1. Hiệu lực về phạm vi điều chỉnh quan hệ cạnh tranh

Theo Điều 1 Luật cạnh tranh năm 2018, về nội dung, phạm vi điều chỉnh của Luật gồm 3 nhóm hành vi:

- Các hành vi hạn chế cạnh tranh, cụ thể là 3 hành vi: thoả thuận hạn ché cạnh tranh, lạm dụng vị trí độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh . Đây là các hành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động làm loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh đến thị trường Việt Nam.

- Các hành vi tập trung kinh tế được thể hiện dưới các hình thức: sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp

- Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, bao gồm nhiều hành vi được định tính rõ ràng. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm là những hành vi có mục tiêu gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác . Bởi vậy, ở nhiều nước trên thế giới, một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh tương tự như quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam được điều chỉnh trong Luật dân sự hay Luật thương mại hoặc Luật bảo vệ người tiêu dùng.

Như vậy, có thể thấy, Luật cạnh tranh Việt Nam có phạm vi điều chỉnh rộng, điều chỉnh đồng thời cả hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đây là điểm đặc thù của Luật cạnh ưanh Việt Nam và một số nước mới ban hành Luật cạnh tranh như: Ba Lan, Cộng hoà Séc, Bungari. Ở một số nước khác như Mỹ, Nhật Bản, Malaysia, Indonesia luật cạnh tranh chỉ điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh. Điều này được coi là đặc thù của Việt Nam. Một đặc thù nữa là Luật cạnh tranh không chỉ điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp mà còn cấm cả hành vi can thiệp vào môi trường kinh doanh, gây cản trở cạnh tranh trên thị trường từ phía cơ quan nhà nước. Đây là đặc thù của các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Luật chống độc quyền của Trung Quốc năm 2007 cũng có quy định này và sau khi Luật có hiệu lực thì các vụ việc doanh nghiệp kiện cơ quan nhà nước là mảng sôi nổi nhất trong thời gian đầu thực thi Luật này.(1)

Ngoài việc quy định phạm vi điều chỉnh về mặt nội dung (các hành vi bị điều chỉnh), phạm vi điều chỉnh của Luật cạnh tranh còn được thể hiện ở mặt hình thức bao gồm các quy định về trình tự thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, thủ tục miễn trừ áp dụng đối với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm nhưng thuộc các trường hợp được miễn trừ và các biện pháp xử lí vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Đây là cách tiếp cận mới trong kĩ thuật soạn thảo văn bản pháp luật đảm bảo cho Luật cạnh tranh có khả năng thực thi cao.

2. Hiệu lực về chủ thể

Theo Điều 2 Luật cạnh tranh năm 2018, đối tượng áp dụng của Luật đã mở rộng đến mọi đối tượng liên quan đến cạnh tranh trên thị trường, cụ thể gồm:

>> Xem thêm:  Cạnh tranh lành mạnh là gì ? Khái niệm về cạnh tranh lành mạnh ?

- Tổ chức, cá nhân kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam. Theo quy định này, ngoài đối tượng áp dụng quy định tương tự như Luật cạnh tranh năm 2004 là các tổ chức, cá nhân kinh doanh Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam (tức là các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam) thì Luật cạnh tranh năm 2018 còn mở rộng được áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

Như vậy cách hiểu chủ thể được gọi là doanh nghiệp và sẽ là chủ thể chủ yếu thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh ttanh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh khác với cách hiểu về doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2014. Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp quy định: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Bởi vậy, nếu theo Luật doanh nghiệp thì cá nhân kinh doanh không phải là doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp nhưng theo Luật cạnh tranh thì cá nhân kinh doanh (bao gồm cả cá nhân có đăng kí kinh doanh và cá nhân không có đăng kí kinh doanh) cũng được gọi chung là doanh nghiệp. Đây là vấn đề cần hết sức chú ý khi nghiên cứu và áp dụng Luật cạnh tranh.

- Hiệp hội ngành, nghề hoạt động ở Việt Nam bao gồm hiệp hội ngành hàng (như Hiệp hội thuỷ sản Việt Nam, Hiệp hội thép Việt Nam, Hiệp hội cao su Việt Nam, Hiệp hội xi măng Việt Nam...) và hiệp hội nghề nghiệp (Hiệp hội báo chí Việt Nam, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, Hiệp hội quảng cáo Việt Nam, Hiệp hội bán lẻ Việt Nam...). Việc Luật cạnh tranh áp dụng đối với các hiệp hội là rất hợp lí, bởi hiệp hội là thiết chế được lập ra để đại diện cho lợi ích của nhóm các doanh nghiệp cùng loại nên hiệp hội thường vận động theo xu hướng tạo ra những quy tắc xử sự chung giữa các thành viên và trong nhiều trường hợp các quyết định của hiệp hội có thể làm triệt tiêu sự cạnh tranh giữa các thành viên của hiệp hội. Các hành vi của hiệp hội dưới các hình thức như vận động, kêu gọi, ép buộc hoặc tổ chức để doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh đều bị cấm.

- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật cạnh tranh. So với Luật cạnh tranh năm 2004, Luật cạnh tranh năm 2018 đã mở rộng đối tượng áp dụng đến mọi đối tượng liên quan đến cạnh tranh trên thị trường, trong đó bao gồm cả cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các nhân trong nước và nước ngoài ...Việc quy định như vậy nhằm mục đích giảm thiểu việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một hoặc một nhóm doanh nghiệp gây bất bình đẳng trong cạnh tranh

Luật cạnh tranh năm 2004 chỉ quy định điều chỉnh đối với “hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh...” và áp dụng đối với “tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp hoạt động trong những ngành lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam” nên không có cơ sở pháp lí rõ ràng để điều chỉnh các hành vi diễn ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có ảnh hưởng gây phản cạnh tranh tại Việt Nam. vấn đề này, pháp luật các nước như Mỹ, Đức, Singapore đã quy định: các hành vi gây cản trở cạnh tranh xảy ra ngoài lãnh thổ nhưng gây ảnh hưởng hạn chế cạnh tranh trong phạm vi không gian có hiệu lực của luật thì vẫn bị xử lí.

Đe bảo vệ môi trường cạnh tranh tại Việt Nam, tạo cơ sở pháp lí để điều tra và xử lí toàn diện mọi hành vi cạnh tranh bao gồm cả những hành vi xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có tác động hoặc có khả năng gây tác động tiêu cực đối với thị trường Việt Nam, Luật cạnh tranh năm 2018 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, theo đó Luật cạnh tranh điều chỉnh đối với tất cả các hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh ttanh đến thị trường Việt Nam. Việc mở rộng phạm vi đỉều chỉnh của Luật cạnh tranh tạo cơ sở pháp để cơ quan cạnh tranh Việt Nam có thể hợp tác với cơ quan cạnh ttanh của các quốc gia khác trong quá trình điều tta, xử lí các vụ việc cạnh tranh.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh ?