1. Nộp đơn ly hôn ở đâu khi không sống cùng tỉnh ?

Thưa Luật sư, tôi muốn ly hôn nhưng vợ của tôi ở miền nam còn tôi thì ở ngoài bắc. Vậy xin luật sư cho tôi hỏi bây giờ tôi muốn làm đơn đơn phương ly hôn thì tôi phải nộp ở tòa án nơi tôi cư trú hay nơi vợ tôi cư trú, giấy tờ gồm có những gì? Tôi có phải vào trong miền nam giải quyết hay vợ tôi có phải ra ngoài bắc để giải quyết hay không?
Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn !

Nộp đơn ly hôn ở đâu khi người trong Nam, người ngoài Bắc?

Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Về hồ sơ xin ly hôn, bạn cần chuẩn bị những giấy tờ sau:

- Đơn xin ly hôn. (Nếu hai người thuận tình ly hôn thì đơn ly hôn của vợ hoặc chồng phải có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc sứ quán Việt Nam tại nước ngoài).

- Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có công chứng bản chính).

- Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn kiện.

- Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

- Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

- Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

- Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn. Trong trường hợp các bên không tiến hành ghi chú nhưng vẫn muốn ly hôn thì trong đơn xin ly hôn phải trình bày rõ lý do không ghi chú kết hôn.

Về việc nộp đơn ly hôn: Do thông tin bạn cung cấp không cụ thể trường hợp ly hôn của vợ chồng bạn là thuận tình ly hôn hay đơn phương xin ly hôn nên chúng tôi tư vấn cho bạn theo hai trường hợp sau:

- Trường hợp thuận tình xin ly hôn: Các bên làm đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Tại điểm h khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 quy định về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau: “Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Như vậy bạn có thể lựa chọn tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn khi ly hôn cư trú, theo đó bạn có thể nộp đơn trong Nam hoặc ngoài Bắc.

- Trường hợp đơn phương ly hôn: Một trong hai bên làm đơn xin ly hôn.

Tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

...

Như vậy nếu bạn yêu cầu giải quyết ly hôn thì theo điểm a, khoản 1, điều 35 bạn phải nộp Đơn xin ly hôn nơi vợ bạn cư trú, làm việc ( Miền Nam). Nếu bạn thỏa thuận được với vợ bạn bằng văn bản thì cũng có thể yêu cầu Tòa án nơi bạn cư trú, làm việc ( Miền Bắc) để giải quyết.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Có được đổi họ con sang họ của bố dượng không ? Thủ tục và điều kiện đổi họ cho con sau ly hôn ?

2. Tư vấn giành quyền nuôi 2 con sau khi ly hôn cho người mẹ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi năm nay 32 tuổi, chồng tôi 37 tuổi. Do chồng tôi có người phụ nữ khác nên suốt ngày cáu gắt và đánh chửi tôi, mặc cho mọi người trong gia đình can ngăn thế nào anh cũng không nghe. Tôi không thể chịu nổi nên đã làm đơn ly hôn. Chúng tôi có với nhau 2 mặt con, con gái lớn năm nay 6 tuổi, cháu trai thứ 2 lên 3.

Do mục đích chồng tôi muốn nuôi đứa con trai, đồng thời anh có ông chú làm bên quân y, nhờ mối quan hệ + thêm phần tiêu cực trong xã hội, nên anh ấy đã có tờ phiếu xét nghiệm ADN bảo đứa lớn không phải con mình. Xét về mọi mặt thì anh ấy hơn tôi, như nhà cửa, phương tiện đi lại. Tôi không muốn cho con tôi sống với người không có lương tâm như vậy. Vậy tôi phải làm gì để được nuôi hai cháu thưa luật sư ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.H

Tư vấn giành quyền nuôi 2 con sau khi ly hôn cho người mẹ ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về việc chồng chị phủ nhận đứa con gái đầu không phải con anh ấy chị có thể nhờ Tòa án can thiệp để xác định. Căn cứ theo điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

Như vậy, theo nguyên tắc đứa con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của hai vợ chồng, nếu không thừa nhận con thì phải có chứng cứ. Chồng chị đã có phiếu xét nghiệm ADN xác định đứa con gái đầu lòng không phải con chị nhưng chị cho đó là không đúng sự thật rằng anh ấy đã dùng mối quan hệ để có được kết quả đó thì chị có thể yêu cầu Tòa án xác định lại giúp mình.

Thứ hai, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về người trực tiếp nuôi con như sau:

"Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con." ( Khoản 2, Điều 81 Luật HNGĐ).

Như vậy, pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của cha và mẹ ưu tiên đến quyền và lợi ích của con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, đối với trường hợp của bạn 2 người đã không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con thì có thể nhờ Tòa án quyết định. Tòa án sẽ giao con cho bên nào đủ điều kiện chăm sóc cũng như đảm bảo cho con những gì tốt nhất. Theo dữ kiện của bạn thì chồng bạn mặc dù là có điều kiện về kinh tế nhưng lại là một người không có lương tâm, Tòa án quyết định dựa trên 2 yếu tố và điều kiện vật chất và tinh thần, chồng chị có điều kiện vật chất nhưng chưa chắc đã là một người cha tốt. Bạn muốn giành quyền nuôi 2 cháu thì hãy nhờ đến Tòa án phân định, bạn phải đưa ra được những chứng cứ chứng minh rằng chồng bạn không phải là một người cha tốt mặc dù có điều kiện vật chất, có như vậy bạn mới có thể giàn được quyền nuôi con.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi rất mong có thể phần nào giúp cho trường hợp của bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn quy trình và thủ tục ly hôn đơn phương mới nhất tại Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội ?

3. Sổ tiết kiệm của 2 vợ chồng sau ly hôn xử lý thế nào?

Thưa Luật sư, tôi với chồng do cuộc sống không hạnh phúc nên muốn ly dị. Tôi có một con 6 tuổi. Tôi xin hỏi một số vấn đề sau:

1. Khi ly hôn thì chồng tôi hay tôi được nuôi con? Nếu tôi nuôi con thì chồng tôi phải có trách nhiệm gì?

2. Khi cưới nhau, gia đình tôi có cho miếng đất và đã sang tên chồng tôi và tôi. Vậy khi ly hôn đó có coi là tài sản chung không và giải quyết như thế nào? Ngoài ra, chúng tôi làm việc và cũng dành dụm được một ít trong sổ tiết kiệm (chồng tôi gửi tiết kiệm tôi cũng không biết trong sổ là bao nhiêu) và cho anh em vay nhưng không có giấy tờ. Vậy khi ly hôn đó có coi là tài sản chung không?

Xin cảm ơn!

Người gửi: K.O

Sổ tiết kiệm của 2 vợ chồng sau ly hôn xử lý thế nào?

Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Thủ tục ly hôn bạn có thể tham khảo Hướng dẫn thủ tục ly hôn

1. Quyền nuôi con:

Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền nuôi con sau ly hôn như sau:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Con bạn 6 tuổi nên 2 bạn sẽ thỏa thuận người trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con.

Nếu bạn là người trực tiếp nuôi con thì chồng bạn có nghĩa vụ :

- Tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

- Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 110 Luật hôn nhân gia đình quy định : "Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con." Mức cấp dưỡng do 2 vợ chồng bạn thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn.

- Về miếng đất

Theo như thông tin bạn trình bày thì khi cưới nhau, gia đình bạn có cho miếng đất và đã sang tên chồng bạn và bạn, mà theo điều 33, khoản 1, Luật hôn nhân gia đình 2014 thì " 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.". Cho nên đây là tài sản chung của 2 vợ chồng bạn.

- Về sổ tiết kiệm

Đây là tài sản hai bạn dành dụm được trong thời kỳ hôn nhân nên đây cũng là tài sản chung của vợ chồng bạn.

Chia tài sản chung của 2 vợ chồng được thực hiện theo nguyên tắc tại điều 59, Luật hôn nhân gia đình 2014, cụ thể:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."

Đối với quyền sử dụng đất, khi chia sẽ được thực hiện theo nguyên tắc tại điều 62 Luật hôn nhân gia đình 2014, cụ thể:

"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này."

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thời gian ly thân bao lâu thì có thể tiến hành thủ tục ly hôn ? Nộp đơn ly hôn ở đâu ?

4. Tòa án giải quyết ly hôn trong những những trường hợp nào?

Thưa luật sư, nếu hai vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn (cãi nhau, đánh nhau) nhưng vì áp lực gia đình chồng nên em đơn phương làm đơn ly hôn, liệu Tòa án có giải quyết không?
Em xin cảm ơn!
Người gửi: [email protected]

Tòa án giải quyết ly hôn trong những những trường hợp nào?

Luật sư tư vấn hôn nhân trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy đinh về Ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, khi vợ chồng bạn mâu thuẫn mà bạn có mong muốn ly hôn thì hoàn toàn có thể ly hôn theo yêu cầu của bạn được. Trường hợp này, bạn có thể nộp đơn xin ly hôn đơn phương đến Tòa án để được giải quyết.

Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết:

Trong trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của vợ/chồng bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy tại Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Theo đó, “nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”.

Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

>> Bài viết tham khảo thêm: Ly hôn đơn phương nhưng vợ hoặc chồng không đồng ý ký đơn xử lý thế nào?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Vợ đòi ly hôn và trợ cấp cho con ?

Thưa luật sư luật Minh Khuê vợ chồng chúng tôi sông với nhau 2 năm đã có con với nhau. Vợ tôi hiện không muôn sống với tôi nữa.Nay vợ tôi đòi ly hôn với tôi và đòi hỏi phải trợ cấp cho con. Chúng tôi chưa có đăng ký kết hôn ?
Xin hỏi luật sư tư vấn giúp tôi.

>> Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Điều luật quy định rằng: "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được".

Giải thích cho căn cứ này, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng quy định của Luật HN&GĐ 2000 đã hết hiệu lực tuy nhiên bạn có thể tham khảo quy định như sau:

"a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt"...

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con..."

Như vậy người không trực tiếop nuôi con thì phải cấp dưỡng cho con. Như vậy nếu bạn không nuôi con mà vợ bạn nuôi các cháu thì mới đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

Vợ chồng bạn không có kết hôn nhưng có quyền được tòa án giải quyết vấn đề con chung hay tài sản chung.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Không thực hiện cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn phải giải quyết như thế nào?