1. Tranh chấp tài sản khi tiến hành thủ tục ly hôn ?

Thưa luật sư, Sau khi vợ chồng em ly hôn. Chồng em không kết hôn nữa. Và con em là con duy nhất. Vậy sau này con em có được quyền sở hưu ngôi nhà mà chồng em đang sống hiện nay không? Và em phải làm như nào? Vì chồng cũ em là con duy nhất, không có anh chị em ruột. Nếu em đổi họ tên cho con em. Em lấy tên em trai mình làm tên bố trong giấy khai sinh ( bố nuôi ).
Thì con em có quyền được hưởng toàn bộ tài sản của chồng em không?
Em xin cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, các con của người chết sẽ là người thừa kế di sản, không phân biệt là cùng hay khác hộ khẩu hay cha mẹ đã ly hôn hay chưa.

Thưa luật sư! Vợ tôi đi ngoại tinh va bi bắt quả tang và cả tình nhân của chúng cũng thú nhận và đã viết giấy tường trình sự việc, nếu dẫn đến chúng tôi ly hôn thi kẻ đã gây ra có bị phạt tù không?

=> Điều 182 BLHS 2015 quy định:

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

.Như vậy trong trường hợp này, người đó có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.theo quy định tại điểm a, khoản 1 điều 182 BLHS 2015.

Thưa luật sư, cháu có câu hỏi muốn được tư vấn ạ.cháu và chồng cháu đồng thuận ly hôn nhưng cả hai đều ở nước ngoài đã viét đơn luật sừ cho cháu hỏi hai bên có hai mẹ của cháu và chồng cháu có làm thủ tục ly hôn cho được không hay có cách gì không ạ ? Cảm ơn!

=> Khoản 4 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

4. Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.

Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện.

Như vậy, sau khi làm hai lần thủ tục hòa giải đoàn tụ vợ chồng không thành và hoàn tất hồ sơ, tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho vợ chồng bạn mà không phải ra tòa. Hoặc bạn có thể viết đơn yêu cầu giải quyết ly hôn vắng mặt gửi lên Tòa án để được xem xét giải quyết.

Chào luật sư, cách đây khoảng 6 tháng, 2 vợ chồng tôi đã ly hôn. Nay tôi muốn tách hộ khẩu giữa tôi và vợ tôi nhưng vợ tôi làm khó nên đã giấu mất hộ khẩu, tôi ko làm sao lấy lại được . Như vậy có cách nào khác để tách được hộ khẩu không ( trong hộ khẩu tôi là người đứng chủ hộ và căn nhà đang ở cũng do tôi đứng tên ) và khi đó tách làm 2 hộ khẩu trên cùng 1 địa chỉ được không ạ ?

=> Điều 27 Luật cư trú 2006 sửa đổi năm 2013 quy định:

Điều 27. Tách sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Như vậy, bạn cần phải có sổ hộ khẩu để làm thủ tục tách thửa. Bạn có thể tách hai hộ khẩu trên cùng một chỗ ở hợp pháp.

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi chung sống đã được 10 năm và có hai con gái (6 tuổi và 10 tuổi). Trong thời gian chung sống có xảy ra mâu thuẫn (đánh đập, chửi bới...) và tôi quyết định gửi đơn ra tòa án ly hôn. Nhưng trong thời gian tòa gọi hòa giải thì chồng tôi bị bệnh phải nhập viện. Vậy cho tôi hỏi: Trong thời gian chồng tôi nằm viện thì tòa có giải quyết ly hôn vắng mặt được không?

=> Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Điều 228. Xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa.

3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này.

Trong trường hợp nếu chồng bạn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn vắng mặt.

Thưa luật sư, xin cho tôi hỏi : Trong bản án Ly hôn của tôi , Tôi và Chồng tôi đồng ý để lại ngôi nhà cho Con , hiện nay Con tôi đang Du học , vậy sau này khi chuyển quyền sử dụng nhà sang tên cho Con thì có cần ông ấy ra ký tên không ạ ? Xin Cám ơn Quí Luật sư !

=> Điều 39 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

Điều 39. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
4. Quyền, nghĩa vụ về tài sảngiữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Như vậy, bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là căn cứ để có thể chuyển quyền sử dụng đất cho con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2020 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

2. Con muốn ở với mẹ thì Tòa án có giao con cho bố nuôi khi ly hôn không ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê, tôi và chồng có một con trai năm nay 16 tuổi. Nếu vợ chồng tôi ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ thì Toà án có xử phải ở với bố không?
Mong sớm nhận được phản hồi của công ty. Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 20144 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp, con bạn hiện nay đã được 16 tuổi, còn vợ chồng bạn đang muốn ly hôn, nguyện vọng của con bạn sau khi ly hôn là muốn ở cùng với bạn. Vì những thông tin bạn cung cấp không đầy đủ và không rõ ràng như bạn không nêu rõ lý do vì sao vợ chồng bạn muốn ly hôn? Không nói rõ về điều kiện thu nhập, công việc của hai vợ chồng hiện nay như thế nào? Điều kiện hoàn cảnh gia đình chồng ra sao? Do đó, trong trường hợp này, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, mặc dù con bạn có nguyện vọng ở cùng với mẹ nhưng để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho con bạn thì vợ chồng bạn có cùng thỏa thuận với nhau để con cho chồng bạn nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Lúc này, Tòa án cũng sẽ xem xét nguyện vọng của con bạn (khi cháu đã đủ 07 tuổi trở lên) nhưng vẫn ưu tiên về việc thỏa thuận của hai vợ chồng bạn để đảm bảo cuộc sống, lợi ích tốt nhất cho con bạn. Khi đó, mặc dù con bạn có nguyện vọng ở cùng với mẹ nhưng Tòa án giải quyết vụ việc ly hôn của vợ chồng bạn sẽ căn cứ vào yêu cầu của vợ chồng bạn và Tòa án có thể ra Bản án/ Quyết định giao con cho người chồng là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc con sau khi ly hôn khi người chồng chứng minh chồng đủ điều kiện để chăm sóc con tốt nhất về mọi mặt cho con còn người vợ thì không có khả năng, không đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con tốt bằng người chồng.

Thứ hai, nếu cả hai vợ chồng đều có mong muốn, có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Lúc này, con bạn đã được 16 tuổi thì Tòa án sẽ ưu tiên cho người cháu muốn ở cùng sau khi bố mẹ ly hôn. Tuy nhiên, kể cả trường hợp con muốn ở với mẹ nhưng người mẹ không đủ điều kiện, không đủ khả năng để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có khả năng Tòa án vẫn sẽ giao con cho chồng nuôi khi người chồng chứng minh được mình có đủ điều kiện, đủ khả năng, đủ điều kiện về kinh tế, tài chính, kể cả điều kiện về tinh thần để nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Chính vì vậy, theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sau khi bố mẹ ly hôn thì bố mẹ tự thỏa thuận với nhau về việc nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, khi con từ đủ 07 tuổi trở lên Tòa án chỉ phải "xem xét" nguyện vọng của con, chứ theo quy định của pháp luật không quy định "bắt buộc" phải theo nguyện vọng của con. Do đó, chỉ căn cứ duy nhất vào nguyện vọng của người con khi con đã được 16 tuổi thì không chắc chắn để người cháu có nguyện vọng ở cùng sẽ chắc chắn được Tòa án giao con cho trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: thỏa thuận của hai vợ chồng; điều kiện, khả năng nuôi dưỡng con sau khi ly hôn của cha hoặc mẹ; đảm bảo lợi ích tốt nhất về mọi mặt của con để bảo vệ lợi ích chính đáng của con sau khi bố mẹ ly hôn; điều kiện, hoàn cảnh của gia đình của người chồng cũng như của người vợ,...

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Không thực hiện cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn phải giải quyết như thế nào?

3. Phân chia tài sản sau khi ly hôn theo luật hôn nhân gia đình ?

Xin chào luật sư, xin luật sư cho em hỏi sau khi vợ chồng em kết hôn mẹ chồng em có cho 1000m2 nhưng mẹ chồng em vẫn đứng tên và vừa rồi vợ chồng em xây một ngôi nhà trên mảnh đất đó nhưng tiền xây nhà cũng do mẹ chồng em cho để xây.
Bây giờ 2 vợ chồng em xảy ra tranh cải và muốn ly hôn.Vậy thưa luật sư mảnh đất đó có được chia đôi không ? Nếu không chia đúng hay sai ?
Xin cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

=> Như vậy, nếu chứng minh được mảnh đất đó là tài sản riêng thì sẽ không được chia đôi. Còn trong trường hợp tài sản đó là tài sản chung thì về nguyên tắc sẽ chia đôi nhưng căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Không kết hôn có được xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không ?

>> Xem thêm:  Xin mẫu đơn ly hôn mới nhất năm 2020 ? Hướng dẫn thủ tục ly hôn nhanh ?

4. Không có giấy chứng nhận kết hôn có được yêu cầu ly hôn ?

Xin chào Luật sư! Em có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Bố mẹ em muốn li hôn sau gần 30 năm chung sống. Em xin tóm tắt về hoàn cảnh gia đình của em như sau ạ. Bố em đã có một đời vợ và hai người con trai, sau khi li hôn với vợ trước, bố mẹ em đến với nhau, không đám cưới, không đăng ký kết hôn từ năm 1989.
Đến năm 2006, mẹ em được bên Ủy ban nhân dân xã làm cho một giấy đăng ký kết hôn, và làm lại sổ hộ khẩu, bìa đỏ đất, tất cả đều có ghi tên mẹ em trong quan hệ với chủ hộ (là cha em) - là vợ. Nhưng sau đó, cha em không ký vào tờ giây đăng ký kết hôn mà xé đi. Hiện tại sổ hộ khẩu gia đình và bìa đất đều có tên mẹ em cùng với tên cha em. Sau 30 năm chung sống, cha em nhiều lần ngoại tình (tính đến nay đã là lần thứ 4), hay rượu chè, say xỉn, đánh đập hành hạ mẹ con em. Ông đã không dưới 10 lần đánh mẹ em nhập viện, lần nằm viện lâu nhất là 1 tháng. Với con cái luôn thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Hiện tại, tổng nợ mà cha mẹ em phải trả bao gồm: - Nợ tín dụng 350 triệu đồng - Mẹ em vay phường để trả lãi tín dụng hằng tháng, cho cha em đi bán bảo hiểm, lo các chi phí khác tính đến nay còn 187 triệu. Hiện tại cha em yêu cầu mẹ em li hôn và thanh toán nợ nần, tài sản. Tuy nhiên ông ấy muốn mẹ em ra đi tay trắng vì vu cho mẹ em tội "bỏ nhà, bỏ chồng ra đi" và hợp thức hóa việc ngoại tình của mình. Hiện tại ông ta không cho phép mẹ em về nhà, và cũng tuyên bố sẽ đơn phương li hôn. Vậy em muốn nhờ văn phòng luật sư tư vấn giúp em:
- Nếu cha em đơn phương li hôn, mẹ em cần những thủ tục gì để chứng minh mình có quyền lợi trong khối tài sản chung? Vì hiện tại giấy ĐKKH mẹ em không có, đã bị cha em xé từ trước
- Khối nợ chung của cả hai người sẽ được phân chia như thế nào, đặc biệt là số nợ phường mà mẹ em đã vay dưới tên mẹ em. Em muốn xin thủ tục li hôn ?
Em xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bố và mẹ bạn đã sống chung với nhau từ năm 1989 và không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên thì đến năm 2006, mẹ bạn được bên Ủy ban nhân dân xã làm cho một giấy đăng ký kết hôn. Việc ủy ban nhân dân xã tự ý cấp cho mẹ bạn giấy chứng nhận kết hôn là trái với pháp luật và giấy chứng nhận kết hôn này không có hiệu lực pháp luật. Thời điểm ủy ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận kết hôn cho mẹ bạn là năm 2006 nên việc đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

Như vậy, việc bố bạn không tham gia vào quá trình đăng ký kết hôn nên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn mà ủy ban nhân dân xã cấp cho mẹ bạn là không có giái trị pháp lý. Giữa bố và mẹ bạn không tồn tại quan hệ vợ chồng. Vì vậy, việc phân chia tài sản khi bố mẹ bạn không còn sống chung thì sẽ được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc xửa lý tài sản trong trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Cụ thể như sau:

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Như vậy, việc phân chia tài sản và các khoản nợ mà mẹ bạn đứng tên sẽ được thực hiện theo thỏa thuận của các bên. Nếu các bên không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết. Việc để Tòa án giải quyết thì sẽ phải chịu mức phí rất cao. Vì vậy, tốt nhất cả bố mẹ bạn nên thỏa thuận với nhau để tránh cho việc phải mất một khoản tiền lớn cho phía tòa án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Quyền ly hôn của người vợ theo quy định mới nhất ? Thủ tục ly hôn cần những giấy tờ nào ?

5. Vợ không có việc làm khi ly hôn chồng có được nuôi cả hai con không ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Tôi muốn hỏi vợ chồng tôi muốn ly hôn mà hai vợ chồng có hai cháu nhỏ. Khi ly hôn, vợ tôi hiện tại không có việc làm thì tôi có được quyền nuôi con không?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.
Tên khách hàng: Ngọc Quang

Trả lời:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, trong trường hợp của bạn, hai vợ chồng bạn sẽ thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Tuy nhiên, nếu trong trường hợp con của bạn dưới 36 tháng tuổi thì cháu bé sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Nếu con của bạn từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét đến nguyện vọng của con.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?