Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc phân bổ theo pháp luật trách nhiệm, quyền hạn quản lí qua các khoản thu và chỉ của ngân sách nhà nước cho các cấp chính quyển nhà nước để họ c6 quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm quản lí ngân sách của mình nhằm bảo đảm giải quyết các nhiệm vụ quan trọng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các địa phương..

Phân cấp quản lí ngân sách ở các quốc gia phụ thuộc mô hình tổ chức hệ thống các cấp ngân sách, Nếu cấp ngân sách được tổ chức theo một hệ thống các cấp chính quyền nhà nước thì tất cả các cấp chính quyền nhà nước đều có trách nhiệm, quyền hạn trong quản lí ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu cấp ngân sách nhà nước chỉ được tổ chức ở một số cấp chính quyền nhà nước thì chỉ có cấp chính quyền có tổ chức cấp ngân sách nhà nước mới được giao trách nhiệm, quyền hạn trong quản lí ngân sách nhà nước.

Ở Việt Nam, việc phân cấp quản lí ngân sách nhà nước trong hệ thống chính quyền nhà nước qua các thời kì có sự khác biệt. Sau Cách mạng tháng Tám, việc phân định cấp quản lí ngân sách nhà nước gồm: cấp trung ương, cấp kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và cơ quan quản lí ở xã. Trong một thời kì dài, ngân sách xã, thị trấn không thuộc hệ thống ngân sách nhà nước nên chính quyển cấp xã không được xem là cấp quản lí ngân sách nhà nước. Nghị quyết số 138/HĐBT ngày 19.11.1983 của Hội đồng Bộ trưởng là văn bản pháp luật đầu tiên quy định hệ thống ngân sách nhà nước gồm 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã và các cấp chính quyền nhà nước tương ứng đều được giao trách nhiệm, quyền hạn trong quản lí ngân sách nhà nước. Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước nắm 2002, ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân.

Như vậy, hệ thống cơ quan được phân cấp quản lý ngân sách nhà nước gồm: Chính quyền nhà nước trung ương và các cấp chính quyền địa phương có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân.