1. Đồng phạm, che dấu tội phạm, không tố giác tội phạm

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Đồng phạm:

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 17. Đồng phạm.

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

* Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

- Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

- Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

- Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

Che giấu tội phạm

Che giấu tội phạm được quy định cụ thể tại Điều 18 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

+ Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật hình sự.

Không tố giác tội phạm

Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

1. Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

+ Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định tại Chương XIII của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng.

+ Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều Điều 19 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định tại Chương XIII của Bộ luật Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

2. Người làm thuê có phải là đồng phạm ?

Xin chào luật sư. Tôi có vấn đề nhờ luật sư tư vấn dùm: Tôi có nhận làm thêm cho cá nhân đang làm hình thức chơi hụi nhưng theo đa cấp tức là người chơi phải góp vào 6 triệu và mời 1 người khi nào có đủ 8 người cũng mời 1 người giống vậy thì được nhận tiền lần lượt là 5triệu, 20 triệu và 25 triệu.
Hiện tại đã có 93 người tham gia và đã chi ra được 16 người. Do chương trình người chơi ko phát triển thêm người nên ko có chi nữa. Nay người chơi chờ đợi thấy lâu quá ko có tiền nên kiện ra công an kinh tế giải quyết và yêu cầu chủ hụi hoàn trả tiền vốn ban đầu là 6 triệu. Vậy theo luật sư tôi chỉ là người được thuê về làm với mức lương 03 triệu/tháng để làm các công việc như: nhập danh sách người chơi. Thu tiền nộp về cho chủ hụi. Theo dõi danh sách tới ai được thoát tiền báo cho chủ hụi để chi tiền.
Vậy tôi có bị tội danh đồng lõa với chủ hụi về tội lợi dụng chiếm đoạt tài sản hay không? Chương trình hiện nay đã bị lỗ. Chủ hụi không còn giữ tiền cũa người chơi vì đã chi cho người vào trước. Tức là theo kiểu như góp vốn xoay vòng. Những người vô sau gom tiền góp cho những người vô trước cho nên chương trình bị lỗ. Thu 558 triệu chi ra tất cả bao gồm chi phí cho chương trình là 600 triệu. Hiện chỉ có 03 người kiện ra công an kinh tế (trong khi còn lại 77 người chơi chưa nhận tiền).
Nhưng chủ hụi cam kết sẽ trả toàn bộ hệ thống theo thứ tự vào trước trả trước chứ không theo danh sách người khởi kiện để tránh sau này những người còn lại thấy vậy sẽ kiện tiếp tục như vậy sẽ đi hầu tòa. Làm như vậy là đúng hay sai.?Bên công an kinh tế bắt buộc trả cho những người gửi đơn kiện trước là đúng hay sai. Những người còn lại giải quyết như thế nào?
Xin cám ơn luật sư.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty luật Minh Khuê. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Chơi hụi là hoạt động được pháp luật thừa nhận. Các hoạt động liên quan đến việc khai hụi, chi tiền, đóng hụi,.... hoàn toàn do các thành viên tham gia thỏa thuận với nhau và không được trái với quy định của Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 471. Họ, hụi, biêu, phường

1. Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.

2. Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi suất phải tuân theo quy định của Bộ luật này.

4. Nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 17. Đồng phạm.

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn là người làm thuê cho chủ hụi với mức lương 03 triệu/tháng để làm các công việc: nhập danh sách người chơi, thu tiền nộp về cho chủ hụi. Theo dõi danh sách tới ai được thoát tiền báo cho chủ hụi để chi tiền. Căn cứ quy định trên, với những hoạt động này của bạn thì chưa đủ căn cứ để trở thành đồng phạm.

Về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của chủ hụi được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Hình thức của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là người chiếm đoạt thông qua hợp đồng, qua việc vay, mượn.... tiền, tài sản của người khác sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt của chủ tài sản. Trường hợp của bạn, việc chơi hụi bị lỗ, chủ hụi bị một số người chơi kiện ra Tòa án. Tuy nhiên bạn có cung cấp thông tin chủ hụi không còn giữ tiền cũa người chơi vì đã chi cho người vào trước và chủ hụi cũng cam kết sẽ trả toàn bộ hệ thống theo thứ tự ai vào trước trả trước. Như vậy là chủ hụi vẫn có ý thức trả lại tiền cho người chơi, không có ý định trốn tránh nghĩa vụ hay có ý định giữ tiền của người chơi rồi bỏ trốn, cho nên không có cơ sở để khẳng định được chủ hụi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

>> Xem thêm:  Tư vấn về hành vi vận chuyển động vật quý hiếm?

3. Chiếm đoạt 250 triệu đồng phạm tội gì?

Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp những quy định của pháp luật hình sự về việc chiếm đoạt tài sản và mức xử phạt:

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê . Với thắc mắc của bạn, Công ty Luật Minh Khuê xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ Điều 170 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định tội cưỡng đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

....

* Chủ thể của tội phạm:

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 170 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

* Khách thể: Các quan hệ về tài sản và quan hệ nhân thân. Tuy nhiên, chủ yếu là quan hệ về tài sản.

* Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tương lai, có thể sử dụng vũ khí giả để đe dọa tố giác hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm đạo đức, uy hiếp tinh thần của người bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản.

Lưu ý: Phân biệt với trường hợp đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc của tội cướp tài sản dựa trên sức mãnh liệt của hành vi đe dọa, công cụ thực hiện khi đe dọa, hoàn cảnh khách quan nơi xảy ra đe dọa.

* Mặt chủ quan của tội phạm:

- Lỗi cố ý

- Mục đích chiếm đoạt tài sản.

4. Cố ý gây thương tích

Xin chào Luật sư, tôi có một vụ việc rất mong nhận được sự tư vấn hỗ trợ của Luật sư, tôi xin trình bày nội dung vụ việc của mình như sau:

Do mâu thuẫn, xích mích lời qua tiếng lại với nhau từ trước nên ông Nguyễn Thành N đã cầm vũ khí đến nhà tôi và đuổi đánh tôi, đập gậy vào người và đầu tôi. sau khi tôi bỏ chạy, ông ta còn ở lại đập phá nhà và xe của tôi nữa.

Như vậy, theo Luật sư, ông N đã phạm tội gì và tôi nên làm gì để bảo vệ được quyền lợi của mình.

Chào bạn, trước hết Luật Minh Khuê cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Bộ phận Hỗ trợ khách hàng của chúng tôi, đối với nội dung câu hỏi của bạn, chúng tôi sẽ giải đáp như sau:

Trước hết, theo thông tin bạn cung cấp thì chúng tôi vẫn chưa hiểu rõ được những mâu thuẫn giữa hai bên là gì mà dẫn đến sự việc trên, người đàn ông đó cầm vũ khí ở đây là gì, gậy dùng để đập vào đầu bạn là loại gậy nào? tình trạng nhà và xe của bạn bị đập phá như thế nào? Bạn đã trình báo cơ quan công an để họ biết được hành vi của đối tượng nêu trên hay chưa?

Do đó, dựa trên thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi chỉ đưa ra được một số quy định nhất định mà bạn có thể xem xét, so sánh với thực tế vụ việc của mình để có định hướng giải quyết.

Trong trường hợp của bạn, sau khi sự việc xảy ra, bạn hoặc những người thân thiết đã chứng kiến sự việc xảy ra cần tố cáo tới cơ quan công an cấp quận, huyện nơi bạn đang cư trú để tiến hành điều tra và xử lý vụ việc này.

Thứ nhất, đối với hành vi đánh người, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

....

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

....
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Về tình tiết "Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;" sẽ được xác định như sau:

Vũ khí là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ).

Phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

– Về công cụ, dụng cụ

Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn…

– Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ…

– Về vật có sẵn trong tự nhiên

Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt…

Khi bạn đã được phía cơ quan chức năng đưa đi trưng cầu giám định để xác định về tỷ lệ tổn thương cơ thể thì sẽ căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể, cũng như sự đối chiếu về loại vũ khí mà đối tượng kia dùng có thuộc các trường hợp được liệt kê là nguy hiểm hay không để xác định khung hình phạt:

+ Thứ nhất, nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể của bạn dưới 11%, mà xác định đối tượng có dùng hung khí thì sẽ thuộc vào khoản 1 Điều 134;

+ Thứ hai, nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể trên 11% dưới 30%, xác định đối tượng có dùng hung khí thì sẽ thuộc vào khoản 2 Điều 134.

Thứ hai, đối với Hành vi đập phá nhà và xe của nhà bạn, bạn chưa nêu rõ được tình trạng của đồ đạc sau khi có hành vi đập phá như thế nào nên chúng tôi xin trích dẫn quy định về cấu thành tội hủy hoại tài sản theo quy định tại Điều 178, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

“Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

Theo đó, cơ quan điều tra sẽ căn cứ cụ thể theo tình trạng, hậu quả mà hành vi đập phá của đối tượng trên gây ra để xem xét xem có thể truy tố theo quy định trên hay không.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài, gọi ngay số: 1900.0159 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Có bị truy cứu TNHS với hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác không?