Muốn áp dụng biện pháp ngăn chặn phải dựa vào pháp luật, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đảm bảo việc ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn có căn cứ pháp luật và thật sự cần thiết. Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn gồm:

1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho một hoặc nhiều quan hệ xã hội là khách thể được luật hình sự bảo vệ. Việc kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để tội phạm xảy ra hoặc không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi phạm tội của minh gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm cần thiết và cấp bách.

Vì vậy, BLTTHS quy định việc kịp thời ngăn chặn tội phạm là một trong các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn. Căn cứ này thường được áp dụng để giữ người trong trường hợp khẩn cấp khi xác định được một trong các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 BLTTHS như khi có căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoậc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc bắt người phạm tội quả tang trong trường hợp người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt (khoản 1 Điều 111 BLTTHS).

2. Khỉ có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử

Việc bị can, bị cáo có mặt theo giấy triệụ tập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án cũng như việc quản lí giám sát được bị can, bị cáo về con người cũng như hành vi của họ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Neu bị can, bị cáo ttốn ưánh hoặc có những hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì việc xác định sự thật khách quan của vụ án sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, BLTTHS quy định khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử là một trong các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Đối tượng để áp dụng căn cứ này thường là bị can, bị cáo, người bị truy nã. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang còn có thể áp dụng đối với những người chưa bị khởi tố về hình sự khi có căn cứ để cho rằng họ sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá tội phạm.

Căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thể hiện qua việc họ đang bỏ trốn, chuẩn bị trốn, làm giả chứng cứ, tiêu huỷ chứng cứ, có sự câu kết, bàn bạc giữa những người đồng phạm nhằm trốn tránh pháp luật, mua chuộc, đe doạ, không chế người làm chứng, bị hại V.V..

3. Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội

Đối với người bị bắt, bị can, bị cáo có biểu hiện tiếp tục phạm tội thì việc áp dụng biện pháp cách li họ với xã hội hoặc hạn chế các điều kiện để họ không thể tiếp tục phạm tội là rất cần thiết. BLTTHS quy định khi có căn cứ chứng tỏ người bị bụộc tội sẽ tiếp tục phạm tội là căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn.

>> Xem thêm:  Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự là gì ? Cách áp dụng biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế ?

Khi áp dụng căn cứ này cần phân biệt với căn cứ "để kịp thời ngăn chặn tội phạm". Cả hai căn cứ đều nhằm ngăn chặn không để tội phạm xảy ra. Tuy nhiên, điểm khác nhau giữa hai căn cứ này là "để kịp thời ngăn chặn tội phạm" được áp dụng với những người chưa bị khởi tố về hình sự đối với hành vi được xác định là lí do dẫn đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với họ, còn để ngăn chặn việc "người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội" thường được áp dụng với các bị can, bị cáo (những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị toà án quyết định đưa ra xét xử) khi có căn cứ cho rằng họ sẽ tiếp tục phạm tội.

Những căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội có thể xác định trên các phương diện sau:

- về nhân thân người bị bắt, bị can, bị cáo: Người bị bắt, bị can, bị cáo là những đối tượng có nhân thân xấu. Ví dụ: bị can, bị cáo là những đối tượng thuộc diện lưu manh, côn đồ, hung hãn... Bị can, bị cáo là những người đã có nhiều tiền án, tiền sự hoặc những đối tượng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp như chuyên sống bằng các nghề cướp giật, frộm cắp, lừa đảo...

- về hành vi của người bị buộc tội: người bị buộc tội đã có những biểu hiện sẽ tiếp tục phạm tội thể hiện như đe doạ trả thù người tố giác, đe doạ trả thù bị hại, người làm chứng và đã có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện hoặc các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm và xét thấy người bị buộc tội có khả năng thực hiện được sự đe doạ đó.

4. Để bảo đảm thỉ hành án

Thi hành án là giai đoạn của tố tụng hình sự nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án. Thi hành các bản án hoặc quyết định của toà án có liên quan trực tiếp đến người bị kết án. Sự có mặt của người bị kết án khi bản án được thi hành là rất cần thiết, đặc biệt là đối với người bị toà án quyết định áp dụng hình phạt tù. Nếu người bị kết án trốn tránh hoặc có hành vi gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc thi hành án thì việc thi hành án sẽ không đạt kết quả. Do vậy, BLTTHS quy định để bảo đảm thi hành án frong các trường hợp nhất định là căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn. Toà án thường áp dụng căn cứ này frong những trường họp sau:

Đối với bị cáo không bị tạm giam nhung bị toà án cấp sơ thẩm kết tội, tuyên hình phạt tù mà có căn cứ cho rằng nếu không hạn chế tự do của bị cáo thì bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội, hội đồng xét xử có thể quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên toà để bảo đảm thi hành án.

Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị toà án cấp phúc thẩm tuyên hình phạt tù thì hội đồng xét xử ra quyết định bắt tạm giam ngay để bảo đảm thi hành án, trừ trường hợp bị cáo có lí do để hoãn thi hành án phạt tù.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là gì ? Quy định về hủy bỏ, thay đổi biện pháp ngăn chặn ? Cho ví dụ ?

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Áp giải, dẫn giải là gì ? Quy định pháp luật về áp giải, dẫn giải