3. CN. TRẦN HẢI NAM, Chuyên viên Vụ Bảo hiểm xã hội - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

4. CN. NGUYỄN DUY CƯỜNG, Chuyên viên Vụ Bảo hiểm xã hội - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

 

Phần thứ nhất

 

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

I- CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

1. Thời kỳ từ 1945 đến 1960

>> Xem thêm:  Mẫu công văn đề nghị thanh toán công nợ mới năm 2021 ? Cách viết công văn yêu cầu trả nợ, tiền ?

Từ những ngày đầu của Chính quyền dân chủ nhân dân và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quan tâm đến các chính sách xã hội nói chung và chính sách bảo hiểm xã hội nói riêng đối với người lao động.

Trước hết, Nhà nước đã cho áp dụng chế độ hưu trí đối với những công chức làm việc dưới thời Pháp, sau Cách mạng phục vụ cho kháng chiến. Sau đó, vào những năm 50 theo Sắc lệnh số 76- SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh số 77- SL ngày 22/5/1950 Chính phủ đã ban hành quy chế công chức và chế độ cho công nhân. Theo Sắc lệnh này thì cán bộ, công chức, công nhân làm việc cho Chính phủ được nghỉ việc do ốm đau, sinh đẻ, đựoc hưởng chế độ hưu trí, bị tai nạn lao động thì được hưởng chế độ tai nạn lao động,  nếu chết thì thân nhân được hưởng tuất.

- Điều 92 của Sắc lệnh số 76- SL quy định:"công chức của ngạch thuộc hạng thường trú được về hưu khi đủ ba mươi năm công tác hay đủ năm mươi lăm tuổi; đối với công chức thuộc hạng lưu động được về hưu khi đủ năm mươi tuổi hay 25 tuổi năm làm việc";

- Điều 42 của Sắc lệnh số 77- SL quy định:"công nhân làm việc được ba mươi năm hoặc đủ năm mươi lăm tuổi được về hưu";

Vào những năm đầu hòa bình lập lại, Chính phủ ban hành Nghị định số 594/TTg ngày 11/12/1957 để thực hiện chế độ mất sức lao động đối với công nhân viên chức kháng chiến.

Nhìn chung chế độ bảo hiểm xã hội trong thời kỳ này được quy định còn đơn giản, mức trợ cấp thấp có tính chất hỗ trợ cho cán bộ, công nhân viên chức kháng chiến khi ốm đau, già yếu. Chế độ bảo hiểm xã hội này chỉ gắn với thời gian tham gia kháng chiến vì thời kỳ này không có chế độ tiền lương.

2. Thời kỳ từ năm 1961 đến khi Bộ luật Lao động có hiệu lực (01/ 1995)

Sau khi hoàn thành kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; từ năm 1961, miền Bắc bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Thời gian này, cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước (hành chính sự nghiệp, tổ chức đoàn thể, các xí nghiệp quốc doanh) chiếm tỷ trọng đáng kể trong lao động xã hội và đã thực hiện chế độ tiền lương (xóa bỏ chế độ cung cấp). Đồng thời với việc thực hiện chế độ tiền lương, năm 1961 Chính phủ ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội tạm thời kèm theo Nghị định số 218/CP để áp dụng đối với công nhân, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang.

Theo Điều lệ này, quỹ bảo hiểm xã hội hình thành từ sự đóng góp của cơ quan, xí nghiệp và từ ngân sách Trung ương. Mức đóng góp của cơ quan, xí nghiệp là 4,7% so với tổng quỹ lương (trong đó 1% để chi 3 chế độ dài hạn và 3,7% chi 3 chế độ ngắn hạn) để thực hiện trợ cấp cho công nhân viên chức trong các trường hợp bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động,  hưu trí và tử  tuất cho đến năm 1984.

Năm 1985, khi Nhà nước thực hiện cải cách tiền lương lần thứ 2, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang. Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ sự đóng góp của cơ quan, xí nghiệp và người lao động, với mức đóng bằng 13% so với quỹ lương. Trong đó tách làm 2 khoản: 8% chi cho 3 chế độ (mất sức lao động, hưu trí và tử tuất); 5% cho 3 chế độ (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp).

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2020 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

.Luật sư tư vấn luật bảo hiểm xã hội trực tuyến (24/7) gọi số : 1900.6162

Luật sư tư vấn luật bảo hiểm xã hội trực tuyến (24/7) gọi số : 1900.6162

Mức đóng góp 13% không đủ để chi, đặc biệt là 8% để chi cho hưu trí, mất sức lao động, tử tuất. Vì vậy hàng năm ngân sách Nhà nước đều phải cấp bù mà bù năm sau cao hơn năm trước, đến năm 1993 mức bù vào quỹ bảo hiểm xã hội đến 92,7%.

Về hệ thống quản lý bảo hiểm xã hội thời kỳ này được chia thành hai nhánh riêng biệt: Các chế độ ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp và trợ cấp thai sản Chính phủ giao cho Tổng liên đoàn lao động Việt nam vừa có chức năng xây dựng các văn bản pháp luật vừa có chức năng tổ chức thực hiện chính sách. Các chế độ hưu trí, mất sức lao động và tử tuất do Bộ lao động - Thương binh và Xã hội đảm nhiệm. Bộ lao động - Thương binh và Xã hội vừa xây dựng văn bản pháp luật, vừa tổ chức thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn này.

Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội được coi là văn bản gốc của pháp luật Bảo hiểm xã hội, được thực hiện trên ba mươi năm góp phần vào việc giải quyết các chế độ chính sách xã hội, trong giai đoạn lịch sử nước ta vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, vừa tiến hành đấu tranh giải phóng Miền Nam và góp phần ổn định tình hình xã hội thời kỳ sau tháng 4 năm 1975 cả hai miền cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cùng với sự thay đổi các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, các chế độ bảo hiểm xã hội cũng nhiều lần được sửa đổi, bổ sung với nhiều Quyết định, Nghị định. Ví dụ như Quyết định số 296/CP ngày 20.11.1978 sửa đổi chế độ hưu trí, mất sức lao động; Quyết định số 198/CP ngày 8/8/1985 sửa đổi, bổ sung một số chế độ chính sách thương binh và xã hội, và Quyết định số 133/HĐBT ngày 1/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng khi Nhà nước tiến hành cải cách chế độ tiền lương và giá cả.

Tuy nhiên xét về bản chất hệ thống bảo hiểm xã hội vẫn giữ nguyên những đặc trưng như Nhà nước thực hiện trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp, cho nên bảo hiểm xã hội cũng như các vấn đề kinh tế xã hội khác đều do Nhà nước trực tiếp cung cấp tài chính và tổ chức thực hiện. Nhà nước quy định chính sách và thực hiện bộ máy hành chính, mọi chi phí đều lấy từ ngân sách. Bất cứ ai đã vào biên chế Nhà nước thì đương nhiên được Nhà nước bảo đảm việc làm, tiền lương và bảo hiểm xã hội suốt đời. Cho nên với sự hạn hẹp của ngân sách Nhà nước, đối tượng của bảo hiểm xã hội vẫn không được mở rộng, ngược lại chi phí cho bảo hiểm xã hội càng ngày càng lớn và trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, dẫn đến hiệu quả không cao.

Mặt khác, ở giai đoạn này chính sách bảo hiểm xã hội vẫn đan xen, làm thay nhiều chính sách khác như ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, kế hoạch hoá gia đình...

Nhìn chung chính sách bảo hiểm xã hội thời kỳ này có nhiều mặt tích cực đó là:

- Trợ cấp của các chế độ bảo hiểm xã hội thay lương đã bảo đảm ổn định cuộc sống của công nhân, viên chức.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp tại văn phòng

- Xác định rõ trách nhiệm tham gia đóng bảo hiểm xã hội là cơ quan, xí nghiệp và người lao động.

- Hình thành nguồn quỹ bảo hiểm xã hội thống nhất tập trung để thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội.

- Làm rõ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước và Công đoàn trong thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên cũng bộc lộ rõ một số tồn tại, đó là:

- Phạm vi đối tượng áp dụng chỉ là cán bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước, lực lượng vũ trang.

- Mức đóng chưa đủ nên quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu vẫn từ ngân sách Nhà nước.

- Trong chính sách bảo hiểm xã hội còn xen kẽ các yếu tố thuộc chế độ ưu đãi người có công nên giữa đóng và hưởng chưa tương ứng với nhau.

- Trong tổ chức thực hiện chính sách, cơ quan quản lý Nhà nước còn phải làm luôn chức năng của cơ quan sự nghiệp như việc thu bảo hiểm xã hội, chi trả bảo hiểm xã hội nên tổ chức bộ máy cồng kềnh, hiệu quả thấp.

Tại kỳ họp thứ V Quốc hội khóa 9 đã thông qua Bộ luật Lao động và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995, trong đó Chương XII quy định những nguyên tắc chung nhất về bảo hiểm xã hội.

3. Thời kỳ từ năm 1995 đến nay

>> Xem thêm:  Hướng dẫn về các hình thức tư vấn pháp luật tại công ty Luật Minh Khuê ?

Trên cơ sở Bộ luật Lao động, Chính phủ, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và liên Bộ ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, Thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách chế độ bảo hiểm xã hội. Trong đó, có 2 văn bản chủ đạo là Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995, quy định thực hiện bảo hiểm xã hội đối với công chức, công nhân viên chức Nhà nước và mọi người lao động theo loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995, thực hiện bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân.

Sau khi Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động được thông qua, một số nội dung về bảo hiểm xã hội cũng được sửa đổi. Theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 và ban hành Nghị định số 89/2003/NĐ-CP ngày 05/8/2003 sửa đổi một số điều của Điều lệ bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ.

Đây là những văn bản chính thể hiện chính sách bảo hiểm xã hội Nhà nước ta theo tinh thần đổi mới, phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách, đáp ứng nhu cầu của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế và hội nhập quốc tế.

 

 

 

II- ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 2006)

Sau mười năm thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội theo Bộ luật Lao động, thông qua tổng kết của các Bộ, ngành, các địa phương, các cơ sở và ý kiến đóng góp của người lao động; có thể  tổng hợp chung đánh giá trên các vấn đề cơ bản sau:

Phạm vi, đối tượng của chính sách;

Hình thành, quản lý, sử dụng quỹ;

>> Xem thêm:  Tháo dỡ rào cản về chế độ sở hữu đất đai ?

Các chế độ bảo hiểm xã hội;

Chức năng quản lý Nhà nước;

Tổ chức hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội;

1. Về phạm vi, đối  tượng của bảo hiểm xã hội

                   a) Kết quả:

Các quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đã mở rộng dần, đến nay đã áp dụng với tất cả người lao động có quan hệ lao động từ ba tháng trở lên, thuộc mọi thành phần kinh tế. Quy định này đã tạo ra sự bình đẳng giữa những người lao động trong các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phân phối lại lao động một cách linh hoạt theo yêu cầu của thị trường. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đã tăng lên đáng kể từ 2,8 triệu người năm 1995 lên 6,2 triệu người năm 2005. Trong đó, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội ở khu vực ngoài quốc doanh có xu hướng tăng.

     b ) Hạn chế:

- Tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội trong tổng số lao động nói chung còn thấp. Theo số liệu thống kê năm 2005, cả nước có trên 42 triệu người trong độ tuổi lao động. Trong đó: khoảng gần 11 triệu lao động làm công ăn lương nhưng thực tế mới có khoảng hơn 6,2 triệu lao động (chiếm hơn 15% lực lượng lao động xã hội) đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Như vậy, còn một bộ phận lớn lao động chưa tham gia BHXH. Trong số các lao động đã tham gia, chủ yếu vẫn thuộc khu vực cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước. Lao động ở khu vực ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm có xu hướng tăng song chỉ mới chiếm khoảng 20% tổng số lao động ngoài quốc doanh thuộc diện phải tham gia.

- Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện như xã viên trong Hợp tác xã, người lao động không làm công ăn lương đã được Bộ Luật lao động quy định từ 1994 đến nay, nhưng chưa được thực hiện.

2. Hình thành, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội

>> Xem thêm:  Tư vấn luật hành chính miễn phí qua tổng đài: 1900.6162

b) Kết quả:

- Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử dụng lao động (15% tổng quỹ lương) và người lao động (5% tiền lương tháng). Quy định này đã giải quyết cơ bản sự bao cấp của Nhà nước đối với quỹ bảo hiểm, hình thành nên quỹ bảo hiểm xã hội độc lập với ngân sách Nhà nước.

- Quy định trên đã tạo ra điều kiện cho việc thu quỹ bảo hiểm xã hội ngày càng tăng số thu năm sau, cao hơn nhiều so với năm trước.

- Quỹ bảo hiểm xã hội đã được quản lý thống nhất theo các quy định về chế độ tài chính của Nhà nước, được hạch toán theo nguyên tắc cân đối thu chi. Từ chỗ chỉ tồn tại trên danh nghĩa, đến nay quỹ bảo hiểm xã hội đã có kết dư lớn.

- Quỹ bảo hiểm xã hội đựơc dùng trả trợ cấp cho người nghỉ hưu sau tháng mười năm 1995, còn Ngân sách Nhà nước chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trước tháng mười năm 1995 (khoảng 1,6 triệu người). Điều này đã làm giảm bớt  gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

- Nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ, phần tiền nhàn rỗi của quỹ đã được đầu tư dưới nhiều hình thức.

b) Hạn chế:

- Theo quy định, ngân sách Nhà nước phải chuyển trả cho quỹ bảo hiểm xã hội một khoản tiền để trả lương hưu cho người về hưu sau năm 1995 mà có thời gian trước đó làm việc trong khu vực Nhà nước, nhưng đến nay khoản tiền này vẫn chưa được chuyển trả mà còn đang lấy từ  quỹ bảo hiểm xã hội để chi trả cho những người về nghỉ sau tháng 10/1995. Khoản tiền này ước tính khoảng vài chục nghìn tỷ đồng nên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quỹ.

- Chính sách bảo hiểm xã hội có 5 chế độ, mỗi chế độ có một chức năng riêng, quỹ chỉ phân làm 2 quỹ dài hạn và ngắn hạn, việc hạch toán, kiểm tra, giám sát thu, chi của quỹ gặp nhiều khó khăn và chưa có điều kiện đánh giá đúng quan hệ giữa mức đóng và hưởng theo các chế độ để điều chỉnh chính sách.

- Hiện chưa có quy định về mức lương “trần” làm căn cứ đóng quỹ bảo hiểm xã hội dẫn đến tình trạng có thể bị lạm dụng trong một số chế độ ngắn hạn và một số đối tượng hưởng bảo hiểm hưu trí còn vượt quá mức thu nhập chịu thuế, làm mất tính chất an sinh xã hội của bảo hiểm.

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến qua tổng đài điện thoại

- Việc hình thành quỹ bảo hiểm xã hội ngắn hạn từ quy định mức đóng 5% quỹ lương cho 3 chế độ ngắn hạn (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp) dẫn đến mức thu lớn hơn chi và quỹ kết dư lớn. Hiện nay, nguồn quỹ ngắn hạn kết dư được hoà chung với quỹ dài hạn để cân đối tổng thể. Điều đó trái với quy định về thu, chi và hạch toán quỹ bảo hiểm xã hội.

- Việc hình thành quỹ dài hạn từ quy định đóng 15% tổng quỹ lương cho chế độ hưu trí và tử tuất cùng với việc quy định mức hưởng lương hưu tối đa 75% của mức tiền lương trung bình làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, đã làm cho mức hưởng cao hơn mức đóng, dẫn tới tình trạng quỹ dài hạn không cân đối thu - chi trong tương lai. 

- Hiện nay, quy định chi phí quản lý được lấy từ phần thu được từ đầu tư tăng trưởng và bằng 3,6% tổng số thu bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, quỹ bảo hiểm chưa được đầu tư vào những dự án mang lại hiệu quả cao, chủ yếu cho Nhà nước vay hoặc mua công trái, trái phiếu nên lãi thấp.

3. Các chế độ bảo hiểm xã hội

3.1. Chế độ trợ cấp ốm đau

Chế độ trợ cấp ốm đau có chức năng trả trợ cấp thay lương trong những ngày người lao động nghỉ ốm hoặc nghỉ chăm sóc con dưới bảy tuổi bị ốm.

* Kết quả:

- Thực hiện chế độ trợ cấp ốm đau đã ổn định cuộc sống người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro do ốm đau, tạo điều kiện để người lao động nhanh chóng phục hồi sức khỏe, tiếp tục tham gia lao động sản xuất. Hàng năm, trung bình có khoảng 1.4 triệu lượt người nghỉ ốm, với thời gian bình quân là 6,4 ngày. Số tiền chi cho chế độ ốm đau bình quân hàng năm bằng 0,5% tổng quỹ tiền lương .

- Mức trợ cấp 75% tiền lương đã gắn với mức đóng góp; đồng thời, thể hiện rõ tính cộng đồng chia sẻ rủi ro, người không ốm đau thì không hưởng trợ cấp, để bù đắp cho người ốm đau.

- Việc quy định thời gian nghỉ ốm đau, hưởng trợ cấp được khống chế trong một năm, trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm xã hội và điều kiện lao động đã thể hiện sự công bằng và sự quan tâm của Nhà nước đối với lao động nặng nhọc, độc hại.

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật nghĩa vụ quân sự miễn phí qua tổng đài điện thoại

* Hạn chế:

- Hiện nay, chưa quy định thời gian tối thiểu đóng bảo hiểm xã hội trước khi hưởng trợ cấp ốm đau, nên nhiều trường hợp mới đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian rất ngắn nhưng đã nghỉ ốm dài ngày, được hưởng trợ cấp hàng năm và kéo dài nhiều năm, quỹ bảo hiểm xã hội phải gánh chịu.

- Việc đóng bảo hiểm xã hội cho chế độ ốm đau của cán bộ, công chức còn trùng lặp, hàng năm Nhà nước vừa cấp đủ quỹ lương cho cơ quan đơn vị hành chính chính sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách trả (không trừ quỹ lương của những ngày ốm đau) vừa đóng bảo hiểm xã hội ốm đau cho quỹ bảo hiểm xã hội.

- Thủ tục nhận trợ cấp ốm đau còn phức tạp làm cho người lao động không được nhận trợ cấp kịp thời để ổn định cuộc sống trong những ngày bị ốm đau.

- Trong chế độ chăm sóc con ốm chỉ quy định thực hiện với con thứ nhất, thứ hai nên chưa đảm bảo quyền bình đẳng cho trẻ em.

- Quy định về mức thời gian nghỉ hưởng bảo hiểm trong trường hợp người lao động bị ốm đau như hiện nay là tương đối thấp và còn mang tính bình quân giữa các nhóm đối tượng, cần nâng cao hơn đối với những đối tượng có nhiều năm đóng vì khả năng ốm đau của họ là cao hơn và thời gian bình phục là lâu hơn.

3.2. Chế độ thai sản

Áp dụng đối với lao động nữ trong thời gian mang thai, sảy thai, sinh con, đối với lao động nữ và nam nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi. Trường hợp sinh con được nghỉ hưởng nguyên lương từ 4 đến sáu tháng tùy theo điều kiện lao động.

Mức trợ cấp thai sản bằng 100% tiền lương đóng bảo hiểm xã hội, ngoài ra còn được trợ cấp một lần với mức một tháng tiền lương.

* Kết quả:

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại

- Chế độ trợ cấp thai sản đối với lao động nữ, đã thể hiện trách nhiệm của toàn xã hội trong việc bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em, được thể hiện thông qua việc quy định người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội để tạo nguồn quỹ trợ cấp cho phụ nữ sau khi sinh con. Trong những năm gần đây, bình quân cứ 30 người tham gia bảo hiểm xã hội có 1 người hưởng trợ cấp thai sản, với độ dài bình quân là chín mươi ngày. Trong những năm qua, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết trên 1,3 triệu lượt người hưởng trợ cấp thai sản. Số tiền chi cho bảo hiểm thai sản bằng khoảng 1% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội hàng năm.

- Chế độ thai sản không có quy định phân biệt số con đã bảo đảm sự bình đẳng về quyền được chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ em khi sinh ra.

- Do thời gian nghỉ sinh con được hưởng trợ cấp bằng 100% lương kéo dài từ bốn tháng đến sáu tháng tùy theo điều kiện lao động mà phụ nữ đã mau chóng phục hồi sức khỏe và có điều kiện chăm sóc trẻ sơ sinh tốt hơn, giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong, ổn định cuộc sống gia đình trong thời kỳ thai sản.

* Hạn chế:

- Đối tượng hưởng BHXH thai sản còn chưa bao phủ hết những trường hợp cần thiết trên thực tế cần bổ sung thêm những người thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá dân số, chế độ cho người nuôi dưỡng trẻ sơ sinh khi người mẹ (có tham gia bảo hiểm) chết sau sinh con.

- Cũng như chế độ ốm đau, chế độ thai sản hiện hành chưa quy định thời gian tham gia bảo hiểm tối thiểu trước khi hưởng thai sản. Trong thực tế đã có nhiều trường hợp mới đóng bảo hiểm xã hội một tháng, khi sinh con hưởng bốn tháng nguyên lương và một tháng trợ cấp. Đây là một kẽ hở, dễ bị lạm dụng.

          - Quy định thời gian nghỉ hưởng bảo hiểm của lao động nữ khi khám thai, sảy thai, sinh con nhưng con sơ sinh chết... còn ngắn so với yêu cầu.

- Quy định các đối tượng được áp dụng các mức nghỉ sinh con cao hơn mức thông thường chưa được giải quyết triệt để. Nhóm đối tượng được hưởng bảo hiểm trong thời gian 5 và sáu tháng là khá hẹp so với yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, bổ sung thêm đối tượng lao động là người tàn tật được nghỉ hưởng bảo hiểm với thời gian dài hơn quy định hiện hành.

- Hiện nay quy định mức trợ cấp một lần khi sinh con bằng một tháng lương của người đó là bất hợp lý, vì thực chất đây là khoản tiền để mua đồ dùng cho trẻ sơ sinh. Loại trợ cấp này không quy định cho người nuôi con nuôi sơ sinh cũng không hợp lý.

3.3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động,  bệnh nghề nghiệp

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Bộ luật Lao động quy định rõ trách nhiệm chi trả các khoản chi phí điều trị, tiền lương... của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động từ khi sơ cứu, cấp cứu đến điều trị thương tật ổn định. Ngoài ra, người sử dụng lao động còn phải bồi thường hoặc trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.

Sau khi thương tật ổn định, được giám định mức suy giảm khả năng lao động và quỹ bảo hiểm xã hội sẽ trả trợ cấp một lần nếu tỷ lệ thương tật từ 5% đến 30% hoặc trợ cấp hàng tháng nếu tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, chi trả các chế độ trợ cấp phục vụ, cấp phát phương tiện trợ giúp sinh hoạt, trợ cấp cho thân nhân người chết vì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

* Kết quả:

- Chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp đã đảm bảo ổn định cuộc sống người lao động và gia đình trong trường hợp bị tai nạn thông qua việc điều tiết chia sẻ rủi ro giữa những người lao động cùng tham gia bảo hiểm xã hội. Nhờ có chế độ này mà hàng ngàn người bị tai nạn lao động, không còn khả năng làm việc nhưng vẫn ổn định được cuộc sống. Trung bình mỗi năm có khoảng hơn 2000 người hưởng trợ cấp một lần. Đến nay có hơn 18.000 người đang hưởng trợ cấp hàng tháng do quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo.

 - Việc quy định người sử dụng lao động phải chịu mọi chi phí từ khi bị tai nạn lao động đến khi điều trị ổn định đã nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc đầu tư trang thiết bị an toàn lao động, trong việc phổ biến tuyên truyền về an toàn lao động cho người lao động, từ đó hạn chế tai nạn lao động xảy ra.

- Ngoài trợ cấp tai nạn lao động, người bị tai nạn lao động vẫn hưởng chế độ hưu trí, tử tuất nếu đủ điều kiện.

* Hạn chế:

- Việc chia nhóm suy giảm khả năng lao động để nhận trợ cấp chưa hợp lý. Hiện nay chia thành 10 nhóm, mỗi nhóm cách nhau 10% là quá  rộng, làm cho người lao động ở cận trên của nhóm dưới thiệt thòi nhiều so với người ở cận dưới của nhóm trên. Điều đó vừa không đảm bảo công bằng, vừa dễ phát sinh tiêu cực khi giải quyết chế độ.

- Trách nhiệm chịu chi phí khi tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tái phát chưa được quy định rõ. Việc giám định mức độ suy giảm khả năng lao động cho người lao động sau khi điều trị thương tật, bệnh nghề nghiệp tái phát chưa được quy định gắn với việc điều chỉnh trợ cấp thương tật. Chưa quy định những trường hợp bị nhiều lần tai nạn lao động, hoặc vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp, hoặc bị nhiều bệnh nghề nghiệp. 

- Mức trợ cấp thương tật hiện nay còn tương đối thấp và chỉ tính trên nền tiền lương tối thiểu nên còn mang nặng tính bình quân, chưa đảm bảo công bằng cũng như chưa đảm chưa đảm bảo đời sống cho đối tượng.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật đấu thầu trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3.4. Chế độ hưu trí

Điều lệ bảo hiểm xã hội quy định điều kiện để hưởng chế độ hưu trí khi đủ sáu mươi tuổi (đối với nam), năm mươi lăm tuổi (đối với nữ) và có hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên. Đồng thời, cũng quy định giảm 5 năm tuổi đời để nghỉ hưu đối với lao động làm nghề nặng nhọc, độc hại hoặc nơi có phụ cấp 0,7 trở lên.

Mức lương hưu đối với người có đủ mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội là 45% mức tiền lương bình quân 5 năm cuối đóng bảo hiểm xã hội (nếu hưởng tiền lương theo thang bảng lương Nhà nước) hoặc mức lương bình quân trong toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội (nếu không hưởng tiền lương theo thang bảng lương Nhà nước), sau đó cứ thêm một năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 2% đối với nam, 3% đối với nữ, cao nhất không quá 75%.

* Kết quả:

- Trong những năm qua, chế độ hưu trí đã bảo đảm ổn định cuộc sống của hàng triệu người lao động khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động, thông qua đó góp phần ổn định xã hội và công bằng xã hội. Trong mười năm qua, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết cho trên 1 triệu người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần và trên 40 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng.      

- Cách tính lương hưu trong giai đoạn hiện nay này đã khắc phục được tính bình quân, bao cấp của giai đoạn trước. Mức hưởng của mỗi người đã trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng của người đó. Chế độ ưu đãi xã hội đã cơ bản được tách khỏi chế độ hưu trí, tạo ra công bằng trong chế độ hưu trí, tránh giải quyết chế độ trùng lặp.

- Việc quy định tuổi nghỉ hưu phù hợp với từng nhóm trong điều kiện lao động khác nhau, đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với người lao động làm việc ở những nghề nặng nhọc, độc hại.

* Hạn chế:

- Chế độ hưu trí vẫn còn bị lồng ghép với các chính sách khác như chính sách giảm biên chế trong khu vực Nhà nước. Điều đó làm cho tuổi nghỉ hưu thấp, bình quân là 51,8 (nam là 54,8 và nữ là 49,2 tuổi), thời gian tham gia bảo hiểm ngắn, thời gian hưởng lương hưu dài. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất cân đối của quỹ hưu trí, tử tuất.

- Chưa gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ trong chế độ hưu trí, trong nhiều trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội đóng nhiều với thời gian dài, chưa được hưởng đã chết, hoặc mới hưởng lương hưu 1 thời gian ngắn đã chết, thì quy định mức trợ cấp được hưởng chưa thoả đáng. Ngược lại, nhiều trường hợp đóng ít với thời gian ngắn, về hưu sớm, thời gian hưởng hưu dài, thì quyền lợi được hưởng nhiều hơn nghĩa vụ.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài điện thoại

- Việc giải quyết trợ cấp một lần khi chưa hết tuổi lao động đã không tạo điều kiện để người lao động tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội khi vào làm ở cơ sở mới, đến khi hết tuổi lao động không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí sẽ gặp khó khăn trong đời sống khi về già.

3.5. Chế độ tử tuất

Chế độ tuất quy định người lao động tham gia bảo hiểm xã hội chết người lo mai táng được nhận tiền mai táng phí bằng tám tháng tiền lương tối thiểu. Nếu có đủ mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, còn có thân nhân (con dưới mười lăm năm tuổi hoặc bố mẹ già hết tuổi lao động) thì những thân nhân đó được hưởng trợ cấp hàng tháng bằng 40% mức tiền lương tối thiểu. Trường hợp người được hưởng trợ cấp không có nguồn thu nhập nào khác và không còn người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp bằng 70% tiền lương tối thiểu. Nếu không có thân nhân hưởng tuất tháng thì giải quyết trợ cấp một lần, tối đa bằng mười hai tháng mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm, nếu chưa hưởng bảo hiểm, hoặc tối đa mười hai tháng lương hưu nếu đang hưởng lương hưu mà chết.

Chế độ tuất đã góp phần ổn định cuộc sống của thân nhân người lao động bị chết. Trong những năm qua, chế độ tuất đã trợ cấp cho hàng trăm ngàn con và bố mẹ già của họ. Tính đến 3 một tháng 12 năm 2005 đang có trên 204.000 người đang hưởng tiền tuất hàng tháng, trong đó số đối tượng do quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo là khoảng  gần 48.000 người.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           

     Tuy nhiên, cũng còn một số điểm chưa hợp lý như:

     - Mức trợ cấp mai táng phí còn thấp hơn so với chi phí thực tế.

     - Trợ cấp tiền tuất hàng tháng cho thân nhân người bị chết chưa gắn với mức đóng của người đó. Trong nhiều trường hợp, tổng mức trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lương của người đó khi còn sống. Đối với những người không còn thân nhân phải nuôi dưỡng, mức trợ cấp một lần khống chế tối đa không quá mười hai tháng, thấp hơn nhiều so với mức đóng góp của người lao động.

3.6. Các chế độ khác

- Từ năm 2001, còn quy định chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho người lao động sau khi ốm đau, thai sản, tai nạn... mà vẫn chưa phục hồi sức khoẻ để trở lại công việc được quy định như một trong các chế độ bảo hiểm xã hội (có đối tượng hưởng, thời gian và mức hưởng riêng). Chi phí để đảm bảo thực hiện dưỡng sức được tính 0,6% số thực thu bảo hiểm xã hội của đơn vị và được lấy từ phần đóng 5% cho các chế độ ngắn hạn.

Trong điều kiện quỹ bảo hiểm ngắn hạn còn kết dư, việc duy trì chế độ này có tác dụng đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Tuy nhiên, trong thực tế  nhiều cơ quan, doanh nghiệp không xét đúng đối tượng được quy định, hoặc luân phiên hưởng để tiêu hết tiền bảo hiểm được trích lại. Điều đó làm cho mục đích của chế độ không đạt được.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua điện thoại

4. Quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội

a) Kết quả:

- Đã phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản lý sự nghiệp bảo hiểm xã hội, khắc phục được sự đan xen giữa 2 chức năng để tập trung nghiên cứu, hoạch định chính sách.

- Sau khi Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành (từ 01/01/1995) Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định và Quyết định; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và liên Bộ ban hành hàng loạt văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội. Các văn bản đã thể hiện đúng đường lối của Đảng và Nhà nước, tuân thủ các quy định của Bộ Luật Lao động, đã đi vào cuộc sống, được đa số người lao động và người sử dụng lao động chấp nhận.

- Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra đã phát hiện ra nhiều trường hợp khai gian dối để hưởng chế độ, thu về cho quỹ bảo hiểm xã hội hàng tỷ đồng.

b) Những hạn chế:

- Việc nghiên cứu, xây dựng và trình ban hành các văn bản còn chậm, chưa đồng bộ. Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về bảo hiểm xã hội có số lượng lớn, khoảng 130 văn bản còn hiệu lực nhưng hầu hết là những văn bản có hiệu lực pháp lí thấp nên khó tra cứu áp dụng và không tránh khỏi chồng chéo, mâu thuẫn. Trong những năm gần đây, Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật mới liên quan đến việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội như Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Hôn nhân gia đình, Pháp lệnh Cán bộ, công chức nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội còn chưa đồng bộ, thống nhất.

- Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan đăng ký kinh doanh với cơ quan đăng ký, quản lí lao động và bảo hiểm xã hội nên việc tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội còn không ít bất cập, trước hết là trong việc thu tiền đóng và xử lý các đơn vị đóng chậm, nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội.

- Công tác thông tin, tuyên truyền về chính sách chế độ bảo hiểm xã hội còn chưa được đầu tư đúng mức, vì vậy nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động về chính sách bảo hiểm xã hội còn chưa đầy đủ.

5. Tổ chức bảo hiểm xã hội

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài Uy tín, Chuyên nghiệp

Từ năm 1995, Chính phủ thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Qua mười năm hoạt động đã thể hiện những mặt được và tồn tại như sau:

a) Kết quả:

- Đã hình thành được hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam từ Trung ương đến quận, huyện, thống nhất thực hiện chức năng, nhiệm vụ thu, quản lý và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội. Từ khi có Bảo hiểm xã hội Việt Nam, việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội được chặt chẽ, đúng đối tượng, khắc phục được tình trạng khai gian dối để hưởng chế độ, việc chi trả lương hưu và trợ cấp bảo đảm đúng thời hạn.

- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất có sự giám sát của hội đồng quản lý, số thu bảo hiểm xã hội ngày càng tăng.

b) Hạn chế:

- Chưa có giải pháp tích cực để tăng nguồn thu và chống thất thu.

- Thủ tục giải quyết chế độ chưa thực sự đổi mới theo tinh thần cải cách hành chính, nhất là chế độ ốm đau, thai sản;

- Năng lực chuyên môn, phương pháp làm việc của một số cán bộ còn hạn chế, chưa đạt mục tiêu phục vụ người lao động, phục vụ đối tượng; có nơi, có lúc còn gây phiền hà cho đối tượng tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.

- Chậm đổi mới, áp dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý, phục vụ đối tượng.

6. Đánh giá tổng quan pháp luật về bảo hiểm xã hội trước khi ban hành Luật Bảo hiểm xã hội 2006

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Quá trình thực hiện các văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành đã mang lại một số kết quả sau:

Thứ nhất, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được mở rộng đến người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Năm 1996 mới có 3,2 triệu người lao động tham gia bảo hiểm xã hội thì đến tháng 12 năm 2006 đã lên tới 6,2 triệu người.

Thứ hai, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử dụng lao động (15% tổng quỹ lương) và người lao động (5% tiền lương, tiền công tháng); quỹ đã hoạt động theo nguyên tắc hạch toán, cân đối thu chi, độc lập với ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, các chế độ bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định đời sống của người lao động trong quá trình lao động và nghỉ hưu; quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và nghĩa vụ của người lao động, giải quyết hợp lý hơn mối quan hệ giữa đóng và hưởng, khắc phục một bước tính bình quân nhưng vẫn đảm bảo tính xã hội thông qua việc điều tiết, chia sẻ rủi ro.

Thứ tư, việc quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội đã được thực hiện thống nhất trên cơ sở phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng hoạt động sự nghiệp của bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, chính sách bảo hiểm xã hội còn một số vướng mắc, hạn chế và bất hợp lý, cụ thể là:   

Thứ nhất, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tuy đã được mở rộng nhưng số người tham gia chưa nhiều. Hiện nay, trong khoảng 11 triệu lao động có quan hệ lao động, mới chỉ có 6,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội mà chủ yếu vẫn là lao động ở khu vực nhà nước; số lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội thấp, chỉ chiếm khoảng 20% tổng số lao động thuộc diện phải tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ hai, một số quy định trong chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành không còn phù hợp, cụ thể: Quyền lợi và trách nhiệm của người lao động quy định trong các chế độ, nhất là hưu trí và tử tuất chưa hợp lý; người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội ít, về hưu sớm nhưng hưởng chế độ với thời gian dài; tổng số tiền đóng của mỗi người từ khi đi làm đến khi nghỉ hưu, thấp hơn nhiều so với tổng số tiền lương hưu được hưởng. Ngược lại, người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội dài nhưng chưa hưởng lương hưu hoặc mới hưởng lương hưu ít năm bị chết, mà thân nhân không đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng thì chỉ được hưởng tối đa mười hai tháng lương hưu.

Thứ ba, việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội còn một số hạn chế, chưa có giải pháp tích cực để chống tình trạng chiếm dụng, nợ đọng tiền đóng bảo hiểm xã hội. Tồn tại trên là do nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động chưa đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội; công tác tuyên truyền về chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội chưa được coi trọng; công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội chưa được thường xuyên và chưa có các chế tài đủ mạnh để xử lý vi phạm. Một số quy định về thủ tục, hồ sơ giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động chưa bảo đảm các yêu cầu của cải cách hành chính.

Thứ tư, Quỹ bảo hiểm xã hội dài hạn (thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất) chưa bảo đảm cân đối lâu dài. Theo mức đóng, hưởng như quy định hiện hành, dự tính cho thấy, quỹ có khả năng cân đối thu - chi đến năm 2020, từ năm 2021 trở đi số chi lớn hơn số thu. Nguyên nhân của tình trạng này là do một số quy định về quyền lợi hưởng và mức đóng bảo hiểm xã hội chưa hợp lý; tỷ lệ số người đóng bảo hiểm xã hội cho một người hưởng lương hưu giảm dần; do việc thực hiện một số chính sách xã hội như tinh giảm biên chế, sắp xếp tổ chức trong khu vực hành chính sự nghiệp, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, nên tuổi nghỉ hưu bình quân thấp đã làm giảm nguồn thu và tăng chi trả từ quỹ; đầu tư của quỹ chủ yếu dưới hình thức mua trái phiếu, cho Nhà nước và các ngân hàng vay nên mức tăng trưởng thấp.

Thứ năm, loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa được quy định cụ thể, nên người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có nguyện vọng nhưng chưa được tham gia.

Trong nền kinh tế thị trường người lao động luôn phải đối mặt với những rủi ro do bị mất việc làm, trong khi chính sách về bảo hiểm thất nghiệp cho người bị thất nghiệp chưa được ban hành nên người lao động gặp nhiều khó khăn.

Thứ sáu, hệ thống văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội đa số là những văn bản dưới luật và tản mạn. Những năm gần đây, Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật mới liên quan đến việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội như: Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Sĩ quan quân đội nhân dân, Luật Hôn nhân và gia đình, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ... nên việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội còn chưa đồng bộ, thống nhất.

Xuất phát từ tình hình trên, việc ban hành một đạo luật riêng về bảo hiểm xã hội là rất cần thiết nhằm pháp điển hoá các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế.

 

 

 

Phần thứ hai

 

A. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XI. Đây là một đạo luật quan trọng được Đảng, Nhà nước và người lao động hết sức quan tâm. Việc soạn thảo Luật Bảo hiểm xã hội được sự chỉ đạo sát sao của Đảng, sự tham gia tích cực của các cơ quan Nhà nước và ý kiến đóng góp của các đoàn thể, các cơ quan, tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động nhằm đảm bảo tính khả thi của đạo luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội ở nước ta.

I- SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

1. Những năm gần đây, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội quy định chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Quá trình thực hiện các văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội, chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần ổn định đời sống người lao động trong quá trình lao động và nghỉ hưu; giải quyết hợp lý hơn mối quan hệ giữa đóng và hưởng, khắc phục dần tính bình quân vẫn đảm bảo tính xã hội chia sẻ cộng đồng; công tác quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội được tăng cường và thực hiện thống nhất.

2. Hệ thống văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội trong những năm gần đây đã được bổ sung, từng bước hoàn thiện đáp ứng với yêu cầu mới. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập như đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn thấp so với yêu cầu, quyền lợi và trách nhiệm của người lao động trong mỗi chế độ bảo hiểm xã hội chưa hợp lý, quỹ bảo hiểm xã hội dài hạn chưa đảm bảo cân đối lâu dài, tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội chậm được khắc phục và thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính, gây phiền hà cho người lao động.

3. Hệ thống văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành mới chỉ điều chỉnh người lao động thuộc cơ quan hoặc người lao động làm công ăn lương trong khi đó loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa được quy định nên đông đảo người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có nguyện vọng nhưng chưa được tham gia. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường người lao động luôn phải đối mặt với những rủi ro do bị mất việc làm, trong khi chính sách về bảo hiểm thất nghiệp cho người bị thất nghiệp cũng chưa được ban hành.

Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tế hiện nay, khắc phục những hạn chế của pháp luật bảo hiểm xã hội, đồng thời nhằm pháp điển hoá các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp với quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế, việc xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội là một yêu cầu khách quan và rất bức thiết.

II- QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm sau:

1. Thể chế hoá đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước thể hiện trong các văn kiện: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 Khoá IX, Kết luận Hội nghị Trung ương 8 (Khoá IX) về cải cách chính sách tiền lương, cụ thể hoá “Đề án Cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công” và Hiến pháp năm 1992 về quyền của người lao động.

2. Luật Bảo hiểm xã hội xây dựng trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện những quy định trong pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; đồng thời tham khảo kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

3. Các chế độ bảo hiểm xã hội xây dựng theo nguyên tắc mức hưởng trên cơ sở mức đóng và chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội, tuỳ theo tính chất của từng chế độ, góp phần thực hiện an sinh xã hội; bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ở các thời kỳ khác nhau; bảo đảm quan hệ hài hoà giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội; mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, các chế độ bảo hiểm xã hội và loại hình bảo hiểm xã hội; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tiến trình công nghiệp hoá.

4. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được hạch toán tương ứng với từng nhóm chế độ; quản lý và sử dụng theo nguyên tắc cân đối thu - chi, bảo toàn và phát triển; được Nhà nước bảo hộ.

Các quan điểm nêu trên được thể hiện rõ nét trong nội dung các Chương, điều của Luật BHXH tạo nên những thay đổi cơ bản không chỉ phạm vi, đối tượng điều chỉnh; nội dung chế độ, chính sách BHXH mà có sự đổi mới về nội dung, cơ chế quản lý nhà nước về BHXH, về tổ chức BHXH khi Luật BHXH được thực thi trong cuộc sống.

III-  KẾT CẤU CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

Luật Bảo hiểm xã hội gồm 11 Chương, 141 Điều với kết cấu như sau:

1. Chương I: Những quy định chung

Chương này gồm 14 Điều (từ Điều 1 đến Điều 14) quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; các chế độ BHXH; nguyên tắc BHXH; chính sách của Nhà nước đối với BHXH; nội dung quản lý nhà nước về BHXH; cơ quan quản lý nhà nước về BHXH; hiện đại hoá quản lý BHXH; thanh tra BHXH; quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn, của đại diện người sử dụng lao động; chế độ báo cáo, kiểm toán và các hành vi bị nghiêm cấm.

2. Chương II: Quyền, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức BHXH

  Chương này gồm 6 Điều (từ Điều 15 đến Điều 20) quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH.

3. Chương III:  BHXH bắt buộc 

Chương này gồm 48 Điều (từ Điều 21 đến Điều 68), chia thành 5 Mục, quy định các chế độ của BHXH bắt buộc: chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu  trí; chế độ tử tuất.

4. Chương IV: BHXH tự nguyện

Chương này gồm 11 Điều (từ Điều 69 đến Điều 79), chia thành 2 Mục, tương ứng với chế độ hưu trí và tử tuất.

5. Chương V: Bảo hiểm thất nghiệp 

Chương này gồm 8 Điều (từ Điều 80 đến Điều 87), quy định đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp; điều kiện hưởng, mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp; hỗ trợ học nghề, tìm việc làm; các trường hợp tạm dừng, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.

6. Chương VI: Quỹ BHXH

Chương này gồm 18 Điều (từ Điều 88 đến Điều 105), chia thành 3 Mục: quỹ BHXH bắt buộc, quỹ BHXH tự nguyện và quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

7. Chương VII: Tổ chức BHXH

Chương này gồm 3 Điều (từ Điều 106 đến Điều 108), quy định về tổ chức BHXH, Hội đồng quản lý BHXH và nhiệm vụ của Hội đồng quản lý BHXH.

8. Chương VIII: Thủ tục thực hiện BHXH

Chương này gồm 21 Điều (từ Điều 109 đến Điều 129), quy định về Sổ BHXH, Hồ sơ tham gia BHXH, cấp Sổ BHXH, Hồ sơ và việc giải quyết hưởng các chế độ BHXH, di chuyển nơi hưởng BHXH.

9. Chương IX: Khiếu nại, tố cáo về BHXH

Chương này gồm 3 Điều (từ Điều 130 đến Điều 132), quy định khiếu nại về BHXH; thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại; tố cáo, giải quyết tố cáo về BHXH.

10. Chương X: Khen thưởng và xử lý vi phạm

Chương này gồm 6 Điều (từ Điều 133 đến Điều 138), quy định về khen thưởng; các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, về thủ tục thực hiện BHXH, về sử dụng tiền đóng và quỹ BHXH, về lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH, về xử lý vi phạm pháp luật về BHXH.

11. Chương XI: Điều khoản thi hành

Chương này gồm 3 Điều (từ Điều 139 đến Điều 141), quy định chuyển tiếp, hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành Luật BHXH.

 

B. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN

 

CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

 

1. Phạm vi điều chỉnh

Luật Bảo hiểm xã hội quy định cụ thể phạm vi điều chỉnh bao gồm: chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội; tổ chức bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội”. (Khoản 1 Điều 1).

Để tránh sự nhầm lẫn với các loại hình bảo hiểm khác, Luật cũng đã khẳng định rõ là sẽ“không áp dụng đối với bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm mang tính kinh doanh.” (Khoản 2 Điều 1).

2. Đối tượng áp dụng

Kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội thời gian qua, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tuy đã được mở rộng nhưng số người tham gia còn chưa nhiều. Hiện nay, mới chỉ có 6,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội mà chủ yếu vẫn là lao động ở khu vực Nhà nước; số lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội thấp (chỉ chiếm khoảng 20% tổng số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH); chưa có quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

Khắc phục những hạn chế của chính sách bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội ngoài các đối tượng vẫn đang thực hiện theo quy định hiện hành, còn quy định đối tượng áp dụng mở rộng tới cả bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội quy định đối tượng áp dụng như sau:

“1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

b) Cán bộ, công chức, viên chức;

c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;

d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

đ) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

e) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

2. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

3. Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động quy định tại khoản 2 Điều này có sử dụng từ mười lao động trở lên.

5. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này.

6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.”

Với quy định trên, đối tượng áp dụng của bảo hiểm xã hội bắt buộc bao trùm đối tượng áp dụng của bảo hiểm thất nghiệp, việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp cũng là bắt buộc đối với các đối tượng trên (Điều 80 ).

3. Các chế độ bảo hiểm xã hội

Các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định tại Điều 4 Luật Bảo hiểm xã hội  như sau:

“1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây: (a) Ốm đau; (b) Thai sản; (c) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (d) Hưu trí; (đ) Tử tuất.

          2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: (a) Hưu trí; (b) Tử tuất.

3. Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ sau đây: (a) Trợ cấp thất nghiệp; (b) Hỗ trợ học nghề; (c) Hỗ trợ tìm việc làm.”

Với các quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và các chế độ bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội không chỉ điều chỉnh bảo hiểm xã hội bắt buộc với các chế độ quy định hiện hành mà còn điều chỉnh cả bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và các chế độ bảo hiểm xã hội trong Luật đã cụ thể hoá quy định trong Hiến pháp và Nghị quyết của Đảng về phát triển các loại hình bảo hiểm xã hội, từng bước mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, góp phần đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội. Đối với bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội tự nguyện tuy là những nội dung mới những đã được quy định trong Bộ luật Lao động. Mặt khác, việc quy định và thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tham gia bảo hiểm xã hội của đông đảo người lao động, đáp ứng quá trình chu chuyển lao động trong nền kinh tế thị trường, hỗ trợ người lao động khi mất việc làm và là cơ sở từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới.

4. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội (Điều 5)

Luật Bảo hiểm xã hội quy định các nguyên tắc bảo hiểm xã hội sau:

“1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.

2. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

4. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

5. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.”

5. Vai trò của Nhà nước đối với chính sách bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách an sinh xã hội, nó vừa là nhân tố ổn định, vừa là nhân tố động lực phát triển kinh tế- xã hội. Cho nên, vai trò của Nhà nước là rất quan trọng. Thực tế đã chỉ rõ, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước, nếu không có điều chỉnh của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật thì mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ khó duy trì bền vững. Nhằm khẳng định vai trò của mình đối với chính sách bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội cũng đã quy định rõ chính sách của Nhà nước đối với bảo hiểm xã hội (Điều 6):

“1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội.

2. Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội và các biện pháp cần thiết khác để bảo toàn, tăng trưởng quỹ. Quỹ bảo hiểm xã hội được Nhà nước bảo hộ, không bị phá sản.

Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội được miễn thuế.”

Vai trò quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội được thể hiện thông qua các nội dung sau: “(1) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; (2) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội; (3) Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; (4) Thực hiện công tác thống kê, thông tin về bảo hiểm xã hội; (5) Tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm xã hội; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác bảo hiểm xã hội; (6) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội; (7) Hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội.” (Điều 7).

Ngoài ra, để tăng cường công tác giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tài chính của bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội đã quy đinh về chế độ báo cáo, kiểm toán (Điều 13): “(1) Hằng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội; (2) Định kỳ ba năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ bảo hiểm xã hội và báo cáo kết quả với Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, quỹ bảo hiểm xã hội được kiểm toán đột xuất.”

6. Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn

Luật Bảo hiểm xã hội quy định quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn, theo đó tổ chức công đoàn có các quyền: “(a) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội; (b) Yêu cầu người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về bảo hiểm xã hội của người lao động; (c) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.” (Khoản 1 Điều 11).

Tổ chức công đoàn có các trách nhiệm sau đây: “(a) Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người lao động; (b) Kiến nghị, tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; (c) Tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội.” (Khoản 2 Điều 11).

7. Quyền và trách nhiệm của đại diện người sử dụng lao động

Luật Bảo hiểm xã hội quy định về quyền và trách nhiệm của đại diện người sử dụng lao động, theo đó: đại diện người sử dụng lao động có các quyền: “(a) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội; (b) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.” (Khoản 1 Điều 12).

Đại diện người sử dụng lao động có các trách nhiệm: “(a) Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người sử dụng lao động; (b) Kiến nghị, tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; (c) Tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội.” (Khoản 2 Điều 12).

8. Quyền, trách nhiệm của người lao động, ngư­ời sử dụng lao động và tổ chức Bảo hiểm xã hội

Luật Bảo hiểm xã hội quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của ng­ười lao động như sau:

Người lao động có các quyền sau (Điều 15): (1). Đ­ược cấp sổ bảo hiểm xã hội; (2). Nhận sổ bảo hiểm xã hội khi không còn làm việc; (3). Nhận lư­ơng h­ưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời; (4). H­ưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau đây: (a) Đang hưởng lư­ơng hư­u; (b) Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng; (c) Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp; (5). Uỷ quyền cho ngư­ời khác nhận lư­ơng h­ưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội; (6) Yêu cầu ngư­ời sử dụng lao động và tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin theo quy định; (7) Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội; (8) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Người lao động có các trách nhiệm sau (Khoản 1 Điều 16): (a) Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này; (b) Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội; (c) Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định; (d) Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều 16, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn có các trách nhiệm: (a) Đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội; (b) Thông báo hằng tháng với tổ chức bảo hiểm xã hội về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp; (c) Nhận việc làm hoặc tham gia khoá học nghề phù hợp khi tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu.

Người sử dụng lao động có các quyền sau (Điều 17): (1) Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; (2) Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội; (3) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau (Khoản 1 Điều 18): (a) Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định và hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của ng­ười lao động theo quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội; (b) Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội của ng­ười lao động trong thời gian ngư­ời lao động làm việc; (c) Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm việc; (d) Lập hồ sơ để ng­ười lao động được cấp sổ, đóng và hư­ởng bảo hiểm xã hội; (đ) Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động; (e) Giới thiệu ngư­ời lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa; (g) Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (h) Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của ngư­ời lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu; (i) Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều 18, hằng tháng người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định và trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Tổ chức bảo hiểm xã hội có các quyền sau (Điều 19):

1. Tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản theo quy định của pháp luật;

2. Từ chối yêu cầu trả bảo hiểm xã hội không đúng quy định;

3. Khiếu nại về bảo hiểm xã hội;

4. Kiểm tra việc đóng bảo hiểm xã hội và trả các chế độ bảo hiểm xã hội;

5. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội;

6. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội;

7. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.”

Tổ chức bảo hiểm xã hội có các trách nhiệm sau (Điều 20):

“1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động, người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội;

2. Thực hiện việc thu bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này;

3. Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội; thực hiện việc trả lương h­ưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn;

4. Cấp sổ bảo hiểm xã hội đến từng người lao động;

5. Quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;

6. Thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trư­ởng quỹ bảo hiểm xã hội;

7. Tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán, hướng dẫn nghiệp vụ về bảo hiểm xã hội;

8. Giới thiệu ng­ười lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 41 của Luật này;

9. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xã hội; lưu trữ hồ sơ của người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;

10. Định kỳ sáu tháng, báo cáo Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội. Hằng năm, báo cáo Chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước về tình hình quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội;

11. Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền đư­ợc hưởng chế độ, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi ngư­ời lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;

12. Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

13. Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện bảo hiểm xã hội;

14. Thực hiện hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội;

15. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.”

9. Bảo hiểm xã hội bắt buộc

9.1. Chế độ ốm đau

Chế độ ốm đau nhằm giúp cho người lao động có được khoản trợ cấp thay thế tiền lương, tiền công bị mất khi không làm việc được do bị ốm đau, tai nạn rủi ro; chăm sóc con dưới bảy tuổi bị ốm đau. Đây là chế độ mang tính chia sẻ cộng đồng rất lớn giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.

9.1.1. Điều kiện hưởng chế độ ốm đau (Điều 22):

”1. Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế.

Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự huỷ hoại sức khoẻ, do say rượu hoặc sử dụng ma tuý, chất gây nghiện khác thì không được hưởng chế độ ốm đau.

2. Có con dưới bảy tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế.”

9.1.2. Thời gian hưởng chế độ ốm đau (Điều 23).

Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                       

- Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên; 

- Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên. 

Đối với người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

- Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

- Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn.

9.1.3. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau (Điều 24)

Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là hai mươi ngày làm việc nếu con dưới ba tuổi; tối đa là mười năm ngày làm việc nếu con từ đủ ba tuổi đến dưới bảy tuổi.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định.

9.1.4. Mức hưởng chế độ ốm đau (Điều 25)

Người lao động hưởng chế độ ốm đau bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Riêng đối với người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành, khi hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức (a) Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm trở lên; (b) Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; (c) Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm. Trong trường hợp này, mức hưởng ốm đau nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung.

9.1.5. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau (Điều 26)

Người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 23 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.

Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

Như vậy, ở chế độ ốm đau đã có một số quy định mới so với chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành như:

- Tăng thời gian nghỉ ốm đối với những người có từ đủ ba mươi năm đóng BHXH trở lên (sáu mươi ngày đối với người làm việc trong điều kiện bình thường và bảy mươi ngày đối với người làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).

- Đối với người mắc bệnh cần điều trị dài ngày, quy định độ dài thời gian hưởng trợ cấp không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm, sau đó chuyển sang hưởng mức trợ cấp thấp hơn tuỳ thuộc vào thời gian đóng BHXH.

- Việc chăm sóc con ốm không còn khống chế ở con thứ nhất, thứ hai.

- Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu người mẹ (hoặc người cha) đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người cha (hoặc người mẹ) được hưởng chế độ theo quy định.

9.2. Chế độ thai sản

Chế độ này đã thiết kế một số quy định mới nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người lao động hưởng chế độ thai sản như: tăng số lần nghỉ việc đi khám thai; bổ sung quy định nghỉ sáu tháng đối với lao động nữ là người tàn tật; tăng số ngày hưởng trợ cấp thai sản đối với trường hợp con chết sau khi sinh; bổ sung đối tượng là cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng trợ cấp thai sản khi người mẹ chết sau khi sinh; bổ sung đối tượng hưởng trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung đối với trường hợp chỉ có người cha tham gia BHXH mà người mẹ chết sau khi sinh con cũng như quy định cụ thể hơn về chế độ đối với lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con.

Một số quy định cụ thể:

9.2.1. Điều kiện hưởng chế độ thai sản (Điều 28)

Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (a) Lao động nữ mang thai; (b) Lao động nữ sinh con; (c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi; (d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.

Ngoài ra, thêm một điều kiện được quy định đối với lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi là phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

9.2.2. Thời gian hưởng chế độ khi khám thai (Điều 29)

Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai năm lần, mỗi lần một ngày; trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám thai.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

Theo quy định của chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành thì thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai là ba lần, mỗi lần một ngày. Quy định này là chưa hợp lý vì số lần nghỉ ít hơn so với yêu cầu khám thai của ngành y tế. Trong thực tế, đa số lao động nữ không làm thủ tục để hưởng chế độ này. Nguyên nhân là thời gian hưởng bảo hiểm cho việc khám thai ngắn, quyền lợi nh���n được ít. Tuy nhiên, trong điều kiện khoa học phát triển và thực tế rủi ro thai nghén, ngành y tế thường yêu cầu các sản phụ phải khám thai thường xuyên hơn. Tổ chức Y tế Thế giới cũng khuyến cáo cần phải khám thai ít nhất năm lần trong thai kỳ. Vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội cũng đã có quy định điều chỉnh tăng thêm số lần nghỉ khám thai từ ba lần lên năm lần cho phù hợp với yêu cầu của việc chăm sóc thai nghén.

9.2.3. Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu (Điều 30)

Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dưới ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

Theo quy định hiện nay thì thời gian nghỉ hưởng bảo hiểm của lao động nữ khi bị sảy thai, nạo thai là hai mươi ngày nếu thai dưới ba tháng và ba mươi ngày nếu thai từ ba tháng trở lên. Về phương diện khoa học y tế thì sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu có mức độ tác động rất lớn, ảnh hưởng tới sức khoẻ, tâm sinh lý của người mang thai. Hơn nữa, thai càng nhiều tháng thì việc sảy thai, nạo, hút thai càng nguy hiểm, ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ. Điều đó cho thấy việc cần phải có sự phân biệt về thời gian nghỉ hưởng bảo hiểm của những trường hợp này, đủ để người lao động ổn định sức khoẻ, tâm lý để tiếp tục làm việc và đảm bảo công bằng giữa các trường hợp.

9.2.4. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con (Điều 31)

Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định sau đây: (a) bốn tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường; (b) năm tháng, nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân; (c) sáu tháng đối với lao động nữ là người tàn tật theo quy định của pháp luật về người tàn tật; (d) Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy định tại các điểm a, b và c thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm ba mươi ngày.”

Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới sáu mươi ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ sáu mươi ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc ba mươi ngày tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian đã quy định; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.

Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.

Thời gian hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

Thời gian nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội trước và sau khi sinh con là thời gian nghỉ chủ yếu của lao động nữ trong chế độ thai sản. Hiện nay căn cứ vào điều kiện lao động, thể trạng của lao động nữ nói chung, yêu cầu chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh, khả năng đóng quỹ của người sử dụng lao động, khả năng cân đối thu, chi quỹ bảo hiểm…để quy định thành ba mức thời gian nghỉ hưởng bảo hiểm trước và sau khi sinh của lao động nữ là bốn, năm và sáu tháng tuỳ từng đối tượng. Bên cạnh đó Luật Bảo hiểm xã hội cũng quy định thời gian nghỉ trong các trường hợp sinh đôi trở lên, sau khi sinh con chết, đi làm sớm, nghỉ thêm… Việc căn cứ vào những yếu tố trên để phân chia các mức thời gian hưởng bảo hiểm khác nhau là hợp lý.

9.2.5. Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi (Điều 32)

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.

9.2.6. Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai (Điều 33)

- Khi đặt vòng tránh thai người lao động được nghỉ việc bảy ngày.

- Khi thực hiện biện pháp triệt sản người lao động được nghỉ việc mười năm ngày.

9.2.7. Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi (Điều 34)

Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết khi sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

Theo quy định của chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành thì lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi được trợ cấp một lần bằng một tháng lương trước khi nghỉ việc. Việc quy định như vậy dẫn tới bất hợp lý trong mức hưởng trợ cấp giữa những người lao động làm việc trong các khu vực khác nhau. Mục đích của khoản trợ cấp này là để mua sắm những vật dụng cần thiết cho trẻ sơ sinh và bồi dưỡng sức khoẻ người mẹ thì không thể căn cứ vào mức lương khác nhau của từng người lao động để thực hiện trợ cấp. Khắc phục hạn chế trên, Luật Bảo hiểm xã hội đã quy định mức trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi bằng hai tháng lương tối thiểu chung.

9.2.8. Mức hưởng chế độ thai sản (Điều 35)

Người lao động hưởng chế độ thai sản được nhận mức trợ cấp bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.

9.2.9. Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con (Điều 36)

Lao động nữ có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định khi có đủ các điều kiện sau đây: (a) Sau khi sinh con từ đủ sáu mươi ngày trở lên; (b) Có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại cho sức khoẻ của người lao động; (c) Phải báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý.

Ngoài tiền lương, tiền công của những ngày làm việc, lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định.

9.2.10. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản (Điều 37)

Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.

Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

9.3. Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

9.3.1. Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động (Điều 39)

Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây: (a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; (b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; (c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

          Hiện nay các trường hợp được coi là tai nạn lao động bao gồm: tai nạn xảy ra tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; tai nạn xảy ra ngoài giờ làm việc, ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc của người lao động. Các quy định trên là hợp lý, bao trùm được hết các trường hợp bị tai nạn có liên quan đến công việc. Song, cũng cần xác định rõ những nội dung như: nơi ở, nơi làm việc, tuyến đường và khoảng thời gian hợp lí... để xem tai nạn có liên quan đến công việc hay không, đặc biệt là trường hợp tai nạn xảy ra ngoài nơi làm việc và trên tuyến đường đi, về của người lao động. Tránh tình trạng lạm dụng đối với quỹ bảo hiểm xã hội.

9.3.2. Điều kiện hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp (Điều 40)

Người lao động được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại;

          Các trường hợp được xác định là bệnh nghề nghiệp là những trường hợp người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố độc hại và mắc phải một trong các bệnh được quy định trong danh mục bệnh nghề nghiệp (hiện nay Bộ Y tế quy định danh mục gồm 25 loại bệnh nghề nghiệp). Những quy định này tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng để phân biệt bệnh nghề nghiệp với những bệnh tật thông thường và thực hiện bảo hiểm đối với người lao động đúng chế độ.

9.3.3. Giám định mức suy giảm khả năng lao động (Điều 41)

Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau: (a) Sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định; (b) Sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định.

Người lao động được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau: (a) Vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp; (b) Bị tai nạn lao động nhiều lần; (c) Bị nhiều bệnh nghề nghiệp.

Việc quy định về giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động nhằm khắc phục những hạn chế phát sinh trong quá trình thực thi chính sách bảo hiểm xã hội.

9.3.4. Trợ cấp một lần (Điều 42)

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.

Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:

- Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung;

- Ngoài mức trợ cấp trên, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

9.3.5. Trợ cấp hằng tháng (Điều 43)

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.

Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:

- Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung;

- Ngoài mức trợ cấp nêu trên, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

9.3.6. Thời điểm hưởng trợ cấp (Điều 44)

Thời điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng người lao động điều trị xong, ra viện.

Trường hợp thương tật hoặc bệnh tật tái phát, người lao động được đi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa.

9.3.7. Cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình (Điều 45)

Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật.

9.3.8. Trợ cấp phục vụ (Điều 46)

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng quy định tại Điều 43 của Luật Bảo hiểm xã hội, hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung.

9.3.9. Trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (Điều 47)

Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu tháng lương tối thiểu chung.

9.3.10. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật, bệnh tật (Điều 48)

Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày.

Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

9.4. Chế độ hưu trí

9.4.1. Điều kiện hưởng lương hưu (Điều 50)

Người lao động có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;

          - Nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.

Người lao động là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Nam đủ năm mươi lăm tuổi, nữ đủ năm mươi tuổi, trừ trường hợp Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hoặc Luật Công an nhân dân có quy định khác;

          - Nam từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi, nữ từ đủ bốn mươi lăm tuổi đến đủ năm mươi tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

9.4.2. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động (Điều 51)

Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;

- Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.

9.4.3. Mức lương hưu hằng tháng (Điều 52)

Mức lương hưu hằng tháng của người lao động được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

Mức lương hưu hằng tháng của người lao động nghỉ hưu khi bị suy giảm khả năng lao động, được tính như quy định ở trên nhưng mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1% tỷ lệ hưởng lương hưu.

Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung.

9.4.4. Điều chỉnh lương hưu (Điều 53)

Lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá sinh hoạt và tăng trưởng kinh tế. Mức điều chỉnh cụ thể do Chính phủ quy định.

9.4.5. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu (Điều 54)

Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên ba mươi năm đối với nam, trên hai mươi lăm năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Như vậy, quy định trong Luật không khống chế số tháng được trợ cấp một lần khi nghỉ hưu (quy định hiện hành tối đa không quá năm tháng).

9.4.6. Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu (Điều 55)

Người lao động được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội; (b) Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội; (c) Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội; (d) Ra nước ngoài để định cư. 

Người lao động thuộc lực lượng vũ trang được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.

9.4.7. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần (Điều 56)

          Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.

So với quy định hiện hành thì mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tăng lên nhiều (hiện hành mỗi năm một tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội).

9.4.8. Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội (Điều 57)

Người lao động khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định hoặc chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

9.4.9. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 (Điều 58)

- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của năm năm cuối trước khi nghỉ hưu.

- Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của năm năm cuối trước khi nghỉ hưu.

9.4.10. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến trước ngày Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực (Điều 59)

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:

- Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1995 đến ngày 31/12/2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu năm cuối trước khi nghỉ hưu;

- Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2001 đến ngày 31/12/2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tám năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu năm hoặc tám năm cuối trước khi nghỉ hưu tuỳ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định trên.

9.4.11. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực (Điều 60)

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của mười năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của mười năm cuối trước khi nghỉ hưu.

9.4.12. Điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội (Điều 61)

Tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động được điều chỉnh theo mức lương tối thiểu chung tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí.

Tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

9.4.13. Tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng (Điều 62)

Người lao động đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo; (2) Xuất cảnh trái phép; (3) Bị Toà án tuyên bố là mất tích.

9.5. Chế độ tử tuất

Chế độ tử tuất nhằm giúp cho thân nhân người lao động tham gia bảo hiểm xã hội có được khoản trợ cấp bù đắp phần thiếu hụt thu nhập do người lao động bị chết; khi xây dựng chế độ có tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm và yếu tố xã hội khác nhằm đảm bảo thực hiện an sinh xã hội. 

9.5.1. Trợ cấp mai táng (Điều 63)

Các đối tượng khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng gồm: (a) Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này đang đóng bảo hiểm xã hội; (b) Người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội; (c) Người đang hưởng lương hưu; hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc.

Trợ cấp mai táng bằng mười tháng lương tối thiểu chung.

Trường hợp đối tượng bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp bằng mười tháng lương tối thiểu chung.

Như vậy, mức trợ cấp mai táng được nâng từ tám tháng (theo quy định hiện hành) lên mười tháng mức lương tối thiểu.

9.5.2. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng (Điều 64)

Các đối tượng thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hằng tháng: (a) Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ mười lăm năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần; (b) Đang hưởng lương hưu; (c) Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (d) Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

Thân nhân của các đối tượng trên được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, bao gồm:

- Con chưa đủ mười lăm tuổi; con chưa đủ mười tám tuổi nếu còn đi học; con từ đủ mười lăm tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

- Vợ từ đủ năm mươi lăm tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ sáu mươi tuổi trở lên; vợ dưới năm mươi lăm tuổi, chồng dưới sáu mươi tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ đủ sáu mươi tuổi trở lên đối với nam, từ đủ năm mươi lăm tuổi trở lên đối với nữ;

- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu dưới sáu mươi tuổi đối với nam, dưới năm mươi lăm tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

Thân nhân theo quy định trên phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

Luật Bảo hiểm xã hội đã bổ sung so với quy định hiện hành những đối tượng không đủ điều kiện về tuổi để hưởng hàng tháng nhưng bị suy giảm khả năng lao động 81% trở lên cũng được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

9.5.3. Mức trợ cấp tuất hằng tháng (Điều 65)

Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung.

Trường hợp có một người chết thì số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng không quá bốn người; trường hợp có từ hai người chết trở lên thì thân nhân của những người này được hưởng hai lần mức trợ cấp được quy định.

Thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng được thực hiện kể từ tháng liền kề sau tháng mà người lao động, người hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chết.

9.5.4. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất một lần (Điều 66)

Các đối tượng thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần:

- Người chết không thuộc các trường hợp theo quy định ở trên.

- Người chết không có thân nhân hưởng tiền tuất hằng tháng theo quy định.

9.5.5. Mức trợ cấp tuất một lần (Điều 67)

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người lao động đang làm việc hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội; mức thấp nhất bằng ba tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng.

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng bốn mươi tám tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng ba tháng lương hưu đang hưởng.

Các quy định về trợ cấp tiền tuất một lần đã thể hiện được nguyên tắc cân đối giữa đóng và hưởng của người tham gia bảo hiểm xã hội. Khắc phục được những hạn chế của quy định hiện hành, đặc biệt đối với người có nhiều năm đóng bảo hiểm xã hội mà bị chết khi chưa hưởng lương hưu, hoặc chết khi mới hưởng lương hưu thời gian ngắn (trợ cấp tuất một lần hiện nay tối đa chỉ bằng mười hai tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng). 

9.5.6. Tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đó đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (Điều 68)

Người lao động đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đó đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được cộng với thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.

Đây là quy định thể hiện sự liên thông giữa người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đó chuyển sang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

10. Quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc 

Quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc được hình thành từ các nguồn sau: “(1) Người sử dụng lao động đóng theo quy định tại Điều 92 của Luật này. (2) Người lao động đóng theo quy định tại Điều 91 của Luật này. (3) Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ. (4) Hỗ trợ của Nhà nước. (5) Các nguồn thu hợp pháp khác.” (Điều 88).

Luật Bảo hiểm xã hội quy định các quỹ thành phần: “(1) Quỹ ốm đau và thai sản. (2) Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. (3) Quỹ hưu trí và tử tuất.” (Điều 89).

Quỹ bảo hiểm xã hội được sử dụng để: “(1) Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định tại Chương III của Luật này. (2) Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng. (3) Chi phí quản lý. (4) Chi khen thưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Luật này. (5) Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này” (Điều 90).

10.1. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động (Điều 91)

- Hằng tháng, người lao động đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%.

- Đối với người lao động hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định trên và phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần.

10.2. Mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động (Điều 92)

Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động như sau:

- 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;

- 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.

Người sử dụng lao động thuộc các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì mức đóng hằng tháng theo quy định trên và phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần.

10.3. Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất (Điều 93)

Trong trường hợp người sử dụng lao động gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh hoặc gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa dẫn đến việc người lao động và người sử dụng lao động không có khả năng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì được tạm dừng đóng trong thời gian không quá mười hai tháng.

Chính phủ sẽ quy định cụ thể điều kiện, khoảng thời gian tạm dừng đóng và thẩm quyền quyết định việc tạm dừng đóng.

10.4. Tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội (Điều 94)

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.

Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động. 

Trường hợp mức tiền lương, tiền công cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.  

10.5. Chi phí quản lý (Điều 95)

Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.

Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

10.6. Nguyên tắc đầu tư (Điều 96)

Hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.

Các hình thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội gồm: “1. Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của ngân hàng thương mại của Nhà nước. (2) Cho ngân hàng thương mại của Nhà nước vay. (3) Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia. (4) Các hình thức đầu tư khác do Chính phủ quy định.” (Điều 97).

11. Bảo hiểm xã hội tự nguyện

11.1. Chế độ hưu trí

* Điều kiện hưởng lương hưu

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây: (a) Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi; (b) Đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên (Khoản 1 Điều 70).

Trường hợp nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá năm năm so với thời gian quy định thì được đóng tiếp cho đến khi đủ hai mươi năm. (Khoản 2 Điều 70)

* Mức lương hưu hằng tháng (Điều 71)

Mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. 

* Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu (Điều 72)

 Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên ba mươi năm đối với nam, trên hai mươi lăm năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

* Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng (Điều 73)

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá năm năm so với thời gian quy định được đóng tiếp cho đến khi đủ hai mươi năm;

- Không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

- Ra nước ngoài để định cư.

* Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần (Điều 74)

Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.  

* Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội (Điều 75)

Người lao động dừng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định hoặc chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

* Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội (Điều 76)

Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

Thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

11.2. Chế độ tử tuất

* Trợ cấp mai táng

Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng: (a) Người lao động đã có ít nhất năm năm đóng bảo hiểm xã hội; (b) Người đang hưởng lương hưu (Khoản 1 Điều 77).

Trợ cấp mai táng bằng mười tháng lương tối thiểu chung. (Khoản 2 Điều 77).

Trường hợp đối tượng bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp bằng mười tháng lương tối thiểu chung (Khoản 3 Điều 77).

* Trợ cấp tuất (Điều 78)

Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội, người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người đang hưởng lương hưu khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần.

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người lao động đang đóng hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng bốn mươi tám tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.

* Tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đó đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện (Điều 79)

Người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đó đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được cộng với thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.

Quy định này thể hiện sự liên thông giữa người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đó chuyển sang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

11.3. Quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được hình thành từ các nguồn sau: “(1) Người lao động đóng theo quy định tại Điều 100 của Luật này. (2) Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ. (3) Hỗ trợ của Nhà nước. (4) Các nguồn thu hợp pháp khác” (Điều 98).

Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được sử dụng như sau: (Điều 99)

- Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định.

- Đóng bảo hiểm y tế cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng lương hưu.

- Chi phí quản lý.

- Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.

Mức đóng và phương thức đóng của người lao động (Điều 100)

Mức đóng hằng tháng bằng 16% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.

Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảo hiểm xã hội được thay đổi tuỳ theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được chọn một trong các phương thức đóng sau đây: (a) Hằng tháng; (b) Hằng quý; (c) Sáu tháng một lần.

Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội tự nguyện: (Điều 101)

- Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội tự nguyện hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.

           - Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội tự nguyện bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

Việc thực hiện loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ là điều kiện để mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Người lao động là nông dân, lao động tự tạo việc làm, người làm việc trong khu vực không hưởng tiền lương, tiền công có cơ hội tham gia bảo hiểm xã hội để hưởng 2 chế độ hưu trí và tử tuất. Như vậy sẽ có hàng chục triệu người, tuỳ thuộc khả năng của mình, có nguyện vọng tham gia bảo hiểm xã hội, đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội trong xu thế phát triển của xã hội.

12. Bảo hiểm thất nghiệp 

Bảo hiểm thất nghiệp nhằm trợ giúp cho người lao động bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống, tạo điều kiện để họ sớm trở lại thị trường lao động. Mục đích của bảo hiểm thất nghiệp là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có những cơ hội mới về việc làm.

Theo Điều 80 Luật Bảo hiểm xã hội quy định thì đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Ng­ười lao động làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng hoặc hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc không xác định thời hạn ở những nơi có sử dụng từ mười lao động trở lên (khoản 3, khoản 4 Điều 2).

Như vậy, theo quy định trên thì nhóm đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; lực lượng vũ trang; những người lao động làm việc theo mùa vụ sẽ không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Và rõ ràng, đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp hẹp hơn rất nhiều so với đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, bị thất nghiệp cần có đủ các điều kiện sau: (Điều 81)

“1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;

2. Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

3. Chưa tìm được việc làm sau mười năm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp.”

Như vậy, điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định khá chặt chẽ:

- Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp phải đóng bảo hiểm thất nghiệp trong một thời gian nhất định là đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;

- Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm kiếm việc làm với cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định;

- Phải sẵn sàng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm sau mười năm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp.

Mức trợ cấp thất nghiệp (Điều 82)

Mức trợ cấp thất nghiệp và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp phụ thuộc vào mức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi bị thất nghiệp và thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Cụ thể Luật Bảo hiểm xã hội quy định như sau:

“1. Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

a) Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

b) Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

c) Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

d)  Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.”

Như vậy, người lao động bị thất nghiệp sẽ được hưởng mức trợ cấp thất nghiệp xác định và trong khoảng thời gian nhất định, điều này sẽ đảm bảo được khả năng tài chính cho quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Ngoài khoản trợ cấp thất nghiệp, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp còn được “hỗ trợ học nghề với thời gian không quá sáu tháng. Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề.” (Điều 83) và được các tổ chức do Nhà nước quy định “tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí.” (Điều 84). Ngoài ra người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế và tổ chức bảo hiểm xã hội sẽ đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp (Điều 85).

Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp ở nước ta là do trình độ tay nghề và cơ cấu nghề nghiệp của lực lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, nhất là yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do cơ cấu dân số nước ta vào loại trẻ nên đến nay số người đang và sẽ tham gia vào các lĩnh vực của nền kinh tế ở nước ta là rất lớn (khoảng 42 triệu người). Họ là nguồn nhân lực bổ sung cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do vậy, cùng với việc có trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp thì cần phải có giải pháp tích cực để đưa những lao động trở lại thị trường lao động.

Như vậy, một trong những giải pháp giúp người thất nghiệp tiếp tục tham gia thị trường lao động là đào tạo nghề hoặc nâng cao tay nghề cho họ. Do đó, một trong hướng giải quyết vấn đề này là cần có mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp và cơ quan bảo hiểm thất nghiệp để có những thông tin về cung - cầu lao động, phù hợp với cơ cấu trình độ ngành, nghề. Thông qua việc thiết lập quan hệ này, người lao động khi bị thất nghiệp có thể được đào tạo, bồi dưỡng tay nghề phù hợp để có được việc làm mới. Cơ quan bảo hiểm thất nghiệp hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho người lao động thất nghiệp, hỗ trợ học phí để người thất nghiệp tự đi học nghề hoặc tổ chức dạy nghề tập trung cho người thất nghiệp.

Tư vấn, giới thiệu việc làm là biện pháp giúp người thất nghiệp nhanh chóng hoà nhập với thị trường lao động. Khi đưa ra biện pháp này là nói đến vai trò của các trung tâm giới thiệu việc làm. Hoạt động tư vấn và giới thiệu việc làm được thực hiện thông qua cơ quan giới thiệu việc làm với kinh phí do quỹ bảo hiểm thất nghiệp hỗ trợ. Chúng ta có thuận lợi là đã có một hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm được hình thành trong cả nước “Tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động và nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật” (Khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động). Trung tâm giới thiệu việc làm là cầu nối giữa cung - cầu lao động, giúp người lao động tìm việc làm và người sử dụng lao động tuyển được nhân công thích hợp, góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp làm cho xã hội ổn định và phát triển. Mục đích của giới thiệu việc làm, tư vấn lao động, tư vấn nghề nghiệp là giúp người lao động và người sử dụng lao động gặp nhau để đi tới thiết lập quan hệ lao động, cung cấp các thông tin về thị trường lao động, các biện pháp và dịch vụ đặc biệt mà họ được hưởng. Giúp cho người thất nghiệp dễ dàng khi đưa ra quyết định tìm việc làm mới hay thay đổi nghề.

Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau: (a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp; (b) Có việc làm; (c) Thực hiện nghĩa vụ quân sự; (d) Hưởng lương hưu; (đ) Sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu mà không có lý do chính đáng; (e) Không thực hiện quy định về đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội, thông báo hằng tháng với tổ chức bảo hiểm xã hội về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, nhận việc làm hoặc tham gia khoá học nghề phù hợp khi tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu trong ba tháng liên tục; (g) Ra nước ngoài để định cư; (h) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo; (i) Bị chết. (Khoản 1 Điều 87).

Các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có việc làm, khi thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ được hưởng khoản trợ cấp một lần bằng giá trị còn lại của trợ cấp thất nghiệp (Khoản 2 Điều 87). 

Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 87 thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp lần sau (Khoản 3 Điều 87).

Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau: (Điều 102)

“1. Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

2. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

3. Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.

4. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.

5. Các nguồn thu hợp pháp khác.”

Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được sử dụng để “(1) Trả trợ cấp thất nghiệp, (2) Hỗ trợ học nghề; (3) Hỗ trợ tìm việc làm; (4) Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp; (5) Chi phí quản lý; (6) Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ.” (Điều 103).

Bảo hiểm thất nghiệp là một nội dung mới, rất cần thiết đối với người lao động trong nền kinh tế thị trường. Thực tế ở nước ta đã có những tiền đề của chế độ trợ cấp thất nghiệp được quy định tại Điều 17 và Điều 42 của Bộ luật Lao động là các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; việc thực hiện trợ cấp thôi việc cho người lao động theo Quyết định số 176/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng và Nghị định số 41/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước. Đã có hàng vạn người lao động nghỉ việc được giải quyết theo các chế độ trên.

Các quy định trong chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc hỗ trợ người lao động khi mất việc làm, nhanh chóng trở lại thị trường lao động và từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO.

14. Tổ chức bảo hiểm xã hội

Tổ chức bảo hiểm xã hội (Điều 106)

Tổ chức bảo hiểm xã hội là tổ chức sự nghiệp, có chức năng thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của tổ chức bảo hiểm xã hội do Chính phủ quy định.

Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội (Điều 107)

Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội do Chính phủ thành lập, có trách nhiệm chỉ đạo và giám sát hoạt động của tổ chức bảo hiểm xã hội.

Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội gồm đại diện Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, tổ chức bảo hiểm xã hội và một số thành viên khác do Chính phủ quy định. 

Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

Quy chế làm việc của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội do Chính phủ quy định.

Nhiệm vụ của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội (Điều 108)

Thẩm định kế hoạch hoạt động hằng năm, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của tổ chức bảo hiểm xã hội.

Quyết định hình thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội theo đề nghị của tổ chức bảo hiểm xã hội.

Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, chiến lược phát triển của ngành, kiện toàn hệ thống tổ chức của tổ chức bảo hiểm xã hội, cơ chế quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.

Đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh lãnh đạo của tổ chức bảo hiểm xã hội.

15. Thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội

Sổ bảo hiểm xã hội (Điều 109)

Sổ bảo hiểm xã hội được cấp đối với từng người lao động để theo dõi việc đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội và là cơ sở để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định. Mẫu Sổ bảo hiểm xã hội do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.

Sổ bảo hiểm xã hội sẽ được dần thay thế bằng thẻ bảo hiểm xã hội điện tử trong quá trình áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý bảo hiểm xã hội. Chính phủ quy định thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi sử dụng thẻ bảo hiểm xã hội điện tử.

Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội

- Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm: “(a) Tờ khai cá nhân của người lao động theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định; (b) Danh sách người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc do người sử dụng lao động lập; (c) Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động đối với người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội lần đầu; hợp đồng lao động đối với người sử dụng lao động là cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động (Khoản 1 Điều 110).

- Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định (Khoản 2 Điều 110).

- Hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: “(a) Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định; (b) Danh sách người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp do người sử dụng lao động lập.” (Khoản 3 Điều 110).

Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau (Điều 112)

“1. Sổ bảo hiểm xã hội.

2. Giấy xác nhận nghỉ ốm đối với người lao động điều trị ngoại trú, giấy ra viện đối với người lao động điều trị nội trú tại cơ sở y tế, giấy ra viện hoặc phiếu hội chẩn của bệnh viện đối với người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày.

3. Xác nhận của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên.

4. Giấy xác nhận của người sử dụng lao động về thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, kèm theo giấy khám bệnh của con đối với người lao động nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau.

5. Danh sách người nghỉ ốm và người nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau do người sử dụng lao động lập.”

Hồ sơ hưởng chế độ thai sản (Điều 113)

“1. Sổ bảo hiểm xã hội.

2. Bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con hoặc giấy chứng tử trong trường hợp sau khi sinh con mà con chết hoặc mẹ chết.

          Trường hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, người lao động thực hiện các biện pháp tránh thai phải có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải có chứng nhận theo quy định của pháp luật.

3. Xác nhận của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc xác nhận của người sử dụng lao động đối với lao động nữ là người tàn tật.

4. Danh sách người hưởng chế độ thai sản do người sử dụng lao động lập.”

Hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động (Điều 114)

“1. Sổ bảo hiểm xã hội.

2. Biên bản điều tra tai nạn lao động, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là tai nạn lao động thì phải có thêm bản sao Biên bản tai nạn giao thông.

3. Giấy ra viện sau khi đã điều trị tai nạn lao động.

4. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.

5. Văn bản đề nghị giải quyết chế độ tai nạn lao động.”

Hồ sơ hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp (Điều 115)

“1. Sổ bảo hiểm xã hội.

          2. Biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại, trường hợp biên bản xác định cho nhiều người thì hồ sơ của mỗi người lao động có bản trích sao.

          3. Giấy ra viện sau khi điều trị bệnh nghề nghiệp, trường hợp không điều trị tại bệnh viện thì phải có giấy khám bệnh nghề nghiệp.

4. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.

5. Văn bản đề nghị giải quyết chế độ bệnh nghề nghiệp.”

Hồ sơ hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ (Điều 116)

“1. Danh sách người đã hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà sức khoẻ còn yếu do người sử dụng lao động lập.

2. Văn bản đề nghị giải quyết trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.”

Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau ốm đau, thai sản (Điều 117)

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.

Hằng quý, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ của những người lao động đã được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho tổ chức bảo hiểm xã hội.

Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán trong thời hạn mười năm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Giải quyết hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (Điều 118)

- Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định.

- Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn mười năm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Hồ sơ hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (Điều 119)

- Sổ bảo hiểm xã hội.

- Quyết định nghỉ việc đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội; đơn đề nghị hưởng lương hưu đối với người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

          - Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa đối với người bị suy giảm khả năng lao động, nghỉ hưu trước tuổi hưởng mức lương hưu thấp hơn.

Hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (Điều 120)

- Sổ bảo hiểm xã hội.

- Quyết định nghỉ việc hoặc quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

- Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa trong trường hợp bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

- Bản sao giấy tờ định cư ở nước ngoài trong trường hợp ra nước ngoài để định cư.

- Đơn đề nghị của người lao động trong trường hợp sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần.

Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

          Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội và người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm: “(a) Sổ bảo hiểm xã hội; (b) Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết; (c) Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định; (d) Biên bản điều tra tai nạn lao động, bệnh án điều trị bệnh nghề nghiệp trong trường hợp chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.” (Khoản 1 Điều 121).

Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất của người đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên bao gồm: “(a) Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết; (b) Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.” (Khoản 1 Điều 121).

Giải quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (Điều 122)

- Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định. Trường hợp người lao động không còn quan hệ lao động thì trực tiếp nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội. Thân nhân của người đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội.

- Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu; mười năm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp hưởng bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần bao gồm: “(a) Sổ bảo hiểm xã hội; (b) Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.” (Khoản 1 Điều 123).

Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất bao gồm: “(a) Sổ bảo hiểm xã hội đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội; (b) Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết; (c) Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.” (Khoản 1 Điều 123).

Giải quyết hưởng chế độ hưu trí, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (Điều 124)

- Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội, thân nhân của người đang hưởng lương hưu nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Luật này.

- Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu; mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp hưởng bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.  

Hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp (Điều 125)

- Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.

- Bản sao hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hết hạn hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đúng pháp luật.

Giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp (Điều 126)

- Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định.

- Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Hồ sơ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với người chấp hành xong hình phạt tù

- Đối với người chưa hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, hồ sơ bao gồm: “(a) Sổ bảo hiểm xã hội; (b) Bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù; (c) Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội.” (Khoản 1 Điều 127).

- Đối với người đã hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội thì hồ sơ bao gồm: “(a) Bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù; (b) Đơn đề nghị hưởng tiếp bảo hiểm xã hội.” (Khoản 1 Điều 127).

Giải quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần đối với người chấp hành xong hình phạt tù (Điều 128)

- Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 127 của Luật này.

- Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Di chuyển nơi hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (Điều 129)

Khi người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng chuyển đến nơi ở khác trong nước mà muốn được hưởng bảo hiểm xã hội ở nơi mới thì phải có đơn gửi tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng.

Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được đơn; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

16. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội

Khiếu nại về bảo hiểm xã hội (Điều 130)

- Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và những người khác có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Người sử dụng lao động có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại (Điều 131)

- Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

- Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội không thuộc trường hợp quy định trên được thực hiện như sau:

+ Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu về bảo hiểm xã hội là người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại.

Trong trường hợp người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có thẩm quyền giải quyết;

+ Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh;

+ Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án;

+ Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Tố cáo, giải quyết tố cáo về bảo hiểm xã hội (Điều 132)

Việc tố cáo và giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

17. Khen thưởng và xử lý vi phạm

Khen thưởng (Điều 133)

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện Luật này hoặc phát hiện vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

- Người sử dụng lao động thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được khen thưởng từ quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Chính phủ.  

Các hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội bao gồm: “(1) Không đóng. (2) Đóng không đúng thời gian quy định. (3) Đóng không đúng mức quy định. (4) Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội.” (Điều 134).

Các hành vi vi phạm pháp luật về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội (Điều 135)

- Cố tình gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động.

- Không cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của Luật này.

Các hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội (Điều 136)

- Sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội trái quy định của pháp luật.

- Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội.

Các hành vi vi phạm pháp luật về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (Điều 137)

- Gian lận, giả mạo hồ sơ.

- Cấp giấy chứng nhận, giám định sai.

Xử lý vi phạm (Điều 138)

- Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội,  về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội, về sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội, về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội, về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội, về sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội, về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội từ ba mươi ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải đóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong năm.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thực hiện quy định tại khoản này thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này.

18. Điều khoản thi hành

Quy định chuyển tiếp (Điều 139)

- Các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với người đã tham gia bảo hiểm xã hội từ trước ngày Luật có hiệu lực.

- Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tiền tuất hằng tháng và người bị đình chỉ hưởng bảo hiểm xã hội do vi phạm pháp luật trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thì vẫn thực hiện theo các quy định trước đây và được điều chỉnh mức hưởng theo quy định của pháp luật.

- Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thì khi chết được áp dụng chế độ tử tuất quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội.

- Người lao động có thời gian làm việc trong khu vực nhà nước trước ngày 01/01/1995 nếu chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp một lần, trợ cấp xuất ngũ, phục viên thì thời gian đó được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

- Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.

19. Hiệu lực thi hành (Điều 140)

Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007; riêng đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đối với bảo hiểm thất nghiệp thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

Phần phụ lục

 

CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ

PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI MỘT SỐ NƯỚC

 

I. CÁC CÔNG ƯỚC VÀ KHUYẾN NGHỊ CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ (ILO) VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

Trong chiến lược toàn cầu hoá bảo hiểm xã hội, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng:

Bảo hiểm xã hội là một chương trình hữu hiệu trong việc tạo ra sự gắn kết xã hội và phát triển kinh tế của mọi quốc gia.

ILO ra đời vào năm 1919, trong Điều lệ hoạt động của mình đã khẳng định nền hoà bình toàn cầu lâu dài chỉ có thể được thiết lập trên nền tảng công bằng xã hội. Với quan điểm đó, các tiêu chuẩn lao động quốc tế được ILO xây dựng thể hiện nhất quán quan điểm này và thể hiện dưới dạng các Công ước và Khuyến nghị. Trong các Công ước về tiêu chuẩn lao động quốc tế thì bảo hiểm xã hội là một trong các nội dung quan trọng của hệ thống Công ước và Khuyến nghị của Tổ chức này.

ILO đã đưa ra định nghĩa về bảo hiểm xã hội và đã được nhiều quốc gia chấp nhận, đó là:

Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm khắc phục tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm một phần thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, tuổi già và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình.

       Các công ước, Khuyến nghị về bảo hiểm xã hội của ILO là một hệ thống văn bản pháp luật được ILO khuyến nghị áp dụng mà trong đó mỗi một nước tuỳ điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mình có thể lựa chọn vận dụng trong quá trình nghiên cứu, hoạch định chính sách chế độ bảo hiểm xã hội.

Việc tìm hiểu các Công ước quốc tế về bảo hiểm xã hội và điều chỉnh luật pháp quốc gia để tiếp cận với các quy định và thông lệ quốc tế là một nội dung quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội mà mỗi quốc gia cần hướng tới.

Công ước và Khuyến nghị của ILO về bảo hiểm xã hội bao gồm:

1. Công ước số 102: Công ước về quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội năm 1952.

Công ước được thông qua ngày 28/6/1952 và được gọi là Công ước về an sinh xã hội, 1952.

Công ước này được coi là một trong những văn bản pháp luật cơ bản nhất đưa ra những quy phạm tối thiểu về bảo hiểm xã hội mà một quốc gia tuỳ thuộc điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của mình mà dựa vào đó để xây dựng văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội của nước mình.

Công ước 102 quy định 9 chế độ bảo hiểm xã hội sau: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; trợ cấp tàn tật, mất sức lao động; trợ cấp tuổi già (hưu trí); trợ cấp tử tuất; trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp gia đình.

Công ước cũng quy định mọi thành viên chịu hiệu lực của Công ước này sẽ phải xây dựng và áp dụng ít nhất là 3 chế độ trong các chế độ bảo hiểm xã hội nêu trên.

Công ước 102 cũng đã đưa ra quy định về sự đối xử bình đẳng giữa mọi thành viên trong xã hội và công dân nước ngoài thường trú trong việc thụ hưởng bảo hiểm xã hội. Tài chính đảm bảo cho các chế độ bảo hiểm xã hội được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên tham gia hay bằng thuế hoặc bằng cả 2 cách. Nhà nước phải có trách nhiệm quản lý chung về bảo hiểm xã hội, có những giải pháp cần thiết đảm bảo cân đối dài hạn quỹ bảo hiểm xã hội.

Có thể nói Công ước 102 là Điều lệ mẫu về bảo hiểm xã hội áp dụng cho các nước, là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo quyền lợi bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động và đảm bảo công bằng xã hội.

2. Công ước 118: Công ước về đối xử bình đẳng trong vấn đề an sinh xã hội đối với người nước ngoài và người trong nước, 1962.

Công ước được thông qua ngày 28/6/1962 và được gọi là Công ước về đối xử bình đẳng.

Công ước 118 quy định các nước chịu hiệu lực của Công ước này phải giúp đỡ lẫn nhau về mặt tương trợ hành chính cần thiết và miễn phí để tạo điều kiện dễ dàng cho việc áp dụng Công ước và việc thi hành pháp luật về an sinh xã hội của mỗi nước. Tùy sự thoả thuận của các nước thành viên mà có thể một số chế độ bảo hiểm xã hội được áp dụng không chỉ cho công dân nước mình mà cho cả người nước ngoài thường trú tại nước mình.

Các khuyến nghị về đối xử bình đẳng về bảo hiểm xã hội bao gồm: Chăm sóc y tế, ốm đau, thai sản tan nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất, thất nghiệp và trợ cấp gia đình.

3. Công ước số 121: Công ước về trợ cấp tai nạn lao động, 1964.

Công ước được thông qua ngày 08/7/1964 và được gọi là Công ước về tai nạn lao động.

