1. Khái quát về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình. 
Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận rõ ràng quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân liên quan đến hôn nhân và gia đình tại Điều 36 như sau: “1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. 2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”.  Luật hôn nhân và gia đình đã cụ thể hóa các nguyên tắc này thành các nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình. 
Ông bà ép cháu phải kết hôn có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162
Đe bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Luật hôn nhân và gia đình quy định rất rõ các hành vi liên quan đến hôn nhân và gia đình bị nghiêm cấm.  Đồng thời, Luật hôn nhân và gia đình cũng khẳng định, “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật”.  Theo đó, Luật hình sự đã tội phạm hóa các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về hôn nhân và gia đình để thực hiện chức năng bảo vệ của mình.
Trong BLHS đầu tiên, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình được quy định trong cùng một chương với các tội phạm đối với người chưa thành niên. Đó là 5 tội danh: Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ (Điều 143); Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 144); Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 145); Tội loạn luân (Điều 146); Tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái (Điều 147).
Trong BLHS  sau này , các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình đã được quy định riêng thành một chương độc lập. Đó là chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình”, bao gồm 7 tội danh: Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146); Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147); Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148); Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149); Tội loạn luân (Điều 150); Tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151); Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152). So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã bổ sung 2 tội danh là tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149) và tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152).
Trong BLHS năm 2015, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình vẫn được quy định trong chương riêng và gồm 7 tội danh. Trong đó, đã phi tội phạm hóa hành vi tảo hôn và hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật; đồng thời tội phạm hóa 3 hành vi là hành vi cưỡng ép ly hôn, hành vi cản trở ly hôn và hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này. Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.

2. Các đặc điểm của tội cưỡng ép kết hôn, lỵ hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện

tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Tội cưỡng ép kết hôn, lỵ hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện được quy định tịa Điều 181 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, lỵ hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trải với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tỉnh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vỉ phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Theo điều luật, tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện có các dấu hiệu pháp lý sau:

2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 
Theo quy định của điều luật, chủ thể của tội này còn đòi hỏi là người đã bị xử lý kỷ luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện - là một trong các dấu hiệu được quy định để phân biệt giữa tội phạm này với vi phạm hành chính.

2.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là các hành vi thuộc 02 nhóm hành vi sau:
Thứ nhất, nhóm hành vi cưỡng ép, bao gồm:
+ Hành vi cưỡng ép người khác kết hôn;
+ Hành vi cưỡng ép người khác ly hôn.
Thứ hai, nhóm hành vi cản trở, bao gồm:
+ Hành vi cản trở người khác kết hôn;
+ Hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân;
+ Hành vi cản trở người khác ly hôn.
Cưỡng ép được hiểu là hành vi “Ép cho phải làm điều trái ý muốn”.  Theo đó, có thể hiểu:
+ Hành vi cưỡng ép người khác kết hôn là hành vi ép người khác (người nam, người nữ hoặc cả hai) phải xác lập quan hệ vợ chồng với người nữ, người nam hoặc với nhau trái với ý muốn của họ. Cụ thể, hành vi này ép họ phải tiến hành các thủ tục cho việc kết hôn theo quy định của pháp luật.
+ Hành vi cưỡng ép người khác ly hôn là hành vi ép người khác (người chồng, người vợ hoặc cả hai) phải thực hiện việc ly hôn trái ý muốn của họ. Cụ thể, hành vi này ép họ phải tiến hành các thủ tục cho việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Cản trở được hiểu là hành vi “gây trở ngại, làm cho không tiến hành được dễ dàng.”  Theo đó có thể hiểu:
+ Hành vi cản trở người khác kết hôn là hành vi gây trở ngại cho người khác có đủ điều kiện kết hôn (người nữ, người nam hoặc cả hai) trong việc kết hôn theo ý muốn của họ. Cụ thể, hành vi này gây trở ngại, làm cho việc tiến hành các thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật gặp khó khăn, không dễ dàng.
+ Hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân là hành vi gây trở ngại cho người khác (người chồng, người vợ hoặc cả hai) trong việc tiếp tục quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ của họ. Cụ thể, hành vi này gây trở ngại, làm cho việc duy trì quan hệ hôn nhân của họ gặp khó khăn, không dễ dàng. Quan hệ hôn nhân ở đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, bao gồm hôn nhân có đăng ký kết hôn và hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận. 
+ Hành vi cản trở người khác ly hôn là hành vi gây trở ngại cho người khác (người chồng, người vợ hoặc cả hai) trong việc thực hiện ly hôn. Cụ thể, hành vi này gây trở ngại, làm cho việc tiến hành các thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật của họ gặp khó khăn, không dễ dàng.

2.3 Dấu hiệu thủ đoạn phạm tội

Thủ đoạn phạm tội của tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện được quy định là một trong các thủ đoạn sau:
+ Hành hạ: Là cách đối xử tàn ác đối với nạn nhân, gây cho họ sự đau đớn về thể xác, như thường xuyên đánh đập nhưng không đòi hỏi gây thương tích hoặc tổn hại đáng kể đến sức khoẻ của người khác.
+ Ngược đãi: Là cách đối xử tồi tệ đối với nạn nhân, gây cho họ sự đau khổ về tinh thần, như thường xuyên mắng chửi, sỉ vả, làm nhục...
+ Uy hiếp tinh thần: Là cách đe dọa sẽ dùng vũ lực gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản... làm cho người bị đe dọa có căn cứ lo sợ thực sự mà phải chịu làm theo yêu cầu của người đe dọa, như đe dọa sẽ giết, sẽ đánh hoặc sẽ đốt nhà...
+ Yêu sách của cải: Là cách đòi hỏi quá đáng về việc phải có tài sản dưới dạng hiện vật hoặc tiền, vàng, kim khí quý khác... cho bên yêu cầu để ép buộc người khác phải làm theo yêu cầu của mình, như thách cưới cao một cách không bình thường làm cho bên bị thách cưới không thể lo liệu được để lấy cớ không cho kết hôn...
+ Những thủ đoạn khác: Là những cách bất hợp pháp khác có tính chất tương tự như những thủ đoạn nêu trên, như dùng vũ lực đón đường bắt phụ nữ về làm vợ người khác hoặc bắt bên vợ hoặc cả hai bên vợ và chồng đưa đi xa để chia rẽ họ...

2.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Chủ thể thực hiện hành vi mặc dù biết hành vi đó là hành vi ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ; là hành vi cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; là hành vi cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn.
Điều luật quy định khung hình phạt là: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê