1. Quy định của luật hình sự năm 1999 về tội phạm chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là một trong ba loại trường hợp phạm tội của tội phạm cố ý (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành - trường hợp phạm tội bình thường). Trường hợp phạm tội chưa đạt có những dấu hiệu khác với chuẩn bị phạm tội và trường hợp tội phạm hoàn thành. Địảu này đòi hồi luật hình sự phải có quy định cụ thể vạ dấu hiệu cũng như vấn đề trách nhiệm hình sự của phạm tội chưa đạt. Luật hình sự Việt Nam luôn xác định trường hợp phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng được giảm nhẹ hơn sọ Với trường hợp phạm tội bình thường (tôi phạm hoàn thành). Tuy nhiên, các dấu hiệu của phạm tội chưa đạt cũng như vấn đề trách nhiệm hình sự của phạm tội chưa đạt chỉ được chính thức quy định trong luật từ khi có Bộ luật hình sự năm 1985. Trong Bộ luật hình sự năm 1999, các dấu hiệu của phạm tội chưa đạt cũng như vấn đề trách nhiệm hình sự của phạm tội chưa đạt được tiếp tục quy định và riêng vấn đề trách nhiệm hình sự của phạm tội chưa đạt được quy định rõ ràng, cụ thể hơn.

Theo Bộ luật hình sự năm 1999, phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được đến cùng vì nguyên nhân khách quan. Theo đó, phạm tội chưa đạt có ba dấu hiệu:

1) Người phạm tội đã thực hiện tội phạm;

2) Người phạm tội phải dừng lại khi hành vi phạm tội chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm;

3) Việc người phạm tội phải dừng lại là vì nguyên nhân khách quan.

Được coi là đã thực hiện tội phạm khi người phạm tội đã thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm như hành vi đâm, hành vi bắn hoặc đã thực hiện được hành vi đi liền trước hành vi này như hành vi nhặt dao để đâm, hành vi giương súng để bắn...

Trường hợp hành vi phạm tội chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm có thể là:

1) Chưa gây ra hậu quả của tội phạm (ở các tội có cấu thành tội phạm vật chất).

Ví dụ: Chưa gây ra hậu quả chết người ở tội giết người;

2) Chưa thực hiện hết các hành vi thuộc dấu hiệu hành vi khách quan của cấu thành tội phạm (ở các tội mà dấu hiệu hành vi khách quan bao gồm nhiều hành vi khác nhau).

Ví dụ: Người phạm tội hiếp dâm mới thực hiện được hành vi dùng vũ lực mà chưa thực hiện được hành vi giao cấu;

3) Chưa thực hiện được hành vi khách quan của cấu thành tội phạm mà mới chỉ thực hiện được hành vi đi liền trước.

Ví dụ: Người phạm tội mới giương súng để bắn mà chưa kịp bóp cò thì đã bị bắt giữ.

Việc phạm tội phải dừng lại như trên hoàn không có tác dụng.

Ví dụ: đưa hối lộ nhầm cho kẻ khác.

Việc người phạm tội phải dừng lại như trên hoàn toàn vì nguyên nhân khách quan. Ý muốn chủ quan của người phạm tội trong trường hợp này vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng. Chính vì vậy, luật hình sự Việt nam quy định mọi trường hợp phạm tội chưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mức độ trách nhiệm hình sự được giảm nhẹ so với trường hợp phạm tội đã hoàn thành.

Phạm tội chưa đạt có thể được phân thành phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành cũng như được phân thành phạm tội chưa đạt vô hiệu và các trường hợp phạm tội chưa đạt khác.

Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là phạm lội chưa đạt (ở các tội có cấu thành tội phạm vật chất) trong đó người phạm tội chưa thực hiện được hết các hành vi khách quan cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm. Ví dụ: định đâm nhiều nhát để cho nạn nhân chết nhưng mới đâm được môt nhát vào tay nạn nhân thì đã bị bắt giữ và kết quả nạn nhân không chết. Đây là trường hợp chưa hoàn thành hành vi và cũng chưa đạt hậu quả. Khác với trường hợp này là trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.

Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là phạm tội chưa đạt (ở các tội có cấu thành tội phạm vật chất) trong đó người phạm tội đã thực hiện được hết các hành vi khách quan cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm nhưng hậu quả đó không xảy ra vì nguyên nhân khách quan.

Ví dụ: đã đặt mìn vào thiết bị cần phá hủy và đã khởi động bộ phận hẹn giờ nổ nhưng do bộ phận hẹn giờ hoạt động giữa chừng thì bị hỏng nên mìn không nổ. Đây là trường hợp đã hoàn thành hành vi nhưng chưa đạt hậu quả. Khác với trường hợp này là trường hợp phạm tội đã hoàn thành. Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn , thành là hai trường hợp phạm tội chưa đạt ở các tội có cấu thành tội phạm vật chất. Sự khác nhau của hai trường hợp này ở chỗ người phạm tội đã thực hiện hết hay chưa thực hiện hết những hành vi mà họ cho là cần thiết để có thể gây ra hậu quả tội phạm.

Phạm tội chưa đạt vô hiệu là phạm tội chưa đạt mà nguyên nhân chưa đạt là do người phạm tội nhầm khách thể hoặc do công cụ, phương tiện không có tác dụng.

Ví dụ: Đưa hối lộ nhầm cho kẻ lừa đảo; giết người nhưng súng bắn không nổ; đầu độc nhưng dung phải thuốc ngủ giả hoặc đâmm nhầm vào người đã chết… phạm tội chưa đạt vô hiệu là một loại trường hợp phạm tội chưa đạt. Do vậy trách nhiệm hình sự trong trường hợp này giải quyết như các trường hợp phạm tội chưa đạt khác.

2. Quy định của luật hình sự hiện nay về phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là trường hợp hành vi phạm tội đã thực hiện chưa thoả mãn hết các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm vì nguyên nhân ngoài ý muổn của người phạm tội.

Tương tự như định nghĩa khoa học trên, Điều 15 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xác định:

“Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những ngưyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội"

Giữa quy định của bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với định nghĩa khoa học về phạm tội chưa đạt chỉ có sự khác nhau về cách diễn đạt còn về nội dung đều khẳng định như nhau về các dấu hiệu của phạm tội chưa đạt. Theo đó, có ba dấu hiệu xác định trường hợp phạm tội chưa đạt.

* Dấu hiệu thứ nhất: Người phạm tội “đã thực hiện tội phạm”. Đây là dấu hiệu phân biệt phạm tội chưa đạt với chuẩn bị phạm tội. “Đã thực hiện tội phạm” có nghĩa: Người phạm tội đã thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Ví dụ: Chù thể tội giết người đã thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác (như đã đâm, đã bắn, đã chém) là hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm tội giết người (Điều 123 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cũng được coi là “đã thực hiện tội phạm” nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi “đi liền trước” hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Đó là hành vi (xét về khách quan và chủ quan) thể hiện là sự bắt đầu của hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm và kế tiếp ngay sau nó hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm sẽ xảy ra.

Ví dụ: Hành vi nhặt dao để đâm, lắp đạn để bẳn trong trường họp phạm tội giết người được coi là những hành vi “đi liền trước” của hành vi tước đoạt tính mạng người khác. Những hành vi này chưa phải là hành vi tước đoạt tính mạng người khác (hành vi đâm, hành vi bắn) nhưng là sự bắt đầu của hành vi tước đoạt tính mạng người khác và ngay sau nó hành vi tước đoạt tính mạng người khác (hành vi đâm, hành vi bắn) sẽ -xảy ra. Hành vi “đi liền trước” như vậy tuy thể hiện là sự chuẩn bị nhưng vì rất gần với hành vi khách quan, không tách ra được nên cũng được coi là hành vi thực hiện tội phạm.