Công ước quy định rõ trợ cấp tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp cho mọi người lao động kể cả những người học việc, trong khu vực tư nhân và Nhà nước, bao gồm các Hợp tác xã và các nước cần phải:

- Thực hiện các biện pháp phòng chống tai nạn lao động;

- Cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng cho người tàn tật;

- Bố trí người tàn tật làm việc trong các vị trí phù hợp nhất.

4. Công ước số 128: Công ước về trợ cấp tàn tật, tuổi già và tuất, năm 1967.

Công ước được thông qua ngày 29/6/1967 và được gọi là Công ước về trợ cấp tàn tật, tuổi già và tuất, 1967.

Công ước bao gồm các nội dung sau: quy định chung; trợ cấp tàn tật; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tuất; chế độ trả định kỳ và một số quy định khác.

5. Công ước số 130: Công ước về chăm sóc y tế và chế độ trợ cấp ốm đau, 1969.

Công ước được thông qua ngày 25/6/2969 và được gọi là Công ước về chăm sóc y tế và chế độ trợ cấp ốm đau, 1969.

Công ước bao gồm các nội dung sau: Các quy định chung; chăm sóc y tế và trợ cấp ốm đau.

6. Công ước số 157: Công ước về thành lập một hệ thống quốc tế để duy trì các quyền về an sinh xã hội, 1982.

Công ước được thông qua ngày 21/6/1982 và được gọi là Công ước về duy trì các quyền an sinh xã hội, 1982.

Công ước bao gồm các nội dung sau: Những quy định chung; pháp luật có thể áp dụng; duy trì các quyền giành được bao gồm các chế độ bảo hiểm xã hội quy định tại Công ước số 102; duy trì các quyền đã giành được và chế độ trợ cấp ở nước ngoài; trợ cấp hành chính và sự giúp đỡ đối với những người thuộc phạm vi áp dụng Công ước này và những quy định khác.

7. Công ước số 168: Công ước về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp, 1988.

Công ước được thông qua ngày 21/6/1988 và được gọi là Công ước về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp.

Công ước quy định các nội dung về khái niệm việc làm có hiệu quả; các trường hợp được bảo vệ; người lao động được bảo vệ; trả trợ cấp thất nghiệp; quy định về trợ cấp cho người mới xin việc; bảo đảm pháp lý, hành chính và tài chính thực hiện trợ cấp thất nghiệp.

8. Công ước số 183: Công ước về sửa đổi Công ước về bảo vệ thai sản (đã sửa đổi), 1952.

Công ước được thông qua ngày 15/6/2000 và được gọi là Công ước bảo vệ thai sản, 2000.

Công ước quy định về bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ mang thai; chế độ nghỉ thai sản; nghỉ ốm hoặc các vấn đề có tính phức tạp; các chế độ, bảo trợ việc làm và không phân biệt đối xử người mẹ trong thời gian cho con bú và đánh giá định kỳ.

9. Khuyến nghị số 121: Khuyến nghị về trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 1964.

Khuyến nghị được thông qua ngày 08/7/1964 và được gọi là Khuyến nghị về trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 1964.

10. Khuyến nghị số 191: Khuyến nghị sửa đổi Khuyến nghị bảo vệ thai sản, năm 1952 được thông qua tại kỳ họp lần thứ 88 Hội nghị Liên hợp quốc ngày 15/6/2000.

Khuyến nghị được thông qua ngày 15/6/2000 và được gọi là Khuyến nghị về bảo vệ thai sản, 2000.

Các Khuyến nghị đề cập các nội dung sau: nghỉ thai sản; các chế độ; thực hiện chế độ; bảo đảm việc làm và không phân biệt đối xử; bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trong giai đoạn cho con bú và các hình thức nghỉ việc liên quan.

 

II. BẢO HIỂM XÃ HỘI  CỦA CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

1. Khái quát

Chính sách bảo hiểm xã hội của Trung Quốc được quan tâm ngay từ khi mới thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (01/10/1949). Vào năm 1951, Quốc Vụ viện (sau đây gọi là Chính phủ) đã ban hành các Điều lệ bảo hiểm lao động của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Đây là khởi điểm của hệ thống bảo hiểm xã hội tại Trung Quốc và đã hình thành quỹ bảo hiểm xã hội. Các Điều lệ này được áp dụng cho tất cả công ty, nhà máy xí nghiệp của Nhà nước. Nhà máy, xí nghiệp trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý và chi trả tất cả các khoản bảo hiểm: lương hưu, bảo hiểm tan nạn lao động, bảo hiểm y tế, chế độ thai sản. Mô hình cơ bản của hệ thống này là gắn bảo hiểm xã hội với các xí nghiệp. Lương hưu và trợ cấp tai nạn lao động sẽ được lấy từ quỹ này. Các quyền lợi khác sẽ được xí nghiệp chi trả theo các quy định của Nhà nước. Khi một xí nghiệp không có khả năng chi trả, thì Nhà nước sẽ bao cấp cho xí nghiệp để trả.

Hệ thống này đã đóng một vai trò rất tích cực trong việc duy trì sự ổn định xã hội trong khoảng thời gian dài. Trong cuộc cách mạng văn hoá năm 1966-1976, hệ thống bảo hiểm xã hội của Trung Quốc bị ngừng trệ do việc giải thể của các cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội và chấm dứt sự hoạt động của các quỹ bảo hiểm xã hội.

Kể từ năm 1980, với chính sách cải cách, mở cửa và thiết lập nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc đã tăng cường cải tổ hệ thống pháp luật, sửa đổi và ban hành một loạt luật và chính sách tạo khuôn khổ pháp lý cho sự thành công của công cuộc cải cách và hiện đại hoá. Việc xây dựng hệ thống luật pháp trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội cũng đã có nhiều thành tựu nổi bật. Luật Lao động của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được ban hành vào tháng 7 năm 1994. Luật Lao động điều chỉnh các mối quan hệ lao động và bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động cũng như người sử dụng lao động. Luật Lao động cũng dành một chương riêng quy định về “Bảo hiểm xã hội và phúc lợi xã hội”.

Hiện nay, hệ thống An sinh xã hội của Trung Quốc bao gồm bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, phúc lợi xã hội và quyền lợi đối với một số nhóm đặc thù, trong đó bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng của hệ thống đó. Cùng với cải cách kinh tế, Trung Quốc cũng đã khôi phục lại hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội, đồng thời cũng cải tổ hệ thống bảo hiểm xã hội theo các nội dung bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thai sản.

2. Bảo hiểm hưu trí

Vào tháng sáu năm 1978, với sự thông qua của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành điều lệ quy định về việc nghỉ hưu của người lao động thuộc khu vực Nhà nước. Điều lệ này quy định cán bộ nam sẽ về hưu từ tuổi sáu mươi, cán bộ nữ sẽ về hưu từ tuổi năm mươi lăm. Riêng đối với công nhân nữ thì tuổi về hưu có thể là năm mươi với điều kiện họ có mười năm phục vụ cho nhà máy.

Kể từ năm 1984, cải cách mở cửa tạo tiền đề cho bảo hiểm lương hưu trở thành vấn đề của cấp tỉnh bởi vì gánh nặng kinh tế đối với các xí nghiệp đã làm cho việc đảm bảo quyền lợi về lương hưu chi trả cho người lao động trở lên khó khăn. Tháng 6/1991, Chính phủ ban hành Quyết định cải tổ hệ thống bảo hiểm hưu trí cho người lao động trong các doanh nghiệp. Nội dung chủ yếu bao gồm:

- Thiết lập một hệ thống bảo hiểm hưu trí nhiều thành phần, bao gồm bảo hiểm bắt buộc, tức là Nhà nước bắt buộc phải chịu trả phần bảo hiểm hưu trí cơ bản, khuyến khích doanh nghiệp hình thành bảo hiểm hưu trí bổ sung và khuyến khích các địa phương hình thành thêm quỹ bảo hiểm hưu trí của mình.

- Hình thành một cơ chế đa nguồn cho bảo hiểm xã hội cơ bản: Nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân người lao động.

- Cải tổ phương thức trả tiền cho phù hợp với hệ thống đa quỹ. Nguyên tắc đóng góp tự nguyện bổ sung cũng được chấp thuận.

Vào tháng 3 năm 1995, Chính phủ ban hành các quy định về cải tạo sâu hơn nữa hệ thống bảo hiểm hưu trí cho người lao động trong doanh nghiệp, trong đó thông qua nguyên tắc kết hợp nguồn đóng góp của xã hội với tài khoản tiết kiệm của cá nhân cho bảo hiểm hưu trí.

Tháng 01 năm 1999, Chính phủ ban hành Điều lệ quy định về việc đóng góp bảo hiểm xã hội, trong đó quy định quỹ bảo hiểm xã hội sẽ thuộc quyền quản lý của các tỉnh và quy mô của quỹ sẽ mở rộng từ các doanh nghiệp Nhà nước sang tất cả các loại hình doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ của tư nhân và hệ thống thương mại dịch vụ. Bên cạnh hệ thống bảo hiểm hưu trí cơ bản bắt buộc, các doanh nghiệp được khuyến khích thành lập một quỹ bảo hiểm bổ sung cho người lao động trong doanh nghiệp, đồng thời cũng khuyến khích việc đóng góp tiết kiệm bổ sung của bản thân người lao động.

* Bảo hiểm hưu trí bắt buộc

Hệ thống bảo hiểm hưu trí được hình thành từ đầu những năm 50. Chế độ hưu trí giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định xã hội.

Chương trình bảo hiểm hưu trí bắt buộc bao gồm: bảo hiểm hưu trí cơ bản và tài khoản cá nhân. Ngoài ra các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc còn có thể tự nguyện tham gia chương trình hưu trí bổ sung.

a) Đối tượng điều chỉnh: áp dụng với mọi người lao động làm công ăn lương thuộc mọi thành phần kinh tế ở khu vực thành thị, kể cả lao động tự do ở thành thị.

b) Cơ cấu của chế độ hưu trí bắt buộc:

- Bảo hiểm hưu trí cơ bản: hình thức này được ra đời trong điều kiện nền kinh tế tập trung nên chính sách này trước đây chỉ áp dụng cho công nhân thuộc khu vực doanh nghiệp Nhà nước và các Hợp tác xã lớn.

Giữa những năm 80, bắt đầu thực hiện việc cải cách hệ thống hưu trí, Trước đây chế độ hưu trí do các doanh nghiệp thực hiện. Hiện nay, cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện việc thu và chi trả trợ cấp, nhằm giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp và có tác dụng làm giá đỡ cho quá trình cải cách lại doanh nghiệp Nhà nước. Việc cải cách hệ thống hưu trí này đã thực sự mang tính chất xã hội nhiều hơn, do có sự đóng góp của toàn xã hội vào một quỹ chung.

- Tài khoản cá nhân: hình thành từ năm 1990. Tài khoản cá nhân bao gồm toàn bộ phần đóng góp của người lao động và một phần đóng góp của người sử dụng lao động. Tài khoản cá nhân được tính lãi, lãi suất không được thấp hơn lãi suất tiền gửi kỳ hạn một năm của ngân hàng.

Năm 1993, Chính phủ Trung Quốc đã quyết định kết hợp trợ cấp lương hưu cơ bản với phần trợ cấp tài khoản cá nhân thành một công thức chung tính hưởng lương hưu hàng tháng đối với người tham gia chế độ hưu trí bắt buộc.

c) Mức đóng.

Mức đóng của người sử dụng lao động cho chế độ hưu trí do Chính phủ địa phương xác định, thông thường là 20% tổng quỹ tiền lương của doanh nghiệp (ở những địa phương nếu tỷ lệ đóng góp cao hơn 20% thì phải có báo cáo và được Chính phủ Trung ương chấp thuận).

Mức đóng của người lao động cho chế độ hưu trí là 4% của tiền lương tháng vào năm 1997, sau đó cứ hai năm lại tăng thêm 1% cho đến tối đa là 8%.

Mức trần đóng bảo hiểm xã hội là ba lần mức tiền lương trung bình xã hội và mức sàn là 60% mức lương trung bình xã hội.

Hiện nay theo quy đinh của Trung ương nói chung tổng đóng cho chế độ hưu trí là 26% và được phân bổ như sau: Bảo hiểm hưu trí cơ bản (quỹ chung): 15%; Tài khoản cá nhân: 11%.

d) Điều kiện và mức hưởng.

Người tham gia bảo hiểm xã hội được hưởng hưu trí khi đủ sáu mươi tuổi đối với nam, năm mươi tuổi đối với nữ (đối với khu vực Nhà nước thì tuổi nghỉ hưu của nữ là năm mươi lăm) và có đủ mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.

Tiền lương hưu hàng tháng được tính gộp, gồm hai phần. Một phần cho lương hưu cơ bản và một phần từ tài khoản cá nhân (tính cả phần đóng và phần lãi).

Mức lương hưu được Nhà nước điều chỉnh theo mức tăng của tiền lương và theo mức tăng của giá cả sinh hoạt của từng thời kỳ.

3. Bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

- Đối tượng được hưởng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Bộ Lao động và An sinh xã hội phối hợp với Bộ Y tế xây dựng các quy định nhằm xác định đối tượng được thụ hưởng chế độ này.

- Hệ thống bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Uỷ ban giám định lao động chịu trách nhiệm giám định mức độ thương tật do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Thành phần của Uỷ ban giám định ở tất cả các cấp khác nhau bao gồm đại diện của cơ quan lao động, cơ quan y tế và công đoàn. Vào năm 1996, Nhà nước ban hành quy chuẩn quốc gia về giám định mức độ thương tật do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đối với người lao động, trong đó quy định rất rõ 10 mức độ cụ thể. Từ cấp 1 đến cấp 4 là mất khả năng lao động hoàn toàn, từ cấp 5 đến cấp 6 là mất phần lớn khả năng lao động, từ cấp 7 đến cấp 10 là mất một phần khả năng lao động.

- Quyền lợi được hưởng:

+ Điều trị y tế do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Khi người công nhân được công nhận là bị thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp thì tất cả các chi phí y tế của họ sẽ được cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả nếu họ tham gia vào hệ thống bảo hiểm tai nạn lao động, nếu không thì  mọi chi phí này do nhà máy xí nghiệp nơi họ chi trả.

+ Trợ cấp tai nạn lao động: sau khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người lao động phải làm các thủ tục xác nhận thương tật. Họ sẽ được nhận trợ cấp thương tật tuỳ theo mức độ thương tật.

+ Trợ cấp tử tuất và quyền lợi của thân nhân: Khi người lao động bị chết do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp thì thân nhân trực tiếp của họ sẽ được hưởng các quyền lợi bao gồm: tiền trợ cấp mai táng, tiền tử tuất một lần hoặc hàng tháng.

- Nguồn hình thành quỹ: Do người sử dụng lao động đóng góp. Mức đóng góp khác nhau theo các ngành công nghiệp có nguy cơ rủi ro khác nhau.

4. Bảo hiểm thất nghiệp

Vào năm 1986, Chính phủ Trung Quốc quyết định cải tổ hệ thống tuyển dụng nhân viên và hình thức ký hợp đồng lao động đã được ứng dụng trong các nhà mày xí nghiệp Nhà nước. Chính phủ đã ban hành “Các quy định đối với người thất nghiệp làm việc trong các nhà máy xí nghiệp của Nhà nước”. Các quy định này là khởi đầu của việc xây dựng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp. Vào năm 1993, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi và hoàn thiện hơn.

Ngày 2hai tháng 01 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Điều lệ về bảo hiểm thất nghiệp.

- Đối tượng điều chỉnh:

Người lao động trong các doanh nghiệp (bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tư nhân,..) và trong các cơ quan đóng tại  địa bàn thành thị được tham gia vào hệ thống bảo hiểm thất nghiệp.

- Nguồn quỹ và tỷ lệ đóng góp:

Nguồn quỹ bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: khoản đóng góp của doanh nghiệp, cơ quan và cá nhân người lao động; lãi suất ngân hàng; phần trợ giúp của Chính phủ; và các nguồn khác cho quỹ theo quy định của pháp luật.

Các doanh nghiệp và cơ quan ở thành thị sẽ đóng 2% tổng quỹ lương, cá nhân người lao động trong doanh nghiệp đóng 1% lương của họ.

- Các khoản chi trả của quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

+ Trợ cấp thất nghiệp;

+ Hỗ trợ y tế trong thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp;

+ Chi phí mai táng;

+ Tổ chức các lớp đào tạo và dạy nghề;

+ Các khoản chi phí khác liên quan tới bảo hiểm thất nghiệp do Chính phủ quy định.

- Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Những người thất nghiệp sẽ được nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp nếu họ đáp ứng các yêu cầu sau đây:

- Đã tham gia vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp và thực hiện đúng những yêu cầu, đóng góp cho quỹ từ một năm trở lên; Bị thất nghiệp ngoài ý muốn; Có đăng ký thất nghiệp và có nhu cầu tìm việc làm trở lại.

Việc nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp sẽ chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Người lao động được tái tuyển dụng ở nới khác; Được gọi phục vụ trong quân đội; Di cư sang nước khác; Đến tuổi nghỉ hưu và được nhận bảo hiểm hưu trí; Bị bắt vào tù hoặc trại cải tạo lao động; Từ chối nhận việc do các cơ quan có liên quan sắp xếp mà không đưa ra được lý do chính đáng; Do một số nguyên nhân khác theo quy định của pháp luật.

- Mức và thời gian nhận bảo hiểm thất nghiệp.

Quy định về mức bảo hiểm thất nghiệp sẽ tuỳ theo từng tỉnh và địa phương căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương mình. Tuy nhiên, theo một nguyên tắc chung là thấp hơn mức lương tối thiểu nhưng phải cao hơn mức sống tối thiểu của cư dân thành thị. Trợ cấp thất nghiệp sẽ được hưởng trong vòng mười hai tháng nếu người bị thất nghiệp đã đóng góp vào quỹ thất nghiệp  trong thời gian từ một đến năm năm; những người đóng bảo hiểm thất nghiệp từ năm đến mười năm thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa là mười tám tháng. Những người đóng bảo hiểm thất nghiệp trên mười năm thì sẽ được nhận tối đa là hai mươi bốn tháng. Khi người lao động lại bị thất nghiệp sau khi đã tìm được việc làm thì thời gian đóng góp cho quỹ sẽ được tính toán lại trên cơ sở xem xét khoảng thời gian họ đã nhận bảo hiểm thất nghiệp trước đây, tuy nhiên mức tối đa cũng không được vượt quá hai mươi bốn tháng.

5. Quản lý Nhà nước và giám sát bảo hiểm xã hội

* Quản lý Nhà nước:

Việc quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động và An sinh xã hội đảm nhận.

Bộ Lao động và An sinh xã hội chịu trách nhiệm ban hành chế độ, chính sách và kiểm tra giám sát việc thực hiện các chương trình bảo hiểm trên phạm vi toàn lãnh thổ. Trên cơ sở chức năng của mình, Bộ Lao động và An sinh xã hội thành lập các Vụ chức năng bao gồm: Vụ Bảo hiểm lương hưu, Vụ Bảo hiểm y tế, Vụ Bảo hiểm thất nghiệp, Vụ Bảo hiểm xã hội ở nông thôn, Vụ Quản lý và Giám sát quỹ bảo hiểm xã hội.

* Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội.

Cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu do hệ thống dọc của Bộ Lao động và An sinh xã hội ở các cấp và các cơ quan bảo hiểm xã hội có liên quan chịu trách nhiệm.

Bộ Lao động và An sinh xã hội chịu trách nhiệm quản lý hệ thống bảo hiểm xã hội trên cả nước; bao gồm lương hưu, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và thai sản.

* Giám sát quỹ bảo hiểm xã hội.

Năm 1998, Chính phủ đã thành lập Bộ Lao động và An sinh xã hội, đồng thời thành lập một Vụ Giám sát quỹ bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm giám sát quỹ. Theo kế hoạch, cùng với sự cải tổ cơ cấu của các cơ quan chính quyền ở tất cả các cấp thì một hệ thống quản lý quỹ bảo hiểm xã hội cũng được hình thành ở tất cả các cấp từ trên xuống dưới. Một hệ thống giám sát quỹ bảo hiểm xã hội sẽ được xây dựng trong đó chủ yếu giám sát thông qua hệ thống kiểm toán, tài chính và cả trong hình thức giám sát xã hội.

Với việc thiết lập quỹ bảo hiểm xã hội ở tất cả các cấp, hoạt động giám sát xã hội nhằm khuyến khích công luận tham gia giám sát việc thu chi của hệ thống bảo hiểm xã hội bằng hệ thống điện thoại, phát thanh truyền hình và bưu điện để cơ quan giám sát nhanh chóng có biện pháp khắc phục hiệu quả nhất.

 

III- BẢO HIỂM XÃ HỘI  CỦA VƯƠNG QUỐC ANH

1. Hệ thống bảo hiểm hưu trí

Hệ thống bảo hiểm hưu trí hiện hành của Anh rất phức tạp, gồm nhiều cấu phần. Pháp luật đầu tiên được ra đời vào năm 1908 (bảo hiểm hưu trí tuổi già), sau này vào từng thời kỳ hệ thống này lại được bổ sung làm phức tạp thêm. Hệ thống bảo hiểm hưu trí, nếu theo chủ thể thực hiện có 2 loại: bảo hiểm nhà nước và bảo hiểm tư nhân/cá nhân. Bảo hiểm nhà nước được chia làm 2 loại: dựa trên sự đóng góp và không phải đóng góp. Ở Anh quốc hệ thống hưu trí do người sử dụng lao động thực hiện cũng phát triển: người sử dụng lao động cung cấp chế độ hưu trí cho người lao động trên cơ sở người lao động đóng góp. Ngoài ra các hãng bảo hiểm tư nhân cũng cung cấp hưu trí cho người lao động nếu họ tham gia.

Người lao động có thể vừa tham gia đóng vào bảo hiểm nhà nước vừa tham gia đóng bảo hiểm do người sử dụng lao động thực hiện trong quá trình sống. Nhưng mỗi năm người lao động chỉ được chọn đóng vào một nơi. Cơ chế tài chính của bảo hiểm hưu trí do người sử dụng lao động thực hiện có thể bao gồm hai loại: mức hưởng xác định và mức đóng xác định. Người lao động có thể lựa chọn một trong hai cơ chế này để tham gia. Nếu lựa chọn cơ chế mức hưởng xác định (DB) thì  người sử dụng lao động sẽ chịu mọi sự rủi ro. Nếu lựa chọn cơ chế tài chính mức đóng xác định (DC) thì mọi rủi ro do người lao động chịu, song mức hưởng phụ thuộc vào kết quả của đầu tư quỹ. Mức đóng xác định hiện nay là xu thế phổ biến của bảo hiểm hưu trí do người sử dụng lao động thực hiện.

Theo một cách phân loại thông thường khác, hệ thống bảo hiểm hưu trí của Anh có 3 tầng:

- Tầng thứ nhất: gồm hưu trí cơ bản nhà nước và tín dụng hưu trí

- Tầng thứ hai gồm: hưu trí của người sử dụng lao động (dưới dạng mức đóng xác định hoặc mức hưởng xác định), trợ cấp cá nhân và trợ cấp cho hộ gia đình, hưu trí của nhà nước dựa trên thu nhập (hưu trí nhà nước thứ hai).

- Tầng thứ ba là bảo hiểm cá nhân tự nguyện.

Hưu trí cơ bản của Nhà nước:

Hưu trí cơ bản của Nhà nước có 3 loại: loại a, b và d. Loại a, b đều trên cơ sở đóng góp, cả chủ, thợ và người tự tạo việc làm đều phải tham gia vào quỹ chung. Loại d không trên cơ sở đóng góp mà do Chính phủ đảm bảo. Trước kia có thêm loại c không trên cơ sở đóng góp nhưng hiện không tồn tại nữa.

Chế độ hưu trí nhà nước dành cho tất cả những ai muốn đóng cả người lao động và người tự tạo việc làm, trong đó loại a, b chi trả từ quỹ và loại d từ nguồn ngân sách của Chính phủ.

          Nguyên tắc hoạt động cả loại a và b là thực chi - thực thu phần tiền của người đang đóng bây giờ để chi trả cho người đang hưởng hưu. Nếu năm 1995 ở Anh có 5,4 người đóng/ 1 người hưởng, thì năm 2005 giảm xuống còn 3,4 người đóng/1 người hưởng và dự báo đến năm 2025 tiếp tục giảm xuống còn 2,5 người đóng/1 người hưởng.

          a) Loại a:

Tuổi nghỉ hưu đối với nam là sáu mươi lăm, với nữ là sáu mươi nhưng không phải đến tuổi đó là tự động được nghỉ hưu mà phải có sự khai báo. Từ 2010, tuổi nghỉ hưu của nữ bắt đầu tăng, mỗi hai tháng tăng một tháng tuổi nghỉ hưu, đến 2020 cả nam và nữ đều nghỉ hưu ở tuổi sáu mươi lăm.

Chế độ hưu trí cho loại này gồm 2 phần: phần thứ nhất, hưu trí cơ bản của nhà nước chi trả dựa theo số năm công tác của người lao động. Phần thứ hai, Hưu trí nhà nước bổ sung dựa trên thu nhập của người lao động (được thực hiện bắt đầu từ tháng 4 năm 78).

Có 2 điều kiện để hưởng hưu trí cơ bản của Nhà nước:

- Thứ nhất, đóng vào quỹ quốc gia trước 5/4/1975 (thời điểm cải cách hưu trí) là một năm hoặc phải đóng 50 lần mức đóng đồng loạt Nhà nước quy định trước ngày 6/4/1975.

- Thứ hai, đóng đủ vào quỹ bảo hiểm quốc gia sao cho họ được hưởng ít nhất 25% của mức hưởng 82,05 bảng một tuần.

Người đến tuổi nghỉ hưu có thể chưa hưởng lương hưu mà vẫn tiếp tục đóng. Đến khi có nhu cầu hưởng hưu, người đó phải làm thủ tục khai hưởng, khi đó họ sẽ được hưởng thêm một khoản trợ cấp một lần cho những năm đóng thêm hoặc hưởng lương hưu ở mức cao hơn .

b) Loại b: dựa trên tiền đóng của các cặp vợ chồng, của cả hộ độc thân, quả phụ (đóng theo gia đình). Vợ goá, chồng goá và người bạn đời trong hôn nhân thực tế còn sống sẽ được hưởng khoảng 60% mức lẽ ra chồng được hưởng (ví dụ 60% của 82,05 bảng). Hiện đang mở rộng cho chồng và người người bạn đời trong hôn nhân thực tế vào năm 2010.

c) Loại d: không dựa trên cơ sở đóng góp. Loại này chi trả cho những người từ 80 tuổi trở lên nếu có hai mươi năm cư trú ở Anh. Loại d này không chỉ trả cho người 80 tuổi mà trả cho cả những người đã được hưởng chế độ hưu Nhà nước (tính theo năm đóng) mà mức hưởng quá ít. Nếu người nào không đủ điều kiện 22 năm đóng bảo hiểm xã hội theo loại a, họ cũng được hưởng thêm 1 khoản của loại d để có thể đạt được 60% của chế độ hưu trí.

Tín dụng hưu trí.

Được thực hiện từ tháng tám năm 2003, với mục đích là để hỗ trợ người nghèo. Giống chế độ hưu trí cơ bản của nhà nước.

Bên cạnh chế độ hưu trí cơ bản, để đảm bảo cho người có thu nhập thấp,  cho đối tượng có đóng nhưng đóng không đủ, tránh tình trạng nghèo đói, Nhà nước đưa ra chế độ tín dụng hưu trí. Chương trình tín dụng hưu trí trợ cấp theo tuần, dựa trên đánh giá về hoàn cảnh cá nhân (kiểm tra thu nhập) của từng người để trợ cấp. Chương trình chia 2 phần: thứ nhất, bảo đảm mức trợ cấp tối thiểu cho những người trên sáu mươi tuổi. Thứ hai, có khoản trợ cấp gọi là thưởng cho người thu nhập thấp nhưng trong quá trình làm việc họ tiết kiệm để hỗ trợ cho cuộc sống của họ sau này.

Khác trợ cấp hưu trí cơ bản, trong chế độ tín dụng hưu trí, Nhà nước đóng vào quỹ hưu trí quốc gia, chế độ này trợ cấp cho người mất thu nhập hoặc không có thu nhập, vì lý do gì đó không có thu nhập và sẽ kiểm tra thu nhập để cấp khoản trợ cấp này. Mục đích của chương trình này là giúp người nghèo.

Hưu trí theo nghề nghiệp  (chế độ hưu trí của người sử dụng lao động):

Bên cạnh hưu trí nhà nước còn có chế độ hưu trí do người sử dụng lao động thực hiện chia 2 loại: loại thứ nhất (DB) hưu trí dựa trên lương, mức hưởng xác định, người sử dụng lao động gánh chịu rủi ro. Loại thứ hai, là mức đóng xác định (DC) tiền đóng đưa vào quỹ chung rồi đầu tư vào thị trường tài chính, mức hưởng dựa trên sự hoạt động của quỹ, rủi ro người lao động gánh chịu.

Hưu trí cá nhân (tự nguyện) - Người lao động mở tài khoản cá nhân - hưu trí cổ phần.

Thu nhập nữa đối với người lao động là hưu trí cá nhân, nó là hình thức đầu tư tiền của mỗi cá nhân vào thị trường tài chính, bảo hiểm xã hội, người lao động chịu rủi ro, nếu công ty tài chính hoạt động hiệu quả thì người lao động có lợi và ngược lại. Ưu thế của chương trình này là thích ứng với sự di chuyển của lao động.

2. Việc thu phí và chi trả

Việc thu phí.

Việc thu phí được thực hiện bởi Cục thuế và hải quan nội địa.

Người lao động đóng vào quỹ bảo hiểm quốc gia, đóng từng tháng theo năm, tiền trích hàng tháng nhưng hết năm người sử dụng lao động mới đóng. Quỹ được sử dụng chi trả cho các chế độ hưu trí. Tiền thu vào quỹ năm nào được chi trả cho người hưởng hưu trí của năm đó.

Việc nộp hồ sơ được thực hiện qua Internet hoặc  các công cụ điện tử, hơn 50% được  gửi qua Internet.

Chi phí quản lý cho việc thu phí là 0,42% tính theo số thu.

Việc chi trả.

Hệ thống hưu trí Nhà nước được thực hiện như sau: Bộ Tài chính là cơ quan nghiên cứu xác định mức đóng. Mọi chi trả đều do Bộ Việc làm và hưu trí đảm nhiệm.

Người lao động đăng ký với Bộ lao động và hưu trí. Bộ này kiểm tra và đối chiếu nếu người lao động đủ điều kiện nghỉ hưu thì thực hiện việc chi trả và quản lý người nghỉ hưu.

3. Quản lý Quỹ bảo hiểm quốc gia

Việc quản lý và thu - chi của quỹ thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan:

Bộ Tài chính xác định mức đóng; Cục thu phí và hải quan nội địa quản lý việc thu; Người chủ sử dụng lao động khấu trừ thu nhập của người lao động để đóng quỹ và mọi người đến tuổi về hưu đến Bộ Việc làm và hưu trí để đăng ký về hưu. Về phần mình, Bộ Việc làm và hưu trí phải lấy thông tin quá trình đóng của người lao động từ Cục thu phí và hải quan nội địa.

 

 

Mục lục

 

 

Trang

Phần thứ nhất

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

3

I- CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

3

II- ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN HÀNH

7

Phần thứ hai

19

A. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

19

I- SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

19

II- QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

20

III- KẾT CẤU CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

21

B. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

23

Phần phụ lục:

CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

 VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI MỘT SỐ NƯỚC

65

 I- CÁC CÔNG ƯỚC VÀ KHUYẾN NGHỊ CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ (ILO) VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

65

 II- BẢO HIỂM XÃ HỘI  CỦA CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

68

III- BẢO HIỂM XÃ HỘI  CỦA VƯƠNG QUỐC ANH

75

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)