Nói cách khác, mục tiêu của pháp luật là thiết lập trật tự thông qua việc uốn nắn hành vi của con người trong xã hội. Tuy nhiên, từ góc độ luật học, người học luật sẽ thấy rằng cách thức mà pháp luật hiện thực hoá mục tiêu này là tác động lên các quan hệ xã hội mà con người tham gia trong các hoàn cảnh cụ thể. Theo Karl Marx "... bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”. Như vậy, thông qua việc quy định khuôn mẫu cho các quan hệ xã hội, pháp luật uốn nắn hành vi của con người. Cũng do mối quan hệ liên hoàn này mà quan hệ xã hội được gọi là “đối tượng điều chỉnh” của pháp luật. Trong tổng thể hệ thống pháp luật của một quốc gia, ví dụ Việt Nam, có nhiều bộ phận pháp luật khác nhau được gọi là các “ngành luật” như ngành Luật hiến pháp, ngành luật hành chính, ngành luật dân sự, ngành luật hình sự, ngành luật tố tụng dân sự, ngành luật tố tụng hình sự V.V..

Ngành luật được hình thành để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất, hay cùng “loại” với nhau. Ví dụ, ngành luật dân sự điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới tài sản và nhân thân phi tài sản, ngành luật hình sự điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới tội phạm và hình phạt... Quan điểm luật học của Việt Nam cho rằng, đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là cơ sở để hình thành nên ngành luật đó, hay nói cách khác là tạo nên phạm vi các vấn đề mà ngành luật đó điều chỉnh. Đặc điểm của đối tượng điều chỉnh cũng là cơ sở để phân biệt ngành luật này với ngành luật khác, qua đó hình thành các ngành luật độc lập. Vì vậy, đối tượng điều chỉnh là một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi ngành luật. Đặc điểm của đối tượng điều chỉnh của một ngành luật luôn có tác động quyết định tới các giá trị đặc trưng của ngành luật đó.

Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp là các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản nhấtquan trọng nhẩt trong xã hội. Trong quá trình tham gia vào đời sống xã hội, con người thiết lập nhiều quan hệ xã hội khác nhau, tuy nhiên các quan hệ xã hội đó không ngang hàng với nhau mà giữa chúng có thứ bậc nhất định. Có những quan hệ xã hội làm nền tảng cho sự hình thành các quan hệ xã hội khác, nghĩa là phải xác định được các quan hệ xã hội đó trước khi thiết lập các quan hệ xã hội khác. Ví dụ, trong lĩnh vực dân sự, quan hệ sở hữu là một quan hệ nền tảng, nếu không xác định được quan hệ sở hữu thì tất yếu không thiết lập được các giao dịch dân sự có liên quan; trong lĩnh vực hình sự thì quan hệ liên quan tới việc công nhận và bảo hộ quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng của con người là một quan hệ nền tảng, nếu không xác định được mối quan hệ này thì sẽ không thiết lập được các quan hệ cụ thể để bảo vệ thân thể và tính mạng của người dân. Đối với nhà nước, các quan hệ xã hội nền tảng cũng là các quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất trong quá trình quản lí xã hội bằng pháp luật. Mỗi khi nội dung điều chỉnh các quan hệ xã hội nền tảng có sự thay đổi thì nội dung điều chỉnh các quan hệ xã hội khác trong cùng lĩnh Vực cũng có sự thay đổi theo. Các quan hệ xã hội nền tảng này là đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP.

Đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP có thể được chia thành ba nhóm lớn như sau:

Nhóm 1: các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, chỉnh sách đổi ngoại'. Trong lĩnh vực chính trị, ngành LUẬT HIẾN PHÁP điều chỉnh các mối quan hệ nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất liên quan tới quốc gia, lãnh thổ, quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, ví dụ: vấn đề chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc cơ bản, bản chất của nhà nước, nguồn gốc của quyền lực nhà nước, hệ thống chính trị V.V.. Khi điều chỉnh các quan hệ xã hội nền tảng của lĩnh vực chính trị, ngành LUẬT HIẾN PHÁP đồng thời thiết lập nền tảng của chế độ chính trị. Trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng và chính sách đối ngoại, những quan hệ xã hội nền tảng mà ngành LUẬT HIẾN PHÁP điều chỉnh là những quan hệ xã hội liên quan tới định hướng phát triển lớn của từng lĩnh vực, ví dụ mô hình phát triển kinh tế, định hướng giá trị phát triển nền văn hoá, khoa học, công nghệ V.V.. Qua việc điều chỉnh các quan hệ xã hội đó, ngành LUẬT HIẾN PHÁP hình thành các chính sách cơ bản nhất, quan trọng nhất định hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực.

Nhóm 2: các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhẩt trong lĩnh vực quan hệ giữa nhà nước và người dãn, hay có thể gọi là các quan hệ xã hội xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân'. Trong đời sống xã hội, các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam quy định cho người dân, trong đó có công dân Việt Nam rất nhiều quyền và nghĩa vụ pháp lí trong các lĩnh vực khác nhau. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân là những quyền và nghĩa vụ nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất của từng lĩnh vực, ví dụ quyền bầu cử, ứng cử trong lĩnh vực chính trị, quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất, tự do kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế, quyền bất khả xâm phạm nhân phẩm, danh dự, tính mạng, tài sản trong lĩnh vực tự do cá nhân V.V.. Những quyền cơ bản này là nền tảng hình thành các quyền cụ thể của người dân trong từng lĩnh vực, ví dụ quyền được đăng kí kinh doanh, quyền được khởi kiện, quyền được yêu cầu bồi thường dân sự ngoài hợp đồng V.V.. Tập hợp các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân tạo thành địa vị pháp lí cơ bản của người dân đối với nhà nước.

Nhóm 3: các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Đây là các quan hệ xã hội liên quan tới việc xác định các nguyên tắc tổng thể của bộ máy nhà nước Việt Nam, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Việt Nam từ trưng ương tới địa phương. Đây là nhóm đối tượng điều chỉnh lớn nhất của ngành LUẬT HIẾN PHÁP.

Xem xét ở góc độ khái quát, đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP có những đặc điểm riêng, qua đó khẳng định tính độc lập của ngành LUẬT HIẾN PHÁP trong hệ thống pháp luật Việt Nam, như sau:

Thứ nhất, đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP hiện diện ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tới các lĩnh vực dân sự, hình sự, tố tụng. Trong khi đó, đối tượng điều chỉnh của hầu hết các ngành luật khác thường nằm trong một lĩnh vực cụ thể, ví dụ luật thương mại, luật môi trường...

Thứ hai, mặc dù trải rộng trên nhiều lĩnh vực song đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP chỉ bao gồm các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong từng lĩnh vực. Các quan hệ xã hội cụ thể hơn của từng lìhh vực thường là đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác, như ngành luật thương mại, hành chính, dân sự, hình sự, tài chính, lao động V.V.. Thuộc tính nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất của đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP mang tính trừu tượng cao, song không phải không có tiêu chí để xác định, như các tiêu chí phân tích trên đây.

>> Xem thêm:  Luật hiến pháp là gì ? Tìm hiểu quy định về luật hiến pháp

Thứ ba, đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP có thể được liệt kê thành các nhóm quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong từng lĩnh vực song sự liệt kê đó không mang tính tuyệt đối. Thuộc tính nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất là yếu tố xác định phạm vi các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP và việc xác định quan hệ xã hội nào có thuộc tính này ít nhiều mang tính chủ quan. Chính vì vậy mà phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP có thể thay đổi trong từng thời kì tuỳ thuộc vào nhận thức của giới nghiên cứu khoa học pháp lí và các cơ quan có thẩm quyền trong từng giai đoạn cụ thể. Một quan hệ xã hội lúc này có thể được coi là nền tảng song lúc khác lại không phải như vậy, và ngược lại. Ví dụ, các quan hệ liên quan tới việc kiểm soát quyền lực nhà nước bằng các cơ quan hiến định độc lập1 trong bộ máy nhà nước mới được đưa vào phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành LUẬT HIẾN PHÁP Việt Nam.

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Phân tích nguồn của ngành luật hiến pháp ?