1. Phải làm thể nào để ly hôn khi vợ hoặc chồng đang ở nước ngoài ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Khi một bên đương sự (vợ hoặc chồng) đang ở nước ngoài thì làm sao để có thể ly hôn được ạ ? Người kia không về nước thì có thể ly hôn được không ? Cảm ơn!

Về vấn đề ly hôn và nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1.1 Thế nào là Ly hôn có yếu tố nước ngoài ?

Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do toà án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

14. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Ly hôn có yếu tố nước ngoài được hiểu là khi lựa chọn ly hôn mà một bên đang ở nước ngoài, cả 2 bên đều đang ở nước ngoài hoặc có tài sản ở nước ngoài.

Trên thực tế, các vụ việc liên quan đến ly hôn có yếu tố nước ngoài đang ngày càng gia tăng do sự phát triển của kinh tế xã hội và tư duy về một nên kinh tế mở cửa khiến cho những mối quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng.

Thật là bất lợi khi tiến hành thủ tục ly hôn trong trường hợp này mà bên bị đơn cố tình che giấu địa chỉ và không muốn cho nguyên đơn biết. Hành vi này không chỉ gây khó khăn cho quá trình tố tụng mà vô hình chung cũng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

1.2 Ly hôn thế nào nếu đương sự che giấu địa chỉ tại nước ngoài ?

Hành vi không cung cấp địa chỉ ở nước ngoài cho nguyên đơn mặc dù vẫn liên lạc với gia đình, vẫn về thăm gia đình gây khó khăn cho quá trình tống đạt hồ sơ. Tòa sẽ khó gửi văn bản liên quan đến giải quyết vụ việc.

Ở đây, nếu trường hợp một bên ở nước ngoài không cung cấp địa chỉ thì được xác nhận là ly hôn đơn phương với căn cứ là không thỏa thuận được vấn đề ly hôn.

Căn cứ theo quy định tại Điều 28 và Điều 29 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định khi giải quyết tranh chấp về ly hôn sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án dân dân cấp huyện.

Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.
2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
5. Tranh chấp về cấp dưỡng.
6. Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
7. Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.
8. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
3. Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
6. Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
7. Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án.
8. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
9. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
10. Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
11. Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thẩm quyền lại thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Cụ thể tại Điều 36 Bộ Luật Tố Tụng dân sự 2015

Điều 36. Thẩm quyền của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện
1. Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.
2. Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.
3. Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có Tòa chuyên trách thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Hành vi che dấu địa chỉ nó là nganh vi ngăn cản quyền ly hôn của công dân. Để giải quyết vấn đề này, vừa qua Tòa án nhân dân tối cao đã có những hướng dẫn cụ thể bằng văn bản số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 Về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của các Tòa án về vướng mắc trong việc giải quyết một số vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là người Việt Nam ở trong nước với bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài là một trường hợp đặc thù; quyền ly hôn là một trong các quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy, trường hợp người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài, nếu thông qua thân nhân của bị đơn mà có căn cứ để xác định họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Tòa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử, Tòa án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để các Tòa án nhân dân nghiên cứu, tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.

Bởi vậy, khi bị đơn cố tình che dấu địa chỉ thì công dân có thể giải quyết như sau:

Bước 1: Nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp Tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị đơn;

Bước 2: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa sẽ xác định nơi cư trú của người thân. nếu có dấu hiệu che dấu địa chỉ sẽ tiến hành gửi văn bản 2 lần. Nếu không nhận được phản hồi sẽ tiến hành giải quyêt theo thủ tục vắng mặt.

1.3 Hồ sơ ly hôn khi có yếu tố nước ngoài.

+ Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn (nếu có)

+ Bản sao có công chứng hoặc chứng thực Giấy khai sinh của các con

+ Bản sao chứng thực CMND/CCCD/ Hộ chiếu; Bản sao chứng thực hộ khẩu;

+ Đơn xin ly hôn: Đơn xin ly hôn do bên không thường trú tại Việt Nam làm và thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự rồi chuyển về cho bên thường trú tại Việt Nam ký.

+ Hồ sơ tài liệu chứng minh việc một bên đang ở nước ngoài (nếu có).

