1. Phân chia tài sản chung, tài sản riêng sau khi ly hôn?

Chào luật sư! Tôi có 1 câu hỏi về tài sản riêng, chung của vợ và chồng khi ly hôn như sau: Hai vợ chồng tôi có 1 con chung được 2 tuổi, cả 2 gia đình đều quê ở xa, đang làm việc và sinh sống tại Hà nội. Vợ chồng có làm thủ tục vay tiền ngân hàng để mua 1 căn hộ chung cư và đã hoàn tất các thủ tục giao nhận căn hộ.

Để con đỡ vất mẹ tôi ở quê đã bán 1 miếng đất và cho tôi tiền trả nợ ngân hàng. Bây giờ 2 vc ly hôn thì phân chia tài sản căn hộ như thế nào? và trong trường hợp nào thì số tiền mẹ tôi cho tôi là tài sản riêng của tôi.

Trân trọng!

Người gửi: Dương Huy

Trả lời:

Tôi xin trả lời vấn đề của bạn như sau:

1. Thế nào là tài sản chung, tài sản riêng ?

Căn cứ pháp lý, luật hôn nhân và gia đình 2014, quy định :

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Nguyên tắc chia tắc chia tài sản khi ly hôn ?

Căn cứ pháp lý, luật hôn nhân và gia đình 2014, quy định :

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

>>>>Như vậy, về nguyên tắc căn hộ của anh chị sẽ được chia đều khi anh chị tiến hành ly hôn; tuy nhiên, tòa có thể xem xét về việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này để chia tài sản. Chị có thể đưa ra nhưng căn cứ, chứng cứ chứng minh phần đóng góp và tạo lập tài sản này khi tòa tiến hành giải quyết ly hôn cho anh chị.

>>>>Xét thông tin bạn cung cấp cho bên tôi, thì số tiền bố mẹ bạn cho để trả ngân hàng không có xác lập là cho riêng bạn tại thời điểm đó. Như vậy tài sản đó không phải là tài sản riêng của bạn. khi tiến hành giải quyết ly hôn cho vợ chông bạn, tòa án tiến hành chia tài sản theo quy định của pháp luật.

3. Làm thế nào để trở thành tài sản riêng ?

Căn cứ pháp lý:

Điều 32, luật hôn nhân và gia đình

Theo điều 32 luật hôn nhân và gia đình quy định:

1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.”

>>>>Như vậy thì tài sản của mẹ bạn cho bạn thuộc 1 điều 32 thì số tiền đó là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân nếu bạn chứng minh được mẹ bạn tặng riêng cho bạn.

>>>Theo đó nếu bạn chứng minh được căn hộ bạn mua được mua bằng tài sản riêng của bạn thì sẽ không phải chia tài sản. còn nếu bạn không chứng minh được thì bạn và vợ bạn sẽ chia tài sản đó theo phần công sức góp của vợ và chồng.

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

2. Đòi quyền ly hôn khi con mới 3 tháng tuổi?

Thưa luật sư, Tôi muốn đặt câu hỏi xin luật sư tư vấn và giải thích giúp ạ. Tôi và vợ tôi kết hôn được một thời gian và đến nay đã có một bé gái 3 tháng tuổi. Do trong quá trình sống với vợ. Tôi và cô ấy có bất đồng quan điểm về tiền bạc. Cô ấy cũng bất đồng về cách sống của tôi và mẹ chồng. Đến nay mâu thuẫn tăng cao.

Cô đấy đòi li hôn. Tôi không muốn li hôn vì con gái còn quá bé trong khi đó cô ấy vẫn chưa đi làm sẽ không có tiền chăm sóc cho con. Từ khi nghi sinh mọi chi phí sinh hoạt tôi lo hết.

Tôi muốn con gái tôi lớn hơn chút nữa thì mới li hôn. Vi tôi rất thương và lo cho cháu. Hiện tại vợ chồng tôi sống li thân. Tôi không được gặp cháu vì cô ấy đưa cháu về ngoại. Lên thăm cháu thì chắc sẽ không được cô ấy và gia đình cô ấy đồng ý. Tôi muốn đặt câu hỏi nhờ luật sư tư vấn giúp làm sao để tôi không phải
li hôn ngay và nếu buộc phải li hôn ngay thì làm cách nào để tôi được quyền nuôi con hoặc thấp nhất là quyền nuôi con chung với vợ tôi. Nếu không được quyền nuôi con chung thì tôi có được quyền thăm con như thế naò ạ?
Tôi rất mong sẽ nhận được sự tư vấn của luật sư về vấn đề trên!
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: Việt Nguyễn

Đòi quyền ly hôn khi con mới 3 tháng tuổi?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Ai là người nuôi con sau khi bố mẹ ly hôn ?

căn cứ điều 81 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định :

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con "

>>>Trong trường hợp của anh thì cháu bé mới 3 tháng tuổi tức là nằm trong số tuổi dưới 36 tháng. Vậy khi trẻ dưới 36 tháng tuổi thì khi ly hôn người mẹ được quyền nuôi con. Trừ một số hoàn cảnh đặc biệt, anh phải chứng minh được người vợ không đủ điều kiện để chăm sóc tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần, không đảm bảo được cho sự phát triển toàn diện của con. Thì anh sẽ được nuôi con.

>>>Vì vậy trong trường hợp trên của gia đình anh thì vợ chồng anh cần phải có sự thỏa thuận rõ ràng ai là người trực tiếp nuôi dạy cháu trước khi tiến tới quyết định ly hôn khi cháu bé mới 3 tháng tuổi

2. Quyền và nghĩa vụ chăm sóc con sau khi bố mẹ ly hôn được pháp luật quy định như thế nào ?

căn cứ pháp lý, luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định :

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

>>> Vì đứa bé là con chung của hai vợ chồng trong thời kì hôn nhân, vì vậy bố và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng bé.

>>>Trong trường hợp bố mẹ ly hôn, quyền nuôi con thuộc về người vợ, thì anh vẫn có quyền yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ con, được quy định tại điều 82 luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau :

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Bị ngăn cản thăm con sẽ được pháp luật bảo vệ như thế nào ?

Căn cứ điều 82 luật hôn nhân gia đình 2014 : " Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở."

Vì vậy, khi anh bị cản trở không được gặp con, căn cứ điều 53 nghị định 167/2013/ND-CP quy định :

Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đi với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

>>> Ngoài ra, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của luật hôn nhân gia đình 2014 :

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình;

3. Cha mẹ có quyền bắt buộc con phải ly hôn không ?

Thưa Luật sư, cho tôi hỏi cha mẹ có quyền bắt buộc con phải ly hôn hay không? Mặc dù chuyện vợ chồng không có gì mâu thuẫn?

Cha mẹ có quyền bắt buộc con phải ly hôn không ?

1. Cha mẹ bắt con ly hôn có phải là cưỡng ép ly hôn ?

Căn cứ pháp lý, luật hôn nhân và gia đình 2014 :

Cưỡng ép ly hôn là Bắt vợ chồng phải ly hôn trong khi họ mong muốn duy trì quan hệ hôn nhân. Biểu hiện dưới các hành vi như đối xử tàn tệ, gây đau khổ về thể xác hay tinh thần cho vợ chồng; đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản cho bản thân người vợ hoặc chồng... làm cho người vợ hoặc chồng phải ly hôn khi họ mong muốn duy trì mối quan hệ.

>>> Trường hợp bạn nêu trên, bố mẹ bắt con ly hôn, trong khi hai vợ chồng bạn hoàn toàn không có mâu thuẫn, không mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân. Thì bố mẹ bạn đã vi phạm quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014, cha mẹ hoàn toàn không có quyền bắt ép con kết hôn hay ly hôn.

>>Hành vi của bố mẹ bạn thuộc trường hợp cấm quy định tại điều 5 luật hôn nhân và gia đình :

Điểm e khoản 2 điều 5 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

[...] 2. Cấm các hành vi sau đây:

[...] e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;".

Như vậy, căn cứ theo quy định pháp luật trên thì không ai có quyền cưỡng ép ly hôn.

2. Cưỡng ép ly hôn bị xử phạt như thế nào ?

Hành bi cưỡng ép kết hôn, ly hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 100.000 đến 300.000 đồng theo quy định tại Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính, phòng chống bạo lực gia đình. Cụ thể:

"Điều 55. Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.".

Căn cứ điều 181 bộ luật hình sự 2015 quy định :

"Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Khi ra tòa có thể thay đổi thỏa thuận ban đầu được không ?

Thưa luật sư, tôi và chồng kết hôn được 3 năm. Nhưng do nhiều nguyên nhân nên chúng tôi quyết định thuận tình ly hôn. Cả hai vợ chồng tôi đã ký vào đơn thuận tình ly hôn, trong đó có cả thỏa thuận về các khoản nợ.

Nhưng giờ chồng tôi không muốn làm theo những điều đã thoả thuận đó. Vậy kính hỏi luật sư khi ra toà chồng tôi có thể bác bỏ những điều đã thoả thuận không? Hay toà sẽ dựa vào đó để xử lý? Rất mong quý luật sư giải đáp!

Tôi chân thành cảm ơn!

Người gửi: ducnhat...@gmail.com

Khi ra tòa có thể thay đổi thỏa thuận ban đầu được không?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về thủ tục ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Pháp luật dân sự nói chung và luật hôn nhân gia đình nói riêng đều tôn trọng sự thỏa thuận của các bên nếu sự thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm pháp luật và trái với đạo đức xã hội nên bạn và chồng hoàn toàn có thể tự thỏa thuận với nhau về nghĩa vụ của mỗi người đối với khoản nợ chung sau khi ly hôn. Tuy nhiên, do đây là thỏa thuận của vợ chồng trong thuận tình ly hôn, vì vậy để thỏa thuận đó có giá trị ràng buộc với mỗi bên thì nó phải được Tòa án công nhận bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bằng bản án ly hôn (đối với trường hợp không tự thỏa thuận được). Theo đó việc ly hôn của vợ chồng bạn vẫn phải được tiến hành theo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hòa giải tại Tòa án là một thủ tục bắt buộc trong vụ án ly hôn kể cả thuận tình ly hôn. Điều 185 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định về nội dung hòa giải như sau:

"Điều 185. Nội dung hoà giải
Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án."

Như vậy, khi tiến hành hòa giải tại Tòa án, chồng của bạn hoàn toàn có thể thay đổi thỏa thuận ban đầu đã ghi ở trong đơn ly hôn. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ vào sự thỏa thuận sau cùng của các bên để ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án ly hôn. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 điều 203 bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành thì bạn hoặc chồng vẫn có quyền thay đổi thỏa thuận.

Điều 203 Thời hạn chuẩn bị xét xử

3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

5. Điều kiện để được nuôi hai con chung khi ly hôn?

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi lấy nhau đã hơn 7 năm có 2 con: Cháu gái 7 tuổi và cháu trai 2,5 tuổi. Chồng tôi là người ăn chơi không chăm lo cho gia đình vì ỷ lại cho mẹ chồng tôi va tôi chăm 2 cháu. Mẹ chồg tôi làm nghề tín dụng nên bà vẫn lo mọi chi phí cho cuộc sống hàng ngày. Tôi bán hàng ăn ngoài chợ (là nghề của nhà chồng) và phải lo mọi chi phí cho con cái từ trước đến nay.

Chồng tôi có tính trăng hoa cặp kè với nhiều phụ nữ bên ngoài và còn có con riêng.Trước gia đình tôi cũng vài lần cho tiền làm ăn nhưg lần nào chồng tôi cũng lấy tiền đj ăn chơi hết. Gần 1 năm nay chồng tôi cũng được mẹ cho tiền chung với cậu em rể mua ô tô để làm nghề lái xe taxi. Mặc dù đj làm nhưg cũng không đưa cho vợ đồng nào để lo cho con. Anh ấy chi vui đùa với con chốc lát chứ không bao giờ quan tâm tới việc con ăn ngủ,học hành hay ốm đau như thế nào. Anh quá vô tâm, vô trách nhiệm khiến tôi chán nản.Gia đình tôi cũng khá giả có thể lo cho tôi cuộc sốg sung túc nhưg vì con tôi buộc phải theo nghề của nhà chồng vậy mà vẫn bị coi thường. Tôi muốn ly hôn vì không muốn chịu đựng người chồng như thế và nhất là mẹ chồng tôi nghĩ mình có tiền, chồng tôi là con 1 nên sẵn sàng cho chồng tôi tiền tiêu khi anh không đi làm. Làm thế nào để khi ly hôn tôi được nuôi hai cháu vì sống với người bố vô trách nhiệm có cuộc sống phóng khoáng thế thì tôi sợ con tôi sẽ phát triển không tốt.. .

Xin luật sư tư vấn giúp cho tôi hướng giải quyết. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyet

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Điều kiện để nhận nuôi con chung khi ly hôn - Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn! Trước tiên cho phép tôi thay mặt Công ty Luật Minh Khuê gửi tới bạn lời sẻ chia, cảm thông với những gì hoàn cảnh gia đình bạn đang gặp phải. Về mặt pháp lý tôi tư vấn cho bạn như sau:

Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014 tại Điều 81 thì:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác."

Con trai bạn 2,5 tuổi thì đương nhiên giao cho người mẹ là bạn nuôi. Con gái trên bạn đã 7 tuổi, thì bạn sẽ tôn trọng ý kiến của con, xem nguyện vọng con muốn sống với bố hay mẹ.

Ở hoàn cảnh gia đình qua những thông tin bạn cung cấp thì trước tòa án bạn cần có những bằng chứng xác thực việc chồng bạn là người trăng hoa, có phụ nữ bên ngoài và có con riêng. Đây chính là điều kiện đủ để tòa án sẽ trao quyền nuôi con cho bạn vì ở cạnh người cha môi trường sống của con không đảm bảo.

Trân trọng./.

6. Ly hôn khi vợ mang thai của người tình?

Kính gửi luật sư, Nhờ luật sư tư vấn về trường hợp của em tôi. Em tôi kết hôn từ tháng 10 năm 2012 với anh NVA nhưng trước khi kết hôn em tôi đã có quan hệ và có thai với người khác, trước khi kết hôn 10 ngày.

Trong quá trình chung sống em tôi là sinh viên đang học tập tại hà nội (gia đình chồng ở thái bình) toàn bộ chi phí sinh hoạt và học tập đều do chồng chu cấp. Sau khi sinh con gia đình nhà chồng của em tôi biết đứa con không pải là con cháu trong gia đình và yêu cầu vợ chồng em tôi ly hôn Em tôi và chồng cũng đồng ý ly hôn.hiện nay gia đình nhà chồng em tôi yêu cầu em tôi viết đơn xin ly hôn, và em tôi xin nhận quyền nuôi con, và mọi tài sản em tôi không yêu cầu phân chia , vậy kính mong luật sư tư vấn giúp gia đình tôi nếu em tôi viết đơn xin ly hôn thì sẽ phải chịu những chi phí gì, phí tổn ly hôn là bao nhiêu? nếu chồng của em tôi viết đơn có khac gì không? , em tôi có vi phạm luật hôn nhân gia đình không?

Kính mong luật sư giúp đỡ!

Người gửi: quang nguyen

Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn

- Mẫu đơn xin ly hôn;

- Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

- Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;

- Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

.Ly hôn khi vợ mang thai của người tình?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới văn phòng chúng tôi, tôi hướng dẫn bạn cách giải quyết như sau:

Bạn thân mến, việc ly hôn của em gái bạn không trái với quy định của pháp luật. Thắc mắc của bạn có 2 vấn đề lớn cần quan tâm như sau:

Thứ nhất: vấn đề xác nhận con chung và người có quyền yêu cầu ly hôn:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng”.

Theo đó, mặc dù gia đình chồng em bạn biết đứa bé em gái bạn sinh ra không phải là con cháu trong gia đình nhưng bé đã ra đời trong thời gian tồn tại mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng em gái bạn. Vì thế , đứa bé được xác định là con chung của vợ chồng em gái bạn. Theo quy định tại Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền xin yêu cầu ly hôn và pháp luật chỉ hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi con sinh ra chưa đủ 12 tháng tuổi. Do vậy, nếu đứa bé chưa đủ 12 tháng tuổi thì chồng em gái bạn không có quyền yêu cầu ly hôn, việc ly hôn trong lúc này chỉ được chấp nhận khi em gái bạn yêu cầu ly hôn. Nếu đứa bé đã đủ 12 tháng tuổi thì em gái bạn hay chồng em gái bạn cũng có thể yêu cầu ly hôn.

Thứ hai: Vấn đề về phân chia tài sản, quyền nuôi con, án phí khi ly hôn:

Dựa theo quy định tại điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác” . Do đó, trường hợp của em gái bạn thì em gái bạn được quyền nuôi con.
Nếu vợ chồng em gái bạn có tài sản chung thì em gái bạn có quyền được nhận 1phần tài sản trong khối tài sản chung đó; khối tài sản chung sẽ được chia theo nguyên tắc: “ Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này”- Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm2014

Về vấn đề án phí trong vụ án ly hôn : " Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm." Khoản 4 điều 147 bộ luật tố tụng dân sự 2015

Trường hợp của em bạn : gia đình nhà chồng yêu cầu em viết đơn xin ly hôn, hai vợ chồng cũng đồng ý quyết định ly hôn thì em gái bạn chỉ phải chịu một nửa án phí. Mức tiền cụ thể là “Trường hợp cả vợ và chồng cùng có yêu cầu thì mỗi người phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 100.000 đồng”- trích điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP . Theo đó, em gái bạn chỉ phải nộp 100.000 đồng. Ngoài ra, nếu vợ chồng em gái bạn còn yêu cầu tòa án phân chia về tài sản chung nữa thì mức án phí sẽ được xác định là “3.Trường hợp ngoài yêu cầu ly hôn, đương sự còn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu chia 1/2 giá trị tài sản chung của vợ chồng thì người có yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với 1/2 giá trị tài sản chung của vợ chồng.

" 4. Trường hợp ngoài yêu cầu ly hôn, đương sự còn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thì họ phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần họ yêu cầu chia trong giá trị tài sản mà Tòa án tạm tính theo hướng dẫn tại Điều 7 của Nghị quyết này” – trích Điều 11 NQ 01/2012 NQ –HĐTP."

Do vậy, nếu vợ chồng em gái bạn thỏa thuận được vấn đề chia tài sản chung thì không phải chịu mức phí yêu cầu tòa án chia tài sản như tôi đã nêu trên.

Chúc em gái bạn giải quyết thuận lợi!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê