1. Quốc gia là gì?

Quốc gia là một khái niệm địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp lý, để chỉ về một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và những con người của các dân tộc có trên lãnh thổ đó; họ gắn bó với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập quốc, và những con người chấp nhận nền văn hóa cũng như lịch sử lập quốc đó cùng chịu sự chi phối của chính quyền, và, họ cùng nhau chia sẻ quá khứ cũng như hiện tại và cùng nhau xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền.

Quốc gia (không nên nhầm với quốc gia tự trị vốn có vị thế nhỏ hơn) là một khái niệm không gian, văn minh, xã hội và chính trị; trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp lý, để chỉ về một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và những con người của các dân tộc có trên lãnh thổ đó; họ gắn bó với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập quốc, và những con người chấp nhận nền văn hóa cũng như lịch sử lập quốc đó cùng chịu sự chi phối của chính quyền, và, họ cùng nhau chia sẻ quá khứ cũng như hiện tại và cùng nhau xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền.

Quốc gia cũng có khi được dùng để chỉ một nước hay đất nước, như “Nước Việt Nam là một quốc gia ở vùng Đông Nam Á”. Hai khái niệm này, mặc dù vẫn thường được dùng thay cho nhau, có sắc thái khác nhau.

Tính từ “quốc gia” dùng để chỉ mức độ quan trọng tầm cỡ quốc gia và/hoặc được chính phủ bảo trợ như “Thư viện quốc gia, Trung tâm lưu trữ quốc gia, Hội đồng quốc gia biên soạn từ điển…”

Về phương diện công pháp quốc tế thì một chủ thể được xem là quốc gia khi có đầy đủ các yếu tố sau: lãnh thổ, dân cư và có chính quyền. Quốc gia là chủ thể quan trọng của quan hệ pháp luật quốc tế.

Quốc gia cũng có khi được dùng để chỉ một nước hay đất nước, như "Nước Việt Nam là một quốc gia ở vùng Đông Nam Á". Hai khái niệm này, mặc dù vẫn thường được dùng thay cho nhau, có sắc thái khác nhau.

Tính từ "quốc gia" là dùng để chỉ mức độ quan trọng tầm cỡ quốc gia và/hoặc được chính phủ bảo trợ như "Thư viện quốc gia, Trung tâm lưu trữ quốc gia, Hội đồng quốc gia biên soạn từ điển..."

2. Công nhận quốc tế là gì?

Công nhận quốc tế là hành vi chính trị pháp lý của quốc gia dựa trên những động cơ nhất định nhằm xác định sự tồn tại của thành viên mới trong quan hệ cộng đồng quốc tế và khẳng định quan hệ trong quốc gia công nhận với các chế độ chính sách của quốc gia được công nhận và thể hiện ý chí của các quốc gia muốn thiết lập lại quan hệ bình thường và ổn định với bên được công nhận.

Trong thực tiễn quan hệ công nhận quốc tế, có những thể loại khác nhau như công nhân dấn tộc đang đấu tranh, công nhận “các chính phủ lưu vong”, công nhận các bên tham gia tham chiến, công nhân các bên khởi nghĩa. Song công nhận quốc gia mới và công nhận chính phủ mới là những thể loại cơ bản của sự công nhận quốc tế và thường gặp trong đời sống quốc tế.

Một là, công nhận quốc gia mới thành lập, các trường hợp được công nhận quốc gia mới thành lập:

- Các quốc gia có thể thành lập theo con đường cổ điển là một tập thể con người có thể thành lập quốc gia mới bằng cách hòa bình do sự định cư của họ trên một lãnh thổ vô chủ hoặc trên lãnh thổ chưa có một tổ chức chính trị phù hợp. Trường hợp này hiện nay hầu như không còn gặp nữa.

- Quốc gia có thể được thành lập do kết quả của các cuộc cách mạng xã hội. Trường hợp này khá phổ biến ở Châu A, châu Phi, Mỹ Latinh trong thời gian sau Đại chiến thế giới thứ hai.