1.4 Trình tự thủ tục thực hiện

- Nộp hồ sơ hợp lệ về việc xin ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

- Trong thời hạn 7-15 ngày, Tòa án kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ thì Tòa án sẽ gửi thông báo tạm ứng án phí.

- Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp biên lai tạm ứng án phí cho Tòa án.

- Tòa án mở phiên hòa giải tại tòa và tiến hành thủ tục ly hôn tại Tòa theo thủ tục sơ thẩm.

1.5 Thời hạn giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Thông thường, vụ án ly hôn đơn phương sẽ diễn ra trong khoảng từ 4 đến 6 tháng. Còn thời gian mở phiên tòa sẽ là từ 01-02 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng không nằm ngoài phạm vi này.

Tùy vào từng vụ việc cụ thể mà thời hạn giải quyết khác nhau. Trên cơ sở luật định thì thời hạn chuẩn bị xét xử là từ 04 – 06 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án; Thời hạn mở phiên tòa từ 01 – 02 tháng kể từ ngay có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Khi Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân bị đơn không tiến hành cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Theo hướng dẫn của Công văn Số: 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 Về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của các Tòa án về vướng mắc trong việc giải quyết một số vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là người Việt Nam ở trong nước với bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài là một trường hợp đặc thù; quyền ly hôn là một trong các quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy, trường hợp người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài, nếu thông qua thân nhân của bị đơn mà có căn cứ để xác định họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Tòa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử, Tòa án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để các Tòa án nhân dân nghiên cứu, tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.

Tất nhiên, khi xét xử vắng mặt,Tòa sẽ căn cứ trên những bằng chứng nguyên đơn cấp và bị đơn sẽ có những bất lợi nhất định.

Kết thúc phiên tòa, Tòa án sẽ gửi bản sao bản án hoặc quyết định để thân người chuyển cho bị đơn đồng thời tiến hành niêm yết bản án. Như vậy, dựa vào đó thể đương sự có thể kháng cáo theo quy định.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Thủ tục ly hôn và quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi ?

Chào luật sư. Em viết mail này xin được hỏi luật sư về việc xin ly hôn. Vụ việc như sau: em đã kết hôn và sống với vợ em được hơn 1 năm và có với nhau được 1 con trai 7 tháng tuổi. Gần đây đời sống vợ chồng không được thuận lợi, và gia đình 2 bên xảy ra mâu thuẫn gay gắt nên vợ chồng em không thể tiếp tục sống với nhau được nữa và giữa em và vợ đều đồng thuận là sẽ ly hôn. Về phần tài sản chung thì vợ chồng em còn 5 chỉ vàng. 1 cái máy giặt mà vợ em mua lúc con 4 tháng về nhà chồng ( mua bằng tiền thai sản của vợ), mà không thống nhất được việc phân chia tài sản thì pháp luật sẽ phân chia thế nào. Và con trai em 7 tháng tuổi , như em được biết thì sẽ do mẹ chăm sóc. Nhưng hiện tại vợ em không có công việc ổn định, và nhà ba mẹ vợ em hiện tại cũng có thêm 1 đứa trẻ 7 tháng tuổi nữaa là con của anh vợ cùng sống trong nhà, nên việc chăm sóc con em sẽ không được đảm bảo. Còn em thì hiện nay đang có công việc, mức thu nhập ổn định( 4 triệu 200 ở Huế thì đây là khoảng thu nhập có thể lo được cho con nhỏ). Vậy nếu toà án xử lý thì em có giành được quyền nuôi con không ạ ?
Mong được luật sư sớm giải đáp thắc mắc qua địa chỉ email của em ở bên dưới. Cám ơn luật sư.

Trả lời:

Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo thông tin bạn cung cấp, hai bạn hiện đang nuôi con 7 tháng tuổi, vậy thì người mẹ sẽ được pháp luật bàn giao quyền nuôi con trong trường hợp vợ chồng bạn ly hôn. Quy định này đảm bảo tính khách quan để đứa trẻ có điều kiện phát triển ổn định trong những năm tháng đầu đời, đồng thời đảm bảo tinh thần nhân đạo, phù hợp với truyền thống của dân tộc. Các trường hợp ngoại trừ của quy định này là:

+ Người mẹ không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

+ Cha mẹ có thỏa thuận khác.

Nếu bạn muốn dành quyền nuôi con, bạn có thể thỏa thuận với mẹ cháu bé hoặc chứng minh hiện tại điều kiện của người mẹ không đủ để đáp ứng yêu cầu nuôi con nhỏ, Tòa án sẽ xem xét giải quyết cho bạn nuôi con. Ngoài ra, bạn có thể chứng minh người mẹ không có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực hành vi,... để có thể nuôi con. Tòa sẽ xem xét hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Trong trường hợp của bạn, người mẹ không có công việc ổn định, điều kiện gia đình không thuận tiện, tuy nhiên, Tòa án cần xem xét kĩ lưỡng và cân nhắc mọi điều kiện khách quan, hoàn cảnh của cả hai bên trước khi ra quyết định trao quyền nuôi con. Hiện tại, mẹ của cháu bé không có công việc ổn định và gia đình cũng đang nuôi một cháu nhỏ khác, tuy nhiên, điều kiện như vậy chưa đủ kết luận mẹ của cháu không đủ điều kiện nuôi con nhỏ. Bạn không nói rõ thời gian mẹ cháu không có việc làm ổn định là bao lâu, trước đây làm công việc gì và ở đâu, trình độ học vấn thế nào nên rất khó để kết luận điều kiện nuôi con trong thời gian tới (cần lưu ý đây là bà mẹ nuôi con nhỏ nên rất có thể sẽ chỉ là trường hợp thất nghiệp tạm thời hoặc mong muốn nghỉ việc để nuôi con nhỏ). Về điều kiện gia đình, nếu bạn cũng không nói rõ và không chứng minh được cụ thể việc "gia đình vợ hiện đang nuôi một cháu nhỏ khác" thì sẽ có ảnh hưởng gì đến điều kiện nuôi con, thì người mẹ cháu bé nghiễm nhiên dành quyền nuôi con.

Căn cứ điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ với con chưa thành niên:

"Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con."

Theo quy định của pháp luật, bạn sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu bé trong trường hợp người mẹ dành quyền nuôi con. Nghĩa vụ cấp dưỡng không được quy định định mức cụ thể mà phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên, tùy thuộc vào hoàn cảnh các bên, thu nhập, điều kiện của người cấp dưỡng. Trong trường hợp điều kiện của người mẹ khó khăn, bạn có thể thỏa thuận cấp dưỡng để điều kiện nuôi con được đảm bảo hơn.

Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ bắt buộc và không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Người cấp dưỡng có thể thực hiện nghĩa vụ một lần hoặc định kì theo năm, tháng, tuần,... tùy thuộc vào thỏa thuận giữa hai bên.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Điều kiện giành quyền nuôi cả hai con khi ly hôn ?

Xin chào luật sư, em có thắc mắc muốn nhờ luật sư Công ty Luật Minh Khuê tư vấn giúp em như sau: Em và chồng em kết hôn năm 2018, hiện nay có hai con nhỏ, bé lớn 28 tháng tuổi, bé nhỏ 11 tháng tuổi. Em hiện ở nhà nuôi con nên không có thu nhập, chồng em thì đi làm phụ hồ, công việc cũng ổn định thu nhập khoảng 08 triệu/ tháng. Bọn em vẫn sống với nhau bình thường (chưa sống ly thân). Nhưng giờ chồng yêu cầu em nuôi một cháu, anh nuôi một cháu, trong khi em đang giữ con nhỏ. Chồng em không đưa tiền cho em lo mọi thứ trong gia đình. Buổi sáng ba mẹ con đều nhịn ăn sáng.
Vậy luật sư cho em hỏi, nếu em ly hôn, em có được quyền nuôi cả hai con (trước đây em cũng có đi làm, hiện em cũng có bằng đại học, còn chồng không có bằng cấp gì, nếu em nuôi con thì có bố mẹ em phụ giúp, còn bên gia đình chồng không ai có học cả). Còn phần tài sản: em có số tiền 27 triệu tiền bảo hiểm, nhưng khi cưới em đã rút ra đầu tư nuôi bò, giờ bán bò, vậy số tiền đó còn được xem là tài sản riêng không ạ?
Xin luật sư tư vấn giúp em với ạ. Em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, bạn có thể được nuôi cả hai con tùy vào từng trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, nếu vợ chồng bạn thỏa thuận được việc nuôi con sau khi ly hôn, tức là chồng bạn đồng ý cho bạn nuôi cả hai người con, còn chồng bạn sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con. Lúc này, Tòa án sẽ xem xét điều kiện của bạn bao gồm thu nhập hàng tháng, chỗ ở, điều kiện vật chất lẫn tinh thần tốt nhất về mọi mặt cho con của bạn thì Tòa án sẽ giao con cho bạn nuôi.

Trường hợp thứ hai, hai vợ chồng bạn không thể thỏa thuận được việc nuôi con, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn, theo đó, cả hai con của bạn đều dưới 36 tháng tuổi, Tòa án sẽ ưu tiên giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng vì độ tuổi này của trẻ em cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ để giúp phát triển tâm sinh lý tốt nhất. Tuy nhiên, mặc dù con dưới 36 tháng tuổi bạn sẽ được giao trực tiếp nuôi nhưng bạn cũng cần phải chứng minh được mình có đủ điều kiện về thu nhập ổn định, có chỗ ở hợp pháp để chăm sóc, giáo dục con bạn. Lúc này, Tòa án mới giao con cho bạn nuôi. Trường hợp, bạn không có đủ điều kiện để giành quyền nuôi con thì chồng bạn sẽ chứng minh anh ấy đủ điều kiện để giành quyền nuôi con thì có thể Tòa án sẽ giao một con cho chồng bạn nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sau khi ly hôn.

Như thông tin bạn cung cấp, bạn có bằng đại học nhưng bạn lại không có việc làm, còn chồng bạn không có bằng cấp gì nhưng chồng bạn lại có mức thu nhập 08 triệu/ tháng. Chình vì vậy, việc cần làm của bạn bây giờ là phải có một công việc ổn định, thu nhập ổn định, đồng thời, bạn cần chứng minh được sau khi ly hôn, bố mẹ bạn có thể giúp bạn chăm sóc, nuôi dưỡng hai con của bạn sau khi ly hôn. Còn về phía chồng bạn, bạn cần chứng minh anh ấy không yêu thương con, không đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và bạn có thể cung cấp những bằng chứng, chứng minh anh chồng bạn có hành vi ngoại tình hoặc có hành vi bạo lực gia đình nếu có để hạn chế tối đa khả năng giành quyền nuôi con của chồng bạn.

Căn cứ theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, số tiền 27 triệu tiền bảo hiểm của bạn, sau khi cưới bạn đã rút ra đầu tư nuôi bò, giờ bán bò, số tiền đó có thể được xem là tài sản riêng nếu bạn chứng minh được con bò này được mua từ số tiền bạn rút bảo hiểm, chồng bạn không có đóng góp gì, nếu bạn không chứng minh được nguồn gốc tiền mua bò để nuôi từ đâu thì về nguyên tắc, số tiền bán bò trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản chung của hai vợ chồng. Trong đó, bạn có thể đưa ra một trong các căn cứ, bằng chứng sau để chứng minh là tài sản riêng của bạn để sau khi ly hôn không phải phân chia tài sản.

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Ly hôn có phải nộp hộ khẩu của cả vợ và chồng ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Cho tôi hỏi 1 vấn đề cần thắc mắc là về giấy tờ hai vợ chồng tôi không cùng hộ khẩu mà giờ tôi muốn ly hôn thì toà án nói phải có hộ khẩu thì giờ tôi nạp hộ khẩu của tôi mà không có chồng tôi có đựơc không?
Trân trọng cảm ơn!
Người gửi: D.A

Ly hôn có phải nộp hộ khẩu của cả vợ và chồng?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Trường hợp bạn làm thủ tục ly hôn thì bạn với tư cách là nguyên đơn, chồng bạn là bị đơn. Cho nên, bạn nộp hồ sơ xin ly hôn tại nơi chồng bạn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Bạn chuẩn bị một bộ hồ sơ xin ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân huyện nơi chồng bạn cư trú. Hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu của Tòa án hoặc tham khảo: Mẫu đơn xin ly hôn);

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của nguyên đơn và bị đơn;

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của nguyên đơn và bị đơn;

- Bản sao giấy khai sinh của các con;

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

Trong trường hợp của bạn, hai vợ chồng bạn không cùng hộ khẩu, như vậy trong hồ sơ xin ly hôn bạn cần nộp bản sao Hộ khẩu thường trú của chồng bạn và Hộ khẩu thường trú của bạn để cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết yêu cầu của bạn.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Người chồng không ký tên vào đơn ly hôn thế ly hôn được không ?

Thưa luật sư, Tôi hiện tại đang cư ngụ tại quận BT-TPHCM, tôi đã lập gia đình được 5 năm nhưng cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung trong gia đình! Chúng tôi đã có 1 mặt con, cháu được 4 tuổi. Tôi có những việc muốn hỏi luật sư mong được vấn đáp :
- Tình trạng hiện tại của tôi là đang ở nhà thuê và mức lương tôi làm hiện tại là 4triệu/ tháng. Vậy tôi có được quyền nuôi con không?
- Nếu tôi không được quyền nuôi con vậy tôi có được quyền thăm nom cháu không? Và sau này mọi quyết định về tương lai của cháu tôi có được thẩm quyền xen vào không?
- Trong trường hợp chồng tôi được quyền nuôi con nhưng lại cấm túc tôi không cho thăm con, vậy lúc đó tôi phải làm sao?
- Đơn xin ly hôn tôi viết tay rồi đánh văn bản ra hay là tôi phải lại tòa xin mẫu đơn rồi về viết lại?
- Trường hợp nếu như tôi và chồng tôi đang tiến hành ly thân mà chồng tôi có những hành động như đe dọa, uy hiếp, khủng bố tinh thần của tôi thì tôi sẽ phải làm thế nào?
Kính mong luật sư tư vấn giúp để tôi có thể nắm rõ và làm theo! Trân trọng!

Luật sư phân tích:

Bạn có mức lương 4 triệu một tháng mà chồng bạn có khả năng tài chinh và khả năng giáo dục cao hơn thì chồng bạn có thể giành quyền nuôi con. Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hộiquy định:

"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Vì thế dù ai là người trực tiếp nuôi con thì cũng không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đơn xin ly hôn bạn đánh máy hay viết tay đều được nhưng phải theo mẫu pháp luật quy định. Nếu chồng bạn có những hành động như đe dọa, uy hiếp, khủng bố tinh thần bạn thì bạn có thể báo với cơ quan công an hoặc UBND xã để giải quyết.

Thưa luật sư, Tôi và vợ ở với nhau được 5 năm nhà tôi ở Thành phố HCM và vợ thì ở quê BĐ tỉnh BP, nhưng chính thức cưới nhau chỉ được 2 năm thôi. Chúng tôi sinh được 1 đứa con trai ngày 14.11.2019 ( 6 tháng tuổi) và vợ tôi không đi làm chỉ ở nhà có 1 việc trông nôm con không cần làm nội trợ nhưng vẫn hay tị nạnh việc giữ con. Một ngày tôi làm ở công ty 8 tiếng và làm thêm ở ngoài khoảng 4 tiếng nữa để đủ chi tiêu các thứ trong gia đình. Nay vợ chồng hay cải vã và vợ hay có lời lẽ không đúng với mẹ chồng (vợ tôi bị tâm lý hay gọi là thần kinh nhẹ không có giấy bác sĩ) và sau đó 2 người không hợp nữa quyết định ly hôn (Sau khi cưới và đến khi đang có thai thì 2 người đi làm giấy kết hôn để có giấy khai sinh cho con tôi mới biết vợ tôi đã có 1 đời chồng và 1 đứa con trai rồi nhưng đã giấu tôi những năm tháng qua). Xin hỏi văn phòng luật sư Minh Khuê trường hợp này con trai tôi chỉ mới 6 tháng tuổi tôi có quyền xin tòa án để tôi có quyền nuôi con không cần cấp dưỡng không?

=> Nếu không có bệnh án thì bạn phải có bằng chứng chứng minh vợ bạn không đủ khả năng nuôi con thì bạn mới có thể đuọc quyền nuôi con 6 tháng tuổi.

Thưa luật sư, Chị dâu tôi (đã ly hôn với anh trai tôi cách đây 10 năm), hiện đã có quốc tích úc (theo diện kết hôn giả). - Tôi vừa mới ly hôn vợ tôi và có 3 người con (2 đứa nhỏ dưới 18 tuổi, và 1 người con lớn hiện 22 tuổi - hiện cả 3 người đều đang đi học). 1. Tình hình của chị dâu và tôi như vậy. Thì chúng tôi có kết hôn được với nhau không? 2. Và kết hôn như vậy có được Bộ di trú úc chấp thuận để sang nhập cư bên úc không? 3. Sau khi kết hôn thì tôi có được quyền bảo lãnh 3 người con của tôi đi theo không?

=> Nếu cả 2 người hiện tại không có vợ, chồng thì được phép kết hôn. Về việc có được nhập cư sang Úc theo diện kết hôn hay không và có được bảo lãnh con sang không phải phụ thuộc vào pháp luật nước Úc.

Thưa luật sư, em có vợ một con 22 tháng tuổi .gần đây chúng em có buồn về chuyện xin nhà ở riêng vì đang sống chung với bố me .dao nay em thây vợ cứ muốn lạnh nhạt rồi tự nhiên đòi ly hôn trong khi em rất yêu vợ.mặc dù em đã khuyên hết mức mà vợ vẩn thế .rồi ôm con về nhà mẹ đẻ rồi em sang đưa con về và vợ cùng đi làm, em biêt vợ có ai khác, nên muốn bắt vợ về bằng vũ lực vì nói không nghe. Em muôn hỏi làm thế có vi phạm pháp luật không?

=> Bạn có thể yêu cầu hòa giải tại UBND, nếu bạn dùng vũ lực để đưa vợ bạn về nhà là vi phạm pháp luật.

Thưa luật sư, bố em lấy mẹ em là vợ 3 vào năm 1996 và khi lấy mẹ em bố em không mang theo tài sản nào sau khi vợ cũ mất tất cả tài sản bố có trước khi lấy mẹ em đều chia cho các anh hết rồi! Và sau khi lấy mẹ em là vợ 3 vào năm 1998 mẹ em tức là vợ 3 đã tự bỏ tiền ra mua căn nhà mà sau khi nhà em quy hoạch xong thì chưa kịp làm sổ đỏ bố em đã mất và nguyện vọng của bố là muốn để lại căn nhà cho em là con út nhưng giờ nếu muốn thế thì cần phải làm sổ đỏ đứng tên mẹ em nhưng bây giờ cho em hỏi có cách nào để làm sổ đỏ mà cho mẹ em đứng tên không và bố em có một người con của vợ 2 nhưng đã ly hôn trước khi bố mẹ em có căn nhà thì anh ấy có quyền thừa kế không ạ

Nếu hiện nay đó là tài sản chung và bố bạn mất không để lại di chúc thì người con của vợ 2 có quyền thừa kế.

Thưa luật sư, xin cho tôi hỏi luật sư: tôi và vợ tôi đã ly hôn theo tòa xử cô ý được nuôi con và hiện tại khẩu con tôi đang theo khẩu mẹ bé mà mẹ bé khẩu lại đang chung với nhà ngoại hiện tại mẹ bé đã chết,nay tôi muốn chuyển khẩu con tôi về cùng hộ khẩu với tôi xin luật sư cho tôi biết tôi phải làm thế nào, thủ tục ra sao ? Rất mong được luật sư tư vấn giúp tôi.

=> Bạn thỏa thuận với ông bà để xin tách khẩu cho con hoặc bạn làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Thưa luật sư, Em đã lập gia đình được 2 năm, hộ khẩu vẫn còn ở nhà bố mẹ em.Giờ em có con và con em cũng nhập khẩu về bố mẹ em.Do vợ chồng em có nhiều bất đồng trong cuộc sống em sợ sau này ly hôn tách khẩu khó khăn nên chưa nhập khẩu về bên chồng.Cho em hỏi em có thể tách khẩu 2 mẹ con ở khẩu bên ngoại lập khẩu mới có 2 mẹ con được không ạ. Xin giúp em với

=> Bạn được phép tách khẩu riêng cho 2 mẹ con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?