, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thành phần xã hội, hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh sống, nơi cư trú…

BLTTHS năm 2015 đã quy định mở rộng hơn điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, bổ sung thêm trường hợp người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình và phải đáp ứng 3 điều kiện còn lại là sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Đồng thời điều luật này cũng đã sửa đổi cụm từ “có căn cước, lai lịch rõ ràng” bằng cụm từ “có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng” nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng.

Do phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn được mở rộng đối với cả xét xử phúc thẩm, nên BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định mới các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm (khoản 2 Điều 456). Theo đó, thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi có một trong các điều kiện: a. Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo; b. vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ 4 điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 456 BLTTHS năm 2015 và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

3. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo BLTTHS 2003

Tại Điều 320 BLTTHS 2003 quy định như sau:

Điều 320. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

1. Sau khi khởi tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật này, Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

2. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Cơ quan điều tra và bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

3. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại. Bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định. Khiếu nại được gửi đến Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyết trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

4. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo BLTTHS 2015

Quy định áp dụng thủ tục rút gọn theo BLTTHS 2015 được quy định tại Điều 457 như sau:

Điều 457. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

1. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi vụ án có đủ điều kiện quy định tại Điều 456 của Bộ luật này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

Thủ tục rút gọn được áp dụng kể từ khi ra quyết định cho đến khi kết thúc việc xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 458 của Bộ luật này.

2. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được giao cho bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ, gửi cho người bào chữa trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.

Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra, Tòa án được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.

3. Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không đúng pháp luật thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định, Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và gửi cho Cơ quan điều tra.

4. Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án không đúng pháp luật thì Viện kiểm sát kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định. Chánh án Tòa án phải xem xét, trả lời trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát.

5. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại. Bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Khiếu nại được gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyết trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Điều 457 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có những sửa đổi một cách căn bản so với Điều 320 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Cụ thể là:

Thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn thuộc về 03 cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thay vì trước đây chỉ có Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định. Như vậy, quy định mới đã tạo sự chủ động và tăng cường trách nhiệm cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tùy vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể, các cơ quan này quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn khi vụ án có đủ điều kiện.

Một điểm mới cơ bản của Điều 457 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 so với khoản 1 Điều 320 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là: xác định rõ trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn khi có đủ điều kiện. Quy định này đã khắc phục tình trạng tùy nghi trong việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án hình sự, bởi vì, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn khi vụ án có đủ các điều kiện.

Thời điểm áp dụng thủ tục rút gọn không phải là sau khi khởi tố vụ án như quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 mà là sau 24 giờ kể từ khi vụ án có đủ điều kiện. Điều này có nghĩa trong các giai đoạn tố tụng: điều tra, truy tố, xét xử bất kỳ thời điểm nào, khi vụ án có đủ điều kiện thì cơ quan có thẩm quyền ở giai đoạn đó phải có trách nhiệm áp dụng ngay thủ tục này đề giải quyết vụ án nhanh chóng. Ví dụ: vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn điều tra, truy tố nhưng qua nghiên cứu hồ sơ, Tòa án thấy đủ điều kiện áp dụng thì phải ra ngay quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án.

Hiệu lực của quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được thực hiện từ khi ban hành quyết định đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 458 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Như vậy, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn chỉ ban hành 01 lần và được thực hiện suốt ỗ các giai đoạn tố tụng sau. Trong thời hạn 24 giờ sau khi ban hành quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, cơ quan đã ban hành phải gửi ngay quyết định cho Viện kiểm sát, bị can, bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp.

Trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát tính có căn cứ của các quyết định áp dụng của Cơ quan điều tra và Tòa án. Nếu xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không có căn cứ thì trong thời hạn 24 giờ, Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định của Cơ quan điều tra. Nếu xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án không có căn cứ thì Viện kiểm sát kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định và Chánh án phải xem xét trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát trong thời hạn 24 giờ.

5. Hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Việc hủy bỏ quyết định áp dụng được quy định tại Điều 458 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đây là một quy định mới so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Điều 458. Hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn, nếu một trong các điều kiện quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 456 của Bộ luật này không còn hoặc vụ án thuộc trường hợp tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và giải quyết vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.

Thời hạn tố tụng của vụ án được tính tiếp theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ khi có quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Như vậy, theo quy định trên ta có:

Căn cứ hủy bỏ là: khi vụ án không còn một trong các điều kiện quy định tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 456 hoặc vụ án đã được đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc hồ sơ vụ án phải trả lại để điều tra bổ sung.

Thẩm quyền hủy bỏ: tùy theo từng giai đoạn tố tụng, cơ quan có thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn sẽ ra quyết định hủy bỏ khi có các căn cứ nêu trên. Ngoài ra, Viện kiểm sát có thẩm quyền hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra theo quy định tại khoản 3 Điều 457 Bộ luật tố tụng hình sự.

Sau khi hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn giải quyết và trình tự giải quyết được thực hiện theo thủ tục chung. Tuy nhiên, cần lưu ý thời hạn điều tra, tạm giữ, tạm giam theo thủ tục rút gọn phải trừ vào thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)