1. Khái quát chung

Ngày nay, khó có ai có thể tưởng tượng được rằng trong hoạt động kinh tế nói riêng và trong đời sôhg xã hội nói chung lại thiếu bóng dáng của những công ty. Tuy là một trong những vân đề lớn của xã hội hiện đại, nhưng công ty, hay nói đúng hơn, một loại hình lâu đời nhâ't của nó, được người ta tìm thâỳ dâù vết về sự tổn tại vào khoảng hàng nghìn năm trước Công nguyên qua Bộ luật Hammurabi . Đó là loại hình công ty hợp danh.
Những quan điểm về phân loại doanh nghiệp?
Bởi nhu cầu sôhg và mong muốn trở nên giàu có, một sô' người tham gia vào các hoạt động mua bán, trao đổi, dịch vụ hay sản xuất đê’ kiếm lời, rổi dần dần phân hóa thành một tầng lớp chuyên sông bằng nghề thương mại mà thường được gọi là thương nhân. Nhung bản thân những hoạt động đó lại chứa đựng nhiều rủi ro dẫn đến sự cần thiết liên kết, hợp tác với nhau để nhằm tói những mục tiêu lớn hơn và san sẻ rủi ro. Cho tới nay có lẽ người ta chưa tìm đủ những tài liệu lịch sử làm rõ con đường hình thành các hình thức công ty hay các hình thức liên kết giữa những người đầu tư nhằm mục đích kinh tê'. Tuy nhiên sự phỏng đoán hay sự suy diễn có thể được đặt ra và bắt đầu từ thương nhân đon lẻ.

2. Ưu điểm của thương nhân đơn lẻ

Thương nhân đơn lẻ có những điểm lợi như:
- Được hưởng toàn bộ lợi nhuận;
- Tự định hướng và mục tiêu kinh doanh;
- Không chậm trễ trong việc ra quyết định;
- Đáp ứng khách hàng nhanh chóng;
- Quan hệ gần gũi với khách hàng;
- Bảo đảm bí mật kinh doanh;
- Có động cơ thúc đẩy làm việc chăm chỉ;
- Giám sát chặt chẽ hoạt động sản xuâ't, kinh doanh.
Tuy nhiên, ngược lại, thương nhân đơn lẻ phải gánh chịu nhiều điểm bâ't lợi như:
- Phải làm việc vâ't vả;
- Chịu trách nhiệm cá nhân và vô hạn đô'i với các khoản nợ;
- Bị hạn chê'về vôh;
- Khó mở rộng hoạt động sản xuâ't, kinh doanh, và đổi mói công nghệ;
- Giá thành sản phẩm cao, khó khăn trong việc cạnh tranh;
- Khi chết, không có gì bảo đảm người thừa kế thích hoặc có khả năng duy trì doanh nghiệp .
Có lẽ, vì thế, nhiều thương nhân đơn lẻ mong muôn tìm kiếm bạn hữu (partner) để cùng nhau tiêh hành các hoạt động kinh doanh dưới dạng công ty hợp danh hay hội hợp danh (partnership) một hình thức công ty ra đời đẩu tiên trên thệ'giới. Rổi xuất hiện thêm hình thức công ty hợp vôh đon giản cùng thời. Tiếp đó công ty cổ phần ra đời để đáp ứng hữu hiệu các nhu cầu của xã hội công nghiệp và thương mại. Và ba hình thức công ty này đã trở thành ba hình thức công ty cơ bản. Người ta đã lây một sô' yêù tố của công ty hợp danh kết hợp với một sô' yếu tô' của công ty cổ phần để tạo lập ra hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên. Cũng như vậy một sô' yêù tô' của công ty họp vôh đơn giản kết hợp với một sô' yếu tô' của công ty cổ phần thành hình thức công ty họp vốn cổ phần. Do nhu cầu thực tê' hoặc những đòi hởi pháp lý, nhiều hình thức công ty khác cũng đã được tạo lập như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty dự phần, công ty có vốn bất định, các tập đoàn... Tuy nhiên sự phân biệt giữa các hình thức công ty hay sự tạo lập nên các hình thức công ty có thể dựa trên một sô' yếu tô' nhất định như SỐ lượng người góp vốn, chế độ trách nhiệm của người góp vốn, mối quan hệ giữa những người góp vôn, tư cách của người góp vôn, và chê' độ về vôh. Các yêù tô' này là hữu hạn. Do đó các hình thức công ty cũng không thể là vô hạn. Vì thê' các hình thức công ty ở nước này không có nhiều khác biệt với các hình thức công ty ở nước khác. Chẳng hạn: Vương quốc Anh có một hệ thống thương mại phát triển lâu đời, phân chia các tổ chức được tạo lập trong đời sôhg xã hội thành hai hệ thông thuộc sở hữu công và sở hữu tư:

3. Các tố chức thuộc sở hữu công

bao gồm:
- Công ty công cộng- ngành quốc hữu hoá (Public corporation- nationalised industries);
- Công ty công cộng- nhà chức trách địa phương (Public corporations- local authorities);
- Các bộ thuộc chính quyền trung ương (Central government departments);
- Tổ chức chính phủ chuẩn tự trị (Quasi- autonomous governmental organizations- viết tắt là QUANGO) gổm các tổ chức thực hành, tổ chức tư vâh và các toà án trọng tài.

4. Các tô’chức thuộc sở hữu tư

bao gồm:
- Thương nhân đơn lẻ (Sole traders);
- Công ty hợp danh (Partnerships);
- Công ty trách nhiệm hữu hạn tư (Private limited companies);
- Công ty trách nhiệm hữu hạn công cộng (Public limited companies), trong đó gổm cả công ty đa quốc gia (Multi- national corporations) và các công ty tập đoàn (Conglomerate companies) .
Các chế độ cũ ở Việt Nam có các hình thức công ty theo hệ thôhg của Pháp. Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 đã nhắc đến các hội thương mại như: hội hợp danh, hội hợp tư đơn thường, hội nặc danh, hội trách nhiệm hữu hạn. Có quan niệm cho rằng các thương nhân đơn lẻ hay thương nhân thể nhân cũng là công ty. Trong cuốn "Các công ty thương mại", Nguyễn Mạnh Bách đã nhắc tới hai loại công ty không có tư cách pháp nhân - đó là hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân .
Các hình thức công ty khác nhau ra đời để đáp ứng nhu cầu liên kết của những nhà đầu tư mong muôn tìm kiêm lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, chúng xuâ't hiện trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử và phản ánh phẩn nào sự phát triêh, cũng như các đòi hỏi của kinh tê) xã hội ở giai đoạn đó. Song tâ't cả chúng vẫn cùng tồn tại.
Ngày nay còn có những hình thức công ty không có sự liên kết. Đó là hình thức công ty cổ phần một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Vì vậy, nêù hiểu công ty là sự liên kết giữa những người đầu tư để cùng tìm kiếm lợi nhuận thì e
rằng không thật chính xác. Có thể hiểu công ty là hình thức khai thác hay vận hành doanh nghiệp. Các công ty có thể được chia thành nhiều loại khác nhau với nhiều căn cứ khác nhau.
Căn cứ vào luật điều chỉnh, có thê’ chia các công ty thành công ty dân sự và công ty thương mại. Cách phân chia này là hệ quả của sự phân biệt giữa luật dân sự và luật thương mại, và sự phân biệt giữa thương nhân và phi thương nhân (người thường). Công ty thương mại là công ty chuyên tiến hành các hành vi thương mại. Còn công ty dân sự là công ty lập ra vì mục đích tiến hành các hành vi dân sự. Cách thức phân loại này vẫn thường gặp ở các nước có truyêh thông pháp điển hóa riêng biệt giữa luật dân sự và luật thương mại. Các chế độ cũ ở Việt Nam cũng có cách thức phân loại này. Tuy nhiên cách phân loại này cũng gặp phải những khó khăn nhâ't định. Chẳng hạn các công ty chuyên về bâ't động sản, các hợp tác xã nông nghiệp, các công ty cung ứng điện, các công ty cung ứng nước, các công ty vệ sinh môi trường, các trường tư thục không phải là các công ty dân sự đơn thuần. Đôì với những công ty vừa tiến hành các hành vi dân sự, vừa tiến hành các hành vi thương mại, thì việc ứng dụng cách thức phân loại này gặp nhiều khó khăn. Thông thường người ta phải xem hoạt động của công ty nghiêng về dân sự hay thương mại để xác định. Những khó khăn như vậy đã dẫn đa sô' các nền tài phán đến chỗ phân biệt công ty dân sự với công ty thương mại bởi hình thức của chúng , có nghĩa là các công ty được thành lập dưới hình thức các công ty thương mại thì được xem là công ty thương mại. Tuy nhiên quan niệm này chỉ ứng dụng riêng cho các hình thức công ty thương mại rõ rệt như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty họp vôh cổ phần. Công ty dân sự cũng* có thể thành lập dưới hình thức công ty họp danh- một hình thức công ty thương mại, nhưng không xét đến tư cách thương nhân đôì với các thành viên của nó. Giáo trình này chỉ nói tới các công ty thương mại.
Các hình thức công ty thương mại (sau đây gọi là công ty) thông thường bao gồm: công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty dự phần, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp vốn cổ phẩn. Ngoài ra còn có các tập đoàn hay các nhóm công ty.
Các công ty thương mại có thê’ được chia ra thành các loại khác nhau. Căn cứ vào tính châ't liên kết, công ty có thể được phân loại thành công ty đối nhân và công ty đối vốn. Công ty đối nhân là công ty mà các thành viên của nó có quan hệ gần gũi, tin cậy lẫn nhau mà vì thê'được lập ra. Trong công ty đối nhân, phần lợi công ty của thành viên gắn với nhân thân không được chuyển nhượng cho người ngoài, trừ khi được sự nhất trí của các thành viên khác. Công ty hợp danh, công ty hợp vôh đơn giản và công ty dự phần là các hình thức công ty đối nhân.
Công ty đôì vôh là công ty chú trọng tới vôh góp của các thành viên mà sự quen biết và tin cậy lẫn nhau giữa họ không cần thiết. Công ty cổ phần là hình thức công ty đôi vôh điển hình mà các thành viên của nó là những cổ đông nắm giữ cổ phần có thể tự do chuyển nhượng.
Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp vôh cổ phần là các hình thức công ty lai ghép giữa công ty đối nhân và công ty đôì vổn. Vì thê' có tác giả xếp công ty trách nhiệm hữu hạn vào công ty đối vốn. Nhưng có tác giả khác xếp nó vào công ty đối nhân. Có lẽ xem nó là đô'i vôh hay đôì nhân cần phải linh động cho từng trường họp cụ thể.
Công ty có thể được phân loại theo quốc tịch. Các yêù tô' thường được sử dụng để xác định quốc tịch của công ty bao gồm: Nơi đóng trụ sở chính của công ty, nơi thành lập hoặc đăng ký kinh doanh, quốc tịch của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu của công ty, nơi tiến hành các hoạt động kinh doanh chủ yếu... Các nước có thể lựa chọn một trong các yêu tô' hoặc kết họp nhiều yếu tố nêu trên đê’ xác định quốc tịch của công ty, hoặc tôn trọng cam kết quốc tế mà trong đó có xác định quốc tịch công ty. Luật Doanh nghiệp 2020 qui định: "Quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh". Gạt bỏ cách viết và quan niệm về doanh nghiệp của qui định này, có thể thâỳ việc xác định quốc tịch như vậy có tính đến chính sách kinh tế lớn của Việt Nam hiện nay liên quan tới đầu tư. Việc xác định quô'c tịch của công ty hay thương nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và áp dụng qui chế pháp lý riềng cho công ty trong nước và công ty nước ngoài. Tuy nhiên cần thấy rằng việc xác định quôc tịch công ty còn phụ thuộc vào từng thời kỳ hay phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Chẳng hạn: (1) Trong thời chiến, cần thiết lập chế độ đặc biệt đối với các công ty của đối phương bằng việc xác định quốc tịch công ty; (2) Hãng vận chuyển hàng không cần được xác định quổc tịch căn cứ vào các yếu tô' khác với căn cứ xác định các công ty kinh doanh trong các ngành nghề khác để bảo đảm lợi ích của nước sở tại liên quan tới chủ quyền quốc gia về vùng trời và vận chuyển hàng không.

5. Phân loại công ty

Công ty có thê’ được chia thành, các công ty có chê' độ trách nhiệm vô hạn và các công ty có chê'độ trách nhiệm hữu hạn.
Các công ty trách có chế độ trách nhiệm vô hạn
Theo truyền thống và về nguyên tắc, đô'i với các công ty loại này có các vân đề sau cần chú ý. Các hình thức công ty này có đặc điểm chung là các thành viên đều có trách nhiệm vô hạn và rủi ro trong kinh doanh rất lớn mà khiêh thành viên có thê’ bị tiêu tán hê't sản nghiệp (trừ thành viên góp vốn của công ty hợp vốn đơn giản). Chúng có thê’ được chia thành hai loại là: (1) Các công ty có đăng ký, và có tư cách pháp nhân như công ty dân sự, công ty họp danh và công ty hợp vốn đơn giản và tập đoàn kinh tế; (2) Các công ty không có đăng ký, và không có tư cách pháp nhân như tập đoàn kinh tế, công ty dự phần.
Việc tham gia vào công ty có chê' độ trách nhiệm vô hạn của một người đê’ trở thành một thành viên có trách nhiệm vô hạn cần suy nghĩ hết sức thận trọng và với tinh thần trách nhiệm râ't cao. Cơ sở để lập nên các công ty này là tư cách cá nhân và sự tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên. Do vậy, chúng được gọi là công ty đôì nhân như đã nói ở trên. Cần lưu ý rằng pháp nhân cũng có thế là thành viên của công ty đối nhân mà trách nhiệm vô hạn định của nó xen xét trên cơ sở trách nhiệm của pháp nhân là thành viên của công ty. Có hai loại trách nhiệm vô hạn là đổng trách nhiệm và trách nhiệm liên đới. Các công ty dân sự thường được hưởng chế độ đổng trách nhiệm, tức là mỗi người chỉ chịu trách nhiệm về phần mình mà không chịu trách nhiệm về phần của các thành viên khác. Các công ty thương mại phải chịu chế độ trách nhiệm liên đới và vô hạn định đối với các khoản nợ của công ty. về nguyên tắc, trường họp một thành viên bị chết hoặc bị phá sản hoặc bị cấm kinh doanh, công ty bị giải thể. Thành viên trong trường hợp ra khỏi công ty, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về sô' nợ của công ty phát sinh trong thời gian thành viên đó còn là thành viên của công ty.
Công ty dự phần là một loại hình công ty không có tư cách pháp nhân do các thành viên lập ra cho mục đích kinh doanh và không đăng ký. Công ty dự phần không có tài sản riêng, không có trụ sở, và thường được sử dụng trong việc họp tác giữa các công ty trên cơ sở các cam kết, không theo một khuôn mẫu định sẵn, ví dụ như hợp tác kinh doanh trên cơ sở họp đồng theo pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài.
Công ty thực tế là công ty đã có đăng ký kinh doanh, nhưng bị huỷ bỏ như đã nghiên cứu ở Mục nói về qui chế thương nhân, hoặc công ty hết hạn mà vẫn hoạt động, hoặc công ty bị vô hiệu mà chưa bị tuyên bô' vô hiệu. Công ty được thành lập thực tê' là công ty được tạo lập trên thực tê' và có tiến hành các hành vi thương mại thường xuyên, không kê’ đến việc có hay không họp đồng bằng văn bản giữa các bên, và không đăng ký kinh doanh, nhưng các thành viên xử sự với nhau như các thành viên của một công ty thực sự. Điều 7, Luật Thương mại 2005 có qui định ngụ ý loại công ty này. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có giải pháp liên quan tới loại công ty này. Việc thừa nhận công ty thực tế và được thành lập trên thực tế là cần thiết để không loại bỏ những trường hợp diễn ra trong đời sông thường nhật có khả năng gây ảnh hưởng đêh cộng đổng ra ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật.
Các công ty có chếđộ trách nhiệm hữu hạn
Thông thường có ba loại hình công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp vôh cổ phần. Hình thức công ty cổ phần và hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn râ't phổ biến ở các nước hiện nay. Công ty cổ phẩn niêm yết thường được xam là hình thức công ty hoàn bị nhất.
Ngoài ra, còn có công ty có vôh bâ't định. Đây là hình thức công ty có điều lệ mà trong đó có điều khoản qui định rằng vốn của công ty không ân định, có thể tăng do thêm thành viên góp vôn hoặc giảm do thành viên rút tâ't cả hay một phần vôh ra khỏi công ty. Luật Doanh nghiệp 2020 không có qui định hình thức công ty này, nhưng pháp luật của Pháp đã nói có dự liệu về nó. Hình thức công ty này giúp cho những người ít vôn có thể đầu tư kinh doanh mà vẫn có thể rút tiền ra khi cần thiết.
Công ty có vốn đầu tư nước ngoài là hệ quả trực tiếp của chính sách khuyến khích nước ngoài đẩu tư và thu hút FDI (đầu tư trực tiếp của nước ngoài) của Việt Nam. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã thay đổi về cách thức điều tiết vân đề đầu tư nước ngoài, nhưng vẫn phải kê’ đến ba hình thức đầu tư là: Hợp đổng hợp tác kinh doanh; Doanh nghiệp liên doanh (được xem là công ty trách nhiệm hữu hạn nhưng có phần vôh của nước ngoài); Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (cũng được xem là công ty trách nhiệm hữu hạn).
Công ty quốc doanh, công ty công- tư họp doanh, và công ty quô’c gia là các loại công ty này hiện đang tổn tại trên thế giới, về hình thức, các công ty này cũng giông với hình thức các công ty thương mại, và cách hiểu thông thường trên thế giới là: (1) Công ty quốc doanh thực chất là nhà nước kinh doanh dưới hình thức công ty mà ở nước ta gọi là xí nghiệp công nghiệp quốc doanh hay doanh nghiệp nhà nước; (2) Công ty công- tư hợp doanh là công ty mà vôn của nó có phần vôh của nhà nước và phần vôn của tư nhân, nhưng nhà nước chi phôi về tổ chức và hoạt động; (3) Công ty quôc gia có thể là công ty quốc doanh hoặc công ty công- tư hợp doanh, nhưng có vị trí, vai trò đặc biệt trong nêh kinh tế quốc dân, thực thi chính sách kinh tế lớn mà được nhà nước hỗ trợ thường xuyên, ví dụ, Công ty quốc gia Air France, Hãng hàng không quốc gia (Vietnam Airlines). Thông thường các loại công ty này thuộc phạm vi điều chỉnh của luật công vê' phần tổ chức. Song chúng vẫn là các thương nhân.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê