1. Có nợ mà không trả có là hành vi lừa đảo không?

Chào công ty luật Minh Khuê, Tôi xin trình bày sự việc như sau: tôi và một người bạn góp vốn làm ăn, số tiền góp là 250 triệu; nhưng hiện tại người bạn đó bị bể nợ và đã trốn không liên lạc được. Nhưng người đó có viết cho tôi giấy cam kết trả nợ, nay đã quá thời hạn mà vẫn chưa trả nợ cho tôi.
Vậy công ty cho tôi hỏi trường hợp này có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Tôi muốn tố cáo người bạn này thì phải tố cáo ở đâu và thủ tục như thế nào? (người này thuê trọ làm ăn chung với tôi ở Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh; thường trú ở Phan Rang Ninh Thuận.
Xin cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về hành vi lừa đảo, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ở đây , giữa hai bạn có thỏa thuận góp vốn làm ăn , sau khi việc góp vốn này không hiệu quả hai bạn có thêm một thỏa thuận chuyển hợp đồng góp vốn này thành hợp đồng vay , theo đó người bạn này vay bạn 250 triệu đồng và hẹn ngày trả cụ thể , nay đã quá hạn mà người bạn này không trả , cắt đứt liên lạc với bạ và bỏ trốn, khỏi nơi cư trú , bạn cần xác định việc người này nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản tại thời điểm trước khi giao kết hợp đồng vay với bạn hay sau đó mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản này.

TH1: Nếu người bạn này có ý định chiếm đoạt tài sản của bạn trước khi ký kết hợp đồng vay , việc làm hợp đồng với bạn nhằm mục đích làm cho bạn tin tưởng giao tài sản cho họ thì người này có dấu hiệu vi phạm khoản 3 điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) Bộ luật hình sự năm 2015 về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản :

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

TH2: Nếu người bạn của bạn sau khi ký kết hợp đòng vay , vì lý do cá nhân nên mới chiếm đoạt số tiền này thì bạn của bạn có thể đã vi phạm qy định tại điều 140 Bộ luật hình sự :

"Điều 140: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây: chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó"...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

Về thủ tục tố cáo người này , theo quy định tại khoản 4 điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự 2003: bạn cần xác định rõ hành vi phạm tội của người này xảy ra ở đâu thì bạn sẽ có đơn tố cáo đến cơ quan điều tra cấp quận/huyện nơi đó , nếu không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm hoặc tội phạm xảy ra ở nhiều nơi thì thẩm quyền thuộc về nơi mà bị can cư trú hoặc bị bắt .

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Xin tư vấn rút vốn cổ đông khi có dấu hiệu lừa đảo ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Tôi muốn xin tư vấn trường hợp như sau: Vào ngày 24/09/2015 tôi có nộp tiền tham gia góp vốn cổ đông sáng lập để cho sản xuất một sản phẩm thiết bị y tế, khi giao tiền có giấy tay và chữ ký của người nhận (người chịu trách nhiệm chính việc phân phối máy khi máy ra đời, hiện đang là Giám đốc một công ty).
Số cổ phần tạm tính của tôi là 5% Khi giao tiền thì Giám đốc có hứa hẹn tầm cuối tháng mười sản phẩm sẽ hoàn thành, đồng thời thu xếp công việc cho tôi để nắm bắt và quản lý dòng sản phẩm. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, máy vẫn chưa hoàn thành, và khi tôi đề cập đến thì đều nhận được câu trả lời "đang làm" nhưng Giám đốc không đưa ra được giấy tờ gì chứng minh, chỉ hứa hẹn thời điểm họp cổ đông khi tôi yêu cầu, đồng thời có biểu hiện muốn hạn chế tôi có mặt tại văn phòng công ty ông ta: gọi điện thoại ít khi nghe máy; khi đến văn phòng thì thường viện cớ bận rộn, soạn thảo văn bản này nọ nên không nghe chuông bấm, phải một lúc sau mới mở cửa; đỉnh điểm là ngày 08/01/2016, khoảng 9 giờ 30, tôi qua công ty (mở cửa sắt, chỉ đóng cửa kính) bấm chuông không có người mở cửa, gọi điện thoại ông Giám đốc không nhận (từ chối cuộc gọi), khi gặp Giám đốc và vòng về công ty thì nhân viên (trực văn phòng công ty) trả lời rằng thấy tôi nên mới không mở cửa. Ông Giám đốc nhận tiền góp vốn của tôi hiện đang ở Sài Gòn (tạm trú tại địa chỉ văn phòng chi nhánh phía Nam của công ty ông ta), địa chỉ thường trú ở Quảng Trị, trụ sở công ty ngoài Hà Nội, tôi có giữ bản scan photo cmnd không công chứng của ông ta Với các dấu hiệu trên, tôi nghi ngờ ông Giám đốc đang lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và có mong muốn rút vốn.
Xin hỏi luật sư, liệu tôi có thể rút vốn hoặc đưa vụ việc ra pháp luật không, nếu được thì phải liên hệ ở địa chỉ nào?
Tôi xin cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Hành vi trái pháp luật của Gíam đốc công ty A là gì ?

Theo như bạn trình bày, giữa bạn và giám đốc công ty A( anh X) có cam kết góp vốn để sản xuất một thiết bị sản phầm y tế. Tuy nhiên đến thời điểm cam kết sản phầm ra đời thì vẫn chưa hoàn thành, đồng thời giám đốc công ty A không đưa ra được chứng minh, viên cơ bận rộn, hạn chế nghe điện thoại, trốn tránh việc gặp mặt.

2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là như thế nào ?

+/ Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

+/ Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

+/ Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

3. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và các yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là gì ?

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi sau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả lại tài sản hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Các yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017:

+/ Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau: Về hành vi. Có một trong các hành vi sau đây: Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái phép tài sản của người khác thành tài sản của mình (xem giải thích tương tự ở Tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản) sau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.

+/ Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

+/ Mặt khách quan: Người phạm tội thực hiện đến tội phạm này với lỗi cố ý.

+/ Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

4. Khi nào thì khởi tố vụ án hình sự ?

Theo bộ luật tố tụng hình sự 2-15 thì chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:Tố giác của cá nhân;Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú.

5. Cách giải quyết là như thế nào ?

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn nên làm đơn trình báo lên công an điều tra cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú.

Hồ sơ bao gồm:

- Đơn trình báo công an (theo mẫu)

- Chứng minh thư nhân dân (bản sao công chứng)

- Sổ hộ khẩu (bản sao công chứng)

- Những căn cứ chứng minh kèm theo hồ sơ chứng minh hành vi phạm tội của ngừoi thực hiện tội phạm (ví dụ như video, hình ảnh, ghi âm...)

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Lừa đảo môi giới đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc bị xử lý như thế nào ?

Chào Luật sư. Tôi muốn đi lao động Hàn quốc, vì vậy, tôi đã tìm ở trên mạng facebook một người tự xưng là công ty A và hứa sẽ đưa tôi được sang bên đó làm việc sau ba tháng nữa, và tôi đã chuyển khoản cho người môi giới một khoản tiền 200.000.000 đồng để làm các thủ tục đi làm việc tại Hàn Quốc.
Người này có hứa là nếu không đi được (phải quay trở về Việt Nam) thì sẽ hoàn trả 100% tiền đã đưa. Và hẹn đến ba tháng sau tôi sẽ sang đó làm việc được. Tuy nhiên đã hét ba tháng từ lâu rồi mà tôi vẫn chưa được sang Hàn Quốc để làm việc và số tiền đã đưa cho người môi giới tôi cũng chưa đòi được, tôi đã đến tận nơi trụ sở của công ty đó nhưng nhận được phản hồi là không có công ty nào có tên như tôi nói có trụ sở làm việc ở đây.
Vậy xin hỏi luật sư, trong trường hợp này người môi giới bị xử lý như thế nào ? Làm thế nào để đòi lại được số tiền đã đưa cho người môi giới ?
Công ty này ở Việt Nam.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Chiếm đoạt tài sản bằng hành vi gian dối và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành như thế nào?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể các yếu tố cấu thành của tội này như sau:

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự

Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

=> Như bạn có nói ở trên thì bạn gặp và quen người này qua mạng xã hội facebook và họ nói họ sẽ giúp bạn sang xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc và mức giá là hai trăm triệu đồng và hứa hẹn sau ba tháng sẽ đưa bạn sang bên đó, nhưng đã hết ba tháng mà bạn vẫn chưa được sang đó lao động và bạn đã liên lạc lại với họ nhưng không được và khi đến tận trụ sở công ty của người này thì mới biết được là những lời nói của họ hoàn toàn là gian dối, hay nói cách khác là mục đích của họ là chiếm đoạt tài sản bằng hành vi gian dối.

2. Để lấy lại được tiên, người bị hại phải làm như thế nào ?

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn nên làm hồ sơ trình báo lên công an điều tra hình sự cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú để được điều tra làm rõ. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự khi thấy có yếu tố hình sự.

Hồ sơ trình báo công an bao gồm:

  • Đơn trình báo công an (theo mẫu)
  • Chứng minh thư nhân dân của bị hại (bản sao công chứng)
  • Sổ hộ khẩu của bị hại (bản sao công chứng)
  • Chứng cứ chứng minh khác kèm theo (hình ảnh, video, ghi âm, bản sao sao kê ngân hàng…..)

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Tư vấn về tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản ?

Xin chào luật sư! Tôi có thắc mắc rất mong nhận được sự giả đáp như sau: Tôi có quen ông A là người có thể chạy được việc làm giáo viên cho tôi. tôi đã làm 1 bộ hồ sơ xin việc và nộp kèm theo số tiền là 35 triệu đồng, nhưng trong quá trình đang làm hồ sơ đi nộp, một số người bạn của tôi đã hỏi tôi có còn chỉ tiêu xin việc nữa không giới thiệu cho mọi người đi nộp hồ sơ cùng với.
Tôi gọi điện thoại cho ông A và ông A nói còn thiếu rất nhiều chỉ tiêu nên ai muốn nộp thì làm hồ sơ và chuẩn bị 35 triệu đồng để nộp, đến ngày chúng tôi (tôi có 4 người bạn xin đi nộp hồ sơ cùng,cả tôi nữa là 5 người) hoàn tất mọi hồ sơ thủ tục và chuẩn bị đầy đủ 35 triệu đồng ,đến ngày 6 tháng 11 năm 2014 thì tôi gọi điện thoại cho ông A để thông báo chúng tôi đã hoàn tất mọi thủ tục và chuẩn bị tiền xong. Lúc đó ông A đã nói với tôi nếu cháu dẫn mọi người xuống thì cháu chỉ phải nộp 30 triệu đồng thôi, còn những người khác phải nộp 35 triệu đồng và mỗi bộ hồ sơ ông A sẽ trích cho tôi cho tôi 5 triệu đồng trên 1 bộ hồ sơ xin việc.
Thấy vậy tôi đồng ý và hẹn sáng hôm sau ngày 7/11/2014 xuống nhà ông A để nộp. Khi nộp tiền ông A có viết cho mỗi người chúng tôi 1 tờ giấy vay tiền với số tiền tương úng của từng người,( 4 người bạn của tôi là 35 triệu đồng,còn tôi chỉ 30 triệu đồng) khi mọi người ra về ông A có gọi tôi vào phòng riêng và đua cho tôi 20 triệu đồng tiền công mà tôi dẫn mọi người xuống, bảo tôi viết 1 tờ giấy "ngày 7/11/2114 tôi có vay của ông H 20 triệu đồng".
Hiện nay tôi đang bị cơ quan công an khởi tố điều tra. Vậy cho tôi hỏi nếu ra tòa tôi sẽ bị chịu hình phạt như thế nào?
Tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Việc bạn bị công an khởi tố điều tra về tội gì phụ thuộc vào việc tội phạm mà ông A đã thực hiện.

1: Hành vi phạm tội của ông A

Điều 139: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009)

"1: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng mà gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm,thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm"

Có thể thấy, ngay từ đầu ông A đã có ý định chiếm đoạt tài sản. Vì vậy đây không thể là tội lợi dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản được.Thủ đoạn gian dối của ông A chính là việc bằng lời nói làm cho bạn và người khác tin đó là sự thật để giao tiền cho ông A. Số tiền mà ông A chiếm đoạt được trong trường hợp này là 150.000.000 đồng vì vậy ông A phải chịu mức hình phạt là từ năm năm đến bảy năm theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139.

2: Trách nhiệm hình sự đặt ra với bạn

Trong trường hợp này, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu là đồng phạm của A trong tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản nếu bạn có bàn bạc, cố ý thực hiện tội phạm. Theo quy định tại điều 20 BLHS thì " Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm". Đồng phạm có thể là người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Để được coi là đồng phạm thì đấu hiệu lỗi là một yếu tố quan trọng. Lỗi ở đây bắt buộc phải là lỗi cố ý.

Theo thông tin thì bạn cũng là tin là ông A có thể chạy việc làm giáo viên cho bạn và những người khác và bạn không hề biết ông A là người lừa đảo. Mặc dù ông A hứa cho bạn khoản tiền 20.000.000 sau khi bạn dẫn bốn người kia đến còn lại nhưng và bạn không hề biết ông A là người lừa đảo và bản thân bạn cũng bị lừa số tiền 30.000.000 đồng nên bạn cũng như bốn người kia đề là nạn nhân của tội phạm. Vì vậy, không thể nói bạn là đồng phạm với ông A vì bạn không cố ý cấu kết cùng ông A để lừa bốn người. Do đó, vấn đề trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với bạn.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Bị người khác dùng thẻ ATM đi lừa đảo thì trách nhiệm thuộc về ai ?

Xin chào ! Luật sư tôi có vấn đề liên quan đến pháp luật muốn tham khảo tôi có dính đến vấn đề người ta sử dụng thẻ ATM mang tên tôi để lừa đảo , nếu như k bắt được người đó thì tôi có chịu trách nhiệm hình sự không ? Cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ Bộ luật hình sự 1999 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2009) đối với trường hợp của bạn, nếu như bạn bị tên lừa đảo kia bằng mọi thủ đoạn lừa dối để lấy thẻ đi lừa người khác và bản thân bạn không hề biết được hành vi này thì bạn sẽ không phải chịu TNHS kể cả khi cơ quan công an không bắt được tên tội phạm đó.

Tuy nhiên, nếu bạn đã biết hoặc hoàn cảnh khách quan buộc bạn phải biết được mục đích và động cơ lừa đảo của người này nhưng vẫn đưa thẻ cho người này thì lúc này bạn sẽ là động phạm với người này và đương nhiên bạn cũng phải chịu TNHS về tội này dù không trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo.

Xin hỏi luật sư, Em là t năm nay 22 tuổi e có y một cô gái làm trong ngành trinh sát của bộ quốc phòng. Tụi em quen nhau được một tháng rùi gặp nhau. Còn cô ấy ở xa lên trong thời gian cô ấy về đây công tác đã về nhà em ở và chúng em đã có quan hệ mấy lần bây giờ cô ấy đã có con với em mấy tháng nhưng bây giờ chúng em bị trục trặc vì tình cảm nên cô ấy chia tay với em. Và cô ấy có gọi điện cho em bảo sẽ bắt e về tội lừa đảo tình cảm của người khác. mong luật sư giải thích giúp em chuyện này với. liệu em có bị truy tố hình sự k ạ ? Em cảm ơn

Hiện nay , trên khía cạnh pháp luật BLHS hiện hành không có quy định nào về tội lừa đảo tình cảm cả. Việc hai bạn đã quan hệ dẫn đến có thai đều do lỗi của cả hai. Việc bạn không muốn lấy cô gái này cũng không vi phạm pháp luật. Đồng nghĩa với việc cô ấy không thể tố cáo bạn để khiến bạn phải chịu TNHS về hành vi này. Tuy nhiên, trên khía cạnh đạo lí thì hành vi của bạn là chưa phù hợp và thậm chí bị lên án. Do đó, nếu có thể hai bạn vẫn nên tìm cách hàn gắn lại. nếu không thể hàn gắn đồng thời cô gái này vẫn muốn giữ lại cái thai thì bạn nên thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con mình theo quy định của Luật HNGĐ.

Cháu chào luật sư. cháu muốn hỏi nếu một cán bộ quân đội khi đang học trong quân đội có con với con gái dân thường, sau đó lừa cô gái đó chờ đợi ra trường sẽ cưới và giấu diếm cấp trên của mình, nhưng khi ra trường anh ta bắt cô gái chờ đợi thêm 5 năm nữa và 1 ngày anh ta bí mật cưới vợ không cho cô gái kia biết, cùng lúc anh ta lừa cả 2 người con gái, 1 người đã có con với anh ta và chờ đợi anh ta gần 10 năm, 1 người là vợ mới cưới của anh ta. giờ cháu muốn kiện người mang trên mình màu xanh bảo vệ Tổ quốc này thì cháu phải làm sao ạ ?

Theo như bạn trình bày thì người cán bộ quân đội này khi đã cưới vợ ( bí mật) và trong thời gian đó vẫn có quan hệ tình cảm với bạn). Tuy nhiên, BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009 không có quy định về loại tội nào về liên quan đến hành vi lừa dối tình cảm của anh cán bộ này. Do đó, bạn không thể kiện người này về hành vi này được . Tuy nhiên, Hành vi này có thể bị xử phạt hành chính về vi phạm chế độ một vợ một chồng theo quy định của pháp luật. Và việc anh ta là cán bộ quân đội có hành vi như vậy nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý kỉ luật về hành vi của mình.

Luật sư cho mình hỏi nếu giao dịch qua mạng facebook mà bị lừa đảo thì mình có thể tố người lừa đảo đó là phạm tội lừa đảo không ? Trang cá nhân ấy trên facebook đã lừa rất nhiều người và hiện vẫn đang hoạt động nhởn nhơ liệu có cách nào để tố cáo người lừa đảo đó không ? Số tiền lừa thường giao động từ vài trăm cho đêm 1-2 triệu ? Mình cảm ơn

Căn cứ theo quy định tại Điều 139 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009 : Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Theo đó, Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản. Theo đó, để có thể tố cáo hành vi này bạn cần xét xem hành vi mà người đó thực hiện như thế nào có phải là "dùng thủ đoạn gian dối" như trên hay không? và giá trị tài sản chiếm đoạt được đã đủ 2 triệu đồng hay chưa. Từ đó mới có thể biêt hành vi này đã cấu thành tội này hay không. Nếu chưa đủ cấu thành tội phạm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

Chào luật sư! Cháu ở Lai Châu, cháu có một việc muốn nhờ luật sư giải đáp giúp ạ. Chị gái cháu làm nhà ở, do không đủ tiền nên đã mượn sổ đất của ông bà ngoại để đi vay tiền, khi vay tiền hai bên làm thủ tục giấy tờ và kí nhận, chị gái cháu đã kí tên