* Dấu hiệu thứ hai: Đây là dấu hiệu được diễn đạt khác nhau giữa điều luật và định nghĩa khoa học. Theo điều luật, phạm tội chưa đạt khác tội phạm hoàn thành ở chỗ người phạm tội không thực hiện tội phạm được “đến cùng”. Trong khi đó, theo định nghĩa khoa học, phạm tội chưa đạt khác tội phạm hoàn thành ở chỗ hành vi phạm chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Đây chỉ là hai cách diễn đạt khác nhau về cùng một nội dung. Tội phạm hoàn thành hay phạm tội chưa đạt như đã trình bày đều là sự đánh giá về mặt pháp lí. Do vậy, dấu hiệu “không thực hiện tội phạm được đến cùng” được quy định tại Điều 15 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần được hiểu là “không... đến cùng” về mặt pháp lí và như vậy “không... đến cùng” cũng có nghĩa là hành vi được thực hiện chưa thoả mãn hết các dấu hiệu (thuộc mặt khách quan) của cấu thành tội phạm. Trường hợp hành vi phạm tội chưa thoả mãn hết các dấu hiệu (thuộc mặt khách quan) của cấu thành tội phạm có thể xảy ra theo các dạng sau:

- Chủ thể chưa thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm mà mới chỉ thực hiện hành vi “đi liền trước" hành vi đó.

Ví dụ: Chủ thể tội giết người mới nhặt dao để đâm thì đã bị bắt giữ;

- Chủ thể đã thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng chưa thực hiện hết.

Ví dụ: Chủ thể tội hiếp dâm mới vật ngã được nạn nhân nhưng chưa thực hiện hành vi giao cấu thì đã bị bắt giữ;

- Chủ thể đã thực hiện được hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng chưa gây ra hậu quả thiệt hại được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Ví dụ: Chủ thể tội giết người đã đâm nạn nhân nhưng nạn nhân không chết;

Trong ba dạng có thể xảy ra nêu trên, dạng thứ ba chỉ có thể xảy ra ở các tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất.

* Dấu hiệu thứ ba: Người phạm tội không thực hiện tội phạm được “đến cùng” là do nguyên nhân ngoài ý muốn của họ.

Dấu hiệu này được đặt ra vì có hai loại trường hợp hành vi phạm tội đã thực hiện nhưng không “đến cùng” - không thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là trường hợp do nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội và trường họp do ý muốn chủ quan của người phạm tội. Hai trường họp này là khác nhau. Trong đó, trường họp thứ hai là trường hợp cần được khuyến khích.

Theo điều luật, dấu hiệu thứ ba đòi hỏi người phạm tội vẫn muốn tội phạm hoàn thành nhưng tội phạm không hoàn thành là do:

- Nạn nhân hoặc người bị hại đã chống lại được hoặc đã tránh được;

- Người khác đã ngăn chặn được;

- Có những ttở ngại khác (như bắn nhưng đạn không nổ; thuốc độc dùng để đầu độc không đủ liều lượng...);

Dấu hiệu thứ ba trên đây cho phép phân biệt phạm tội chưa đạt với trường hợp dừng lại do ý muốn chủ quan của người phạm tội được quy định tại Điều 16 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quy định về phạm tội chưa đạt tại Điều 15 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là quy định có tính nguyên tắc cho tất cả các tội danh. Do vậy, để xác định trường hợp phạm tội chưa đạt của tội danh cụ thể cần phải kết hợp quy định này với nội dung quy định trong cấu thành tội phạm của tội danh này.

3.,Quyết định hình phạt khi phạm tội chưa đạt

Điều 57 Bộ luật Hình sự quy định về việc quyết định hình phạt với hành vi phạm tội chưa đạt như sau:

- Hình phạt đối với hành vi phạm tội chưa đạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

- Nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định.

4. Trường hợp người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt:

Theo khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự, mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt là không quá 1/3 mức hình phạt cao nhất. Trong đó:

+ Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá 1/2 thời hạn mà điều luật quy định (theo khoản 1 Điều 100).

+ Nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định (theo khoản 2 Điều 101).

5.Trách nhiệm hình sự

Tất cả các trường hợp đều phải chịu trách nhiệm hình sự không phân biệt loại tội nào

Tuy nhiên họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ chưa đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.

+ Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

+ Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

– Tòa án quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt theo nguyên tắc quy định.

– Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt

– Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần hai mức hình phạt quy định.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê