1. Phân chia tài sản chung, tài sản riêng sau khi ly hôn?

Chào luật sư! Tôi có 1 câu hỏi về tài sản riêng, chung của vợ và chồng khi ly hôn như sau: Hai vợ chồng tôi có 1 con chung được 2 tuổi, cả 2 gia đình đều quê ở xa, đang làm việc và sinh sống tại Hà nội. Vợ chồng có làm thủ tục vay tiền ngân hàng để mua 1 căn hộ chung cư và đã hoàn tất các thủ tục giao nhận căn hộ.

Để con đỡ vất mẹ tôi ở quê đã bán 1 miếng đất và cho tôi tiền trả nợ ngân hàng. Bây giờ 2 vc ly hôn thì phân chia tài sản căn hộ như thế nào? và trong trường hợp nào thì số tiền mẹ tôi cho tôi là tài sản riêng của tôi.

Trân trọng!

Người gửi: Dương Huy

Trả lời:

1. Nguyên tắc chia tắc chia tài sản khi ly hôn?

Căn cứ pháp lý, luật hôn nhân và gia đình 2014, quy định:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

"...2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác...."

>>>>Như vậy, về nguyên tắc căn hộ của anh chị sẽ được chia đều khi anh chị tiến hành ly hôn; tuy nhiên, tòa có thể xem xét về việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này để chia tài sản. Chị có thể đưa ra nhưng căn cứ, chứng cứ chứng minh phần đóng góp và tạo lập tài sản này khi tòa tiến hành giải quyết ly hôn cho anh chị.

>>>>Xét thông tin bạn cung cấp cho bên tôi, thì số tiền bố mẹ bạn cho để trả ngân hàng không có xác lập là cho riêng bạn tại thời điểm đó. Như vậy tài sản đó không phải là tài sản riêng của bạn. khi tiến hành giải quyết ly hôn cho vợ chông bạn, tòa án tiến hành chia tài sản theo quy định của pháp luật.

2. Làm thế nào để trở thành tài sản riêng?

Theo điều 33 Luật hôn nhân và gia đình quy định 2014:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng....

>>>>Như vậy thì tài sản của mẹ bạn cho bạn thuộc 1 Điều 33 thì số tiền đó là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân nếu bạn chứng minh được mẹ bạn tặng riêng cho bạn.

>>>Theo đó nếu bạn chứng minh được căn hộ bạn mua được mua bằng tài sản riêng của bạn thì sẽ không phải chia tài sản. Còn nếu bạn không chứng minh được thì bạn và vợ bạn sẽ chia tài sản đó theo phần công sức góp của vợ và chồng.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

>> Xem thêm:  Đã ly hôn chồng không cho gặp con phải làm như thế nào ? Quyền nuôi con khi ly hôn ?

2. Đòi quyền ly hôn khi con mới 3 tháng tuổi?

Thưa luật sư, Tôi muốn đặt câu hỏi xin luật sư tư vấn và giải thích giúp ạ. Tôi và vợ tôi kết hôn được một thời gian và đến nay đã có một bé gái 3 tháng tuổi. Do trong quá trình sống với vợ. Tôi và cô ấy có bất đồng quan điểm về tiền bạc. Cô ấy cũng bất đồng về cách sống của tôi và mẹ chồng. Đến nay mâu thuẫn tăng cao.

Cô đấy đòi li hôn. Tôi không muốn li hôn vì con gái còn quá bé trong khi đó cô ấy vẫn chưa đi làm sẽ không có tiền chăm sóc cho con. Từ khi nghi sinh mọi chi phí sinh hoạt tôi lo hết.

Tôi muốn con gái tôi lớn hơn chút nữa thì mới li hôn. Vi tôi rất thương và lo cho cháu. Hiện tại vợ chồng tôi sống li thân. Tôi không được gặp cháu vì cô ấy đưa cháu về ngoại. Lên thăm cháu thì chắc sẽ không được cô ấy và gia đình cô ấy đồng ý. Tôi muốn đặt câu hỏi nhờ luật sư tư vấn giúp làm sao để tôi không phải
li hôn ngay và nếu buộc phải li hôn ngay thì làm cách nào để tôi được quyền nuôi con hoặc thấp nhất là quyền nuôi con chung với vợ tôi. Nếu không được quyền nuôi con chung thì tôi có được quyền thăm con như thế naò ạ?
Tôi rất mong sẽ nhận được sự tư vấn của luật sư về vấn đề trên!
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: Việt Nguyễn

Đòi quyền ly hôn khi con mới 3 tháng tuổi?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Ai là người nuôi con sau khi bố mẹ ly hôn?

Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con "

>>>Trong trường hợp của anh thì cháu bé mới 3 tháng tuổi tức là nằm trong số tuổi dưới 36 tháng. Vậy khi trẻ dưới 36 tháng tuổi thì khi ly hôn người mẹ được quyền nuôi con. Trừ một số hoàn cảnh đặc biệt, anh phải chứng minh được người vợ không đủ điều kiện để chăm sóc tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần, không đảm bảo được cho sự phát triển toàn diện của con. Thì anh sẽ được nuôi con.

>>>Vì vậy trong trường hợp trên của gia đình anh thì vợ chồng anh cần phải có sự thỏa thuận rõ ràng ai là người trực tiếp nuôi dạy cháu trước khi tiến tới quyết định ly hôn khi cháu bé mới 3 tháng tuổi

2. Quyền và nghĩa vụ chăm sóc con sau khi bố mẹ ly hôn được pháp luật quy định như thế nào?

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

>>> Vì đứa bé là con chung của hai vợ chồng trong thời kì hôn nhân, vì vậy bố và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng bé.

>>>Trong trường hợp bố mẹ ly hôn, quyền nuôi con thuộc về người vợ, thì anh vẫn có quyền yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ con, được quy định tại điều 82 luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau :

- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Bị ngăn cản thăm con sẽ được pháp luật bảo vệ như thế nào ?

Căn cứ điều 82 luật hôn nhân gia đình 2014 : " Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở."

Vì vậy, khi anh bị cản trở không được gặp con, căn cứ điều 53 nghị định 167/2013/ND-CP quy định :

Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đi với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

>>> Ngoài ra, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 luật hôn nhân gia đình 2014 :

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình;

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?

3. Cha mẹ có quyền bắt buộc con phải ly hôn không ?

Thưa Luật sư, cho tôi hỏi cha mẹ có quyền bắt buộc con phải ly hôn hay không? Mặc dù chuyện vợ chồng không có gì mâu thuẫn?

Cha mẹ có quyền bắt buộc con phải ly hôn không ?

1. Cha mẹ bắt con ly hôn có phải là cưỡng ép ly hôn ?

Căn cứ pháp lý, luật hôn nhân và gia đình 2014 :

Cưỡng ép ly hôn là Bắt vợ chồng phải ly hôn trong khi họ mong muốn duy trì quan hệ hôn nhân. Biểu hiện dưới các hành vi như đối xử tàn tệ, gây đau khổ về thể xác hay tinh thần cho vợ chồng; đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản cho bản thân người vợ hoặc chồng... làm cho người vợ hoặc chồng phải ly hôn khi họ mong muốn duy trì mối quan hệ.

>>> Trường hợp bạn nêu trên, bố mẹ bắt con ly hôn, trong khi hai vợ chồng bạn hoàn toàn không có mâu thuẫn, không mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân. Thì bố mẹ bạn đã vi phạm quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014, cha mẹ hoàn toàn không có quyền bắt ép con kết hôn hay ly hôn.

>>Hành vi của bố mẹ bạn thuộc trường hợp cấm quy định tại điều 5 luật hôn nhân và gia đình :

Điểm e khoản 2 điều 5 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

[...] 2. Cấm các hành vi sau đây:

[...] e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;".

Như vậy, căn cứ theo quy định pháp luật trên thì không ai có quyền cưỡng ép ly hôn.

2. Cưỡng ép ly hôn bị xử phạt như thế nào?

Hành bi cưỡng ép kết hôn, ly hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 100.000 đến 300.000 đồng theo quy định tại Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính, phòng chống bạo lực gia đình. Cụ thể:

"Điều 55. Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.".

Căn cứ Điều 181 bộ luật hình sự 2015 quy định :

"Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm."

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

4. Khi ra tòa có thể thay đổi thỏa thuận ban đầu được không?

Thưa luật sư, tôi và chồng kết hôn được 3 năm. Nhưng do nhiều nguyên nhân nên chúng tôi quyết định thuận tình ly hôn. Cả hai vợ chồng tôi đã ký vào đơn thuận tình ly hôn, trong đó có cả thỏa thuận về các khoản nợ.

Nhưng giờ chồng tôi không muốn làm theo những điều đã thoả thuận đó. Vậy kính hỏi luật sư khi ra toà chồng tôi có thể bác bỏ những điều đã thoả thuận không? Hay toà sẽ dựa vào đó để xử lý? Rất mong quý luật sư giải đáp!

Tôi chân thành cảm ơn!

Người gửi: [email protected]

Khi ra tòa có thể thay đổi thỏa thuận ban đầu được không?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về thủ tục ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Pháp luật dân sự nói chung và luật hôn nhân gia đình nói riêng đều tôn trọng sự thỏa thuận của các bên nếu sự thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm pháp luật và trái với đạo đức xã hội nên bạn và chồng hoàn toàn có thể tự thỏa thuận với nhau về nghĩa vụ của mỗi người đối với khoản nợ chung sau khi ly hôn. Tuy nhiên, do đây là thỏa thuận của vợ chồng trong thuận tình ly hôn, vì vậy để thỏa thuận đó có giá trị ràng buộc với mỗi bên thì nó phải được Tòa án công nhận bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bằng bản án ly hôn (đối với trường hợp không tự thỏa thuận được). Theo đó việc ly hôn của vợ chồng bạn vẫn phải được tiến hành theo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hòa giải tại Tòa án là một thủ tục bắt buộc trong vụ án ly hôn kể cả thuận tình ly hôn. Khỏan 4 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định về nội dung hòa giải như sau:

"Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án."

Như vậy, khi tiến hành hòa giải tại Tòa án, chồng của bạn hoàn toàn có thể thay đổi thỏa thuận ban đầu đã ghi ở trong đơn ly hôn. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ vào sự thỏa thuận sau cùng của các bên để ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án ly hôn. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 điều 203 bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành thì bạn hoặc chồng vẫn có quyền thay đổi thỏa thuận.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

5. Điều kiện để được nuôi hai con chung khi ly hôn?

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi lấy nhau đã hơn 7 năm có 2 con: Cháu gái 7 tuổi và cháu trai 2,5 tuổi. Chồng tôi là người ăn chơi không chăm lo cho gia đình vì ỷ lại cho mẹ chồng tôi va tôi chăm 2 cháu. Mẹ chồng tôi làm nghề tín dụng nên bà vẫn lo mọi chi phí cho cuộc sống hàng ngày. Tôi bán hàng ăn ngoài chợ (là nghề của nhà chồng) và phải lo mọi chi phí cho con cái từ trước đến nay.

Chồng tôi có tính trăng hoa cặp kè với nhiều phụ nữ bên ngoài và còn có con riêng.Trước gia đình tôi cũng vài lần cho tiền làm ăn nhưg lần nào chồng tôi cũng lấy tiền đj ăn chơi hết. Gần 1 năm nay chồng tôi cũng được mẹ cho tiền chung với cậu em rể mua ô tô để làm nghề lái xe taxi. Mặc dù đj làm nhưg cũng không đưa cho vợ đồng nào để lo cho con. Anh ấy chi vui đùa với con chốc lát chứ không bao giờ quan tâm tới việc con ăn ngủ,học hành hay ốm đau như thế nào. Anh quá vô tâm, vô trách nhiệm khiến tôi chán nản.Gia đình tôi cũng khá giả có thể lo cho tôi cuộc sốg sung túc nhưg vì con tôi buộc phải theo nghề của nhà chồng vậy mà vẫn bị coi thường. Tôi muốn ly hôn vì không muốn chịu đựng người chồng như thế và nhất là mẹ chồng tôi nghĩ mình có tiền, chồng tôi là con 1 nên sẵn sàng cho chồng tôi tiền tiêu khi anh không đi làm. Làm thế nào để khi ly hôn tôi được nuôi hai cháu vì sống với người bố vô trách nhiệm có cuộc sống phóng khoáng thế thì tôi sợ con tôi sẽ phát triển không tốt.. .

Xin luật sư tư vấn giúp cho tôi hướng giải quyết. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyet

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 tại Điều 81 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì:

- Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

- Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

Con trai bạn 2,5 tuổi thì đương nhiên giao cho người mẹ là bạn nuôi. Con gái trên bạn đã 7 tuổi, thì bạn sẽ tôn trọng ý kiến của con, xem nguyện vọng con muốn sống với bố hay mẹ.

Ở hoàn cảnh gia đình qua những thông tin bạn cung cấp thì trước tòa án bạn cần có những bằng chứng xác thực việc chồng bạn là người trăng hoa, có phụ nữ bên ngoài và có con riêng. Đây chính là điều kiện đủ để tòa án sẽ trao quyền nuôi con cho bạn vì ở cạnh người cha môi trường sống của con không đảm bảo.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: [email protected] để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại