- Khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

- Điều 11 Bộ luật hình sự quy định

Điều 11. Sự kiện bất ngờ

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.Theo quy định này sự kiện bất ngờ là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không cố ý hoặc vô ý,tức là không có lỗi,không đủ dấu hiệu của tội phạm..Vì vậy sự kiện bất ngờ không phải là tội phạm

-Khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình sự quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như sau :

 Điều 13 Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

-Hành vi  phòng vệ chính đáng được thừa nhận là hành vi hợp pháp và không phải chịu trách nhiệm hình sự.Khoản 1 Điều 15 :

 Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

- Hành vi trong tình thế cấp thiết dù gây nguy hại cho xã hội  nhưng cũng không phải là tội phạm 

Điều 16. Tình thế cấp thiết

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành  vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

Như vậy chỉ người nào thực hiện những hành vi quy  thuộc khoản 4 Điều 8, Điều 11,điều 13,điều 15,Điều 16 tuy có dấu  hiệu  của tội phạm nhưng không phải là tội phạm,người thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự.Tuy nhiên trong Điều 15;Điều 16 cũng có những ngoại lệ đó là trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và vượt quá yêu cầu tình thế cấp thiết. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả  rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.(Khoản2 Điều 15) Khoản2 Điều 16: Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn Luật hình sự