Vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán hoặc tiêu hủy vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây thiệt hại cho người khác.

- Khách thể của tội phạm:

Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ xâm phạm an toàn công cộng thể hiện bằng việc vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán hoặc tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

Việc quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được Nhà nước quy định chặt chẽ, xuất phát từ tính chất và công dụng đặc biệt của các đối tượng đó,nhằm đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe của con người cũng như sự an toàn về tài sản của Nhà nước và công dân.

Đối tượng tác động của tội phạm này là vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ hoặc công cụ hỗ trợ. Các đối tượng này đã được xác định cụ thể tại các Điều 304, Điều 306 nêu trên.

- Mặt khách quan của tội phạm:

Tội phạm được thể hiện ở hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán hoặc tiêu hủy vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

Hành vi vi phạm quản lý là người được giao trách nhiệm tổ chức, kiểm soát quá trình sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy trình.

Để xác định có vi phạm hay không, cần đối chiếu hành vi của người đó với các quy định của Nhà nước về việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, cồng cụ hỗ trợ.

Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì hành vi phạm tội cần thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

+ Làm chết người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên;

+ Có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c Khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời.

Mốỉ quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với hậu quả tác hại đã xảy ra hoặc sẽ xảy ra là dấu hiệu bắt buộc cần xem xét trong cấu thành tội phạm.

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý. Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc không thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

* Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội phạm này là người có trách nhiệm quản lý, kiểm soát việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật quy định.

Trách nhiệm này do tính chất nghề nghiệp mà có như: Giám đốc, đốc công ở các nhà máy sản xuất, thủ kho, lái xe, người áp tải... Do đó, khi xác định chủ thể của tội phạm này cần chú ý đến nghề nghiệp và mối liên hệ giữa nghề nghiệp với trách nhiệm của họ khi thực hiện công việc được giao.

- Hình phạt:

Điều 307 Bộ luật hình sự quy định các khung hình phạt sau:

Khoản 1 quy định người phạm tội có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Làm chết người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Khoản 2 quy định người phạm tội có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Làm chết 02 người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Khoản 3 quy định gưòi phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Làm chết 03 người trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 201% trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

Khoản 4 quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng của 03 người trở lên hoặc gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 201% trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 1.500.000.000 đồng trở nên nếu không được ngăn chặn kịp thời.

Khoản 5 quy định người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.