- Quốc gia có thể được thành lập do kết quả hoạt động của các quốc gia đã hoặc đang tồn tại vào thời điểm thành lập đó. Trong trường hợp này, quốc gia mới có thể được thành lập theo nhiều phương thức khác nhau, chẳng hạn, sự phân chia một quốc gia đang tồn tại thành hai hoặc nhiều quốc gia độc lập, hay là sự hợp nhất hai hay nhiều quốc gia độc lập thành một quốc gia mới…

Các quốc gia mới được thành lập theo các trường hợp nói trên, không phụ thuộc và thời gian, địa điểm, các đặc điểm dân cư, lãnh thổ, hình thức nhà nước,… là những chủ thể mói của luật quốc tế ngay tại thời điểm mới được thành lập. Sự công nhận quốc gia ở đâu chỉ đóng vai trò tuyên bố sự tồn tại trên trường quốc tế của một quốc gia mới mà thôi.

Hai là, công nhận chính phủ mới thành lập

Khi một quốc gia mới thành lập theo một trong những trường hợp nói trên thì sự công nhận quốc gia mới được thành lập thường đồng thời với công nhận chính phủ của quốc gia mới. Trong trường hợp này trùng hợp tất yếu của hai thể loại công nhận,- công nhận quốc gia và công nhận chính phủ. Ngoài trường hợp đặc biệt này thì hai thể loại công nhận đó là hi thể loại công nhận khác nhau và độc lập với nhau.

Công nhận chính phủ mói có nghĩa là công nhận người đại điện hợp pháp cho một quốc gia có chủ quyền trong sinh hoạt quốc tế chứ không phải công nhận chủ thể mới của luật quốc tế. Công nhận chính phủ mới có ý nghĩa quan trọng như công nhận quốc gia mới thành lập. Sự công nhận chính phủ mới thường được đặt ra đối với loại chính phủ de facto. Xét về phạm vi hoạt động và quyền lực, chính phủ de facto được phân ra làm hai loại, chính phủ de facto chung cho toàn quốc và chính phủ de facto địa phương.

Luật quốc tế không điều chỉnh và không thể điều chỉnh những quan hệ nội bộ của quốc gia. chính vì vậy, chỉ những chính phủ đang thực hiện hiệu quả và độc lập quyền lực của mình trên toàn lãnh thổ hoặc trên một phần lớn lãnh thổ quốc gia được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ mới là đối tượng công nhận quốc tế.

3. Khái niệm Hiệp định

Hiệp định hay còn gọi là thỏa thuận thương mại (còn được gọi là hiệp ước thương mại) là một hiệp định hoặc thỏa thuận thuế, thuế quan và thương mại rộng rãi thường bao gồm bảo lãnh đầu tư. Nó tồn tại khi hai hoặc nhiều quốc gia đồng ý về các điều khoản giúp họ giao dịch với nhau. Các hiệp định thương mại phổ biến nhất là các loại hình thương mại tự do và ưu đãi được ký kết nhằm giảm (hoặc loại bỏ) thuế quan, hạn ngạch và các hạn chế thương mại khác đối với các mặt hàng được giao dịch giữa các bên ký kết.

Hiệp định thương mại - về logic là phác thảo những gì được thỏa thuận và các hình phạt cho sự sai lệch so với các quy tắc được đặt ra trong thỏa thuận. Do đó, các hiệp định thương mại làm cho sự hiểu lầm ít có khả năng xảy ra hơn, và tạo niềm tin cho cả hai bên rằng gian lận sẽ bị trừng phạt; điều này làm tăng khả năng hợp tác lâu dài[1]. Một tổ chức quốc tế, chẳng hạn như IMF, có thể khuyến khích hợp tác hơn nữa bằng cách giám sát việc tuân thủ các thỏa thuận và báo cáo các nước thứ ba về các vi phạm. Giám sát của các cơ quan quốc tế có thể cần thiết để phát hiện các hàng rào phi thuế quan, đó là những nỗ lực trá hình trong việc tạo ra các rào cản thương mại.

Các hiệp định thương mại thường gây tranh cãi về mặt chính trị vì chúng có thể thay đổi phong tục kinh tế và làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc lẫn nhau với các đối tác thương mại. Tăng hiệu quả thông qua "giao dịch tự do" là mục tiêu chung. Phần lớn, các chính phủ đều ủng hộ các hiệp định thương mại tiếp theo.

Tuy nhiên, đã có một số lo ngại được thể hiện bởi WTO. Theo Pascal Lamy, Tổng giám đốc WTO, sự phổ biến của RTA Ấn... là mối quan tâm về chăn nuôi - mối quan tâm về sự không thống nhất, nhầm lẫn, tăng chi phí theo cấp số nhân cho kinh doanh, không thể đoán trước và thậm chí không công bằng trong quan hệ thương mại.” Quan điểm của WTO là trong khi các hiệp định thương mại điển hình (được gọi là "ưu đãi" hay "khu vực" của WTO) hữu ích ở một mức độ nào đó, thì việc tập trung vào các hiệp định toàn cầu trong khuôn khổ WTO là có lợi hơn nhiều như các cuộc đàm phán của vòng Doha hiện tại.

4. Quốc gia công nhận hiệp định

Hiến pháp quốc gia của một nước thường định nghĩa thủ tục phải tuân thủ khi công nhận (phê chuẩn) một hiệp định quốc tế. Tại các nước châu Âu, Quốc hội thường tham gia vào quyết định này, nhưng không luôn phải là người quyết định cuối cùng, ví dụ tại Thuy Sĩ, một số hiệp định quốc tế nhất định phải được trưng cầu dân ý để công nhận. Tại các nước khác, quyết định tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân như vậy được xác định bởi những cân nhắc chính trị và giải phấp từ đó có thể không ràng buộc chính phủ.

Thời gian yêu cầu để hoàn thành các thủ tục quốc gia như trên cũng rất khác nhau. Việc này có thể làm trì hoãn hiệu lực của hiệp định, trừ khi được ghi rõ ràng rằng không phải mọi văn bản phê chuẩn của các bên phải được nhận từ nơi lưu trữ để hiệp định bắt đầu có hiệu lực. Đó là trường hợp đối với FTAs giữa các nước EFTA và cấc bên thứ ba. Theo quy định, các hiệp định này bắt đầu có hiệu lực ngay sau khi bên thứ ba và một nước EFTA phê chuẩn.

Hiến pháp hoặc pháp luật quốc gia thường cũng quy định cách thức thế nào các quyết định trở nên ràng buộc một khi hiệp định có hiệu lực. Tại nhiều nước, các thủ tục đơn giản hơn cho việc công nhận toàn bộ hiệp định, nhưng cũng không phải luôn luôn như vậy. Tại một vài nước, quốc hội có tiếng nói cuối cùng khi nào quyết định có hậu quả tài chính. Điều này có thể bị trì hoãn đáng kể, đặc biệt trong thời gian bầu cử, khi mà quốc hội không nhóm họp được. Trong những trường hợp như vậy, hậu quả thậm chí càng trầm trọng hơn so với trường hợp toàn bộ hiệp định, bởi vì không thể luôn luôn áp dụng một quyết định giữa các thành viên đã hoàn thành các thủ tục trong nước, phải chờ đợi sự công nhận bởi các nước khấc. Trong trường hợp đó, phải viện đến những giải pháp không chính thức (ví dụ lặng lẽ và tạm thời áp dụng quyết định), nếu có thể.

5. Hình thức công nhận quốc tế là gì?

Không tồn tại một hình thức công nhận thống nhất cho mọi trường hợp. trong thực tiễn quốc tế, các chủ thể thường sử dụng một trong các hình thức sau khi thực hiện, hành vi công nhận quốc.

Các hình thức công nhận quốc tế có thể kể đến bao gồm:

- Công nhận de jure: là công nhận chính thức ở mức độ đầy đủ nhất và trong một phạm vi toàn diện nhất.

- Công nhận ad hoc: là hình thức công nhận đặc biệt chỉ phát sinh trong quan hệ giữa các bên trong một phạm vi nhất định, hoàn cảnh nhất định nhằm tiến hành một số công vụ nhất định cụ thể và quan hệ đó sẽ được chấm dứt ngay sau khi hoàn cảnh công vụ đó.

Ví dụ: Năm 1976 Mỹ thực thi chính sách cấm vận đối với Việt nam, tuy nhiên trong thời gian này, Mỹ cũng tiến hành công nhận ad hoc với Việt nam bằng cách ký một loạt các hiệp định song phương liên quan đến vấn đề tìm kiếm hài cốt liệt sỹ Mỹ mất tích tại Việt nam..

- Công nhận de facto là công nhận quốc tế thực tế nhưng ở mức không đầy đủ, hạn chế và trong một phạm vi không toàn diện. Theo V.I Lê Nin công nhận de facto là “công nhận mới một nửa”.

Sự khác nhau giữa công nhận de facto và công nhận de jure chủ yếu về mặt chính trị. Động cơ chính trị chủ yếu của bên de facto thể hiện ở thái độ thận trọng của quốc gia công nhận đối với quốc gia hoặc chính phủ mói được thành lập trong nhiều vấn đề liên quan đến tình hình, bối cảnh trong nước cũng như quốc tế.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.