PHáP LệNH

PHÁPLỆNH

QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ TỔ CHỨC

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ vào điều 106 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoàvà Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 15 tháng 7 năm 1960;

Để bảo đảm thực hiện tốt công tác kiểm sát việc tuân theo phápluật, góp phần làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất,pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về tổ chức của Việnkiểm sát nhân dân tối cao như sau:

Điều 1

Viện kiểm sát nhân dân tối cao cóViện trưởng các Phó viện trưởng, các kiểm sát viên và kiểm sát viên dự khuyết.

Tại Viện kiểm sát nhân dân tốicao, thành lập Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Việntrưởng, các Phó viện trưởng và một số kiểm sát viên.

Điều 2

Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao lãnh đạo thống nhất Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểmsát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

a) Báo cáo công tác của ngànhkiểm sát trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

b) Trình Quốc hội hoặc Uỷ banthường vụ Quốc hội những dự án luật, dự án pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạmvi công tác chuyên môn của ngành kiểm sát; trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội nhữngđề nghị giải thích pháp luật;

c) Thực hiện các công tác kiểmsát chung, điều tra và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát giam giữ;chỉ đạo các Viện kiểm sát nhân dân các cấp kịp thời áp dụng những biện pháp doluật định để chống những việc vi phạm pháp luật;

d) Chỉ đạo công tác xây dựng tổchức, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ của ngành kiểm sát;

đ) Chỉ đạo các Viện kiểm sát nhândân tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân.

Điều 3

Các Phó viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân tối cao giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ.

Các kiểm sát viên và kiểm sátviên dự khuyết Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện công tác kiểm sát theosự phân công và dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng.

Điều 4

Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sátnhân dân tối cao có từ bẩy đến chín Uỷ viên.

Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sátnhân dân tối cao thảo luận và giải quyết những vấn đề quan trọng sau đây trongcông tác kiểm sát:

a) Những vấn đề thuộc về đườnglối, phương châm công tác kiểm sát; chương trình công tác của Viện kiểm sátnhân dân tối cao;

b) Những dự án kháng nghị quantrọng đối với những nghị quyết, quyết đinh, thông tư, chỉ thị và biện pháp củacác cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và của các cơ quan Nhà nước địa phương màxét thấy không đúng pháp luật;

c) Những vấn đề thuộc về điều trathẩm cứu, truy tố và kháng nghị bản án và quyết định của Toà án nhân dân trongnhững vụ án quan trọng;

d) Những dự án luật, dự án pháplệnh và những đề nghị giải thích pháp luật mà Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao sẽ trình Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sátnhân dân tối cao làm việc theo nguyên tắc tập thể và dân chủ dưới sự lãnh đạocủa Viện trưởng. Trong Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Việntrưởng có quyền quyết định cuối cùng. Khi Viện trưởng quyết định khác với ýkiến của đa số trong Uỷ ban kiểm sát thì Viện trưởng sẽ báo cáo lên Uỷ banthường vụ Quốc hội xét.

Điều 5

Bộ máy làm việc của Viện kiểm sátnhân dân tối cao gồm có:

- Vụ kiểm sát chung;

- Vụ điều tra thẩm cứu;

- Vụ kiểm sát điều tra;

- Vụ kiểm sát xét xử hình sự;

- Vụ kiểm sát xét xử dân sự;

- Vụ tổng hợp và kiểm tra;

- Vụ tổ chức và cán bộ;

- Văn phòng.

Ngoài các Vụ trên đây, có Phòngkiểm sát giam giữ trực thuộc Viện trưởng.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao cóthể thành lập một số Phòng khác trực thuộc Viện trưởng khi xét thấy cần thiết.

Tổ chức và nhiệm vụ cụ thể củacác vụ, văn phòng và các phòng trên đây do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dântối cao quy định.

Biên chế chung của Viện kiểm sátnhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Uỷban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

Điều 6

Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao do Quốc hội bầu ra và bãi miễn.

Các Phó viện trưởng, các kiểm sátviên và kiểm sát viên dự khuyết, các uỷ viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhândân tối cao do Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn.

Các vụ trưởng và vụ phó, Chánhvăn phòng và Phó văn phòng, các trưởng phòng và phó phòng do Viện trưởng Việnkiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi miễn.

Điều 7

Để tăng cường hiệu lực của côngtác kiểm sát, nay thành lập ngạch kiểm sát viên.

Pháp lệnh này đã đượcUỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 4 năm 1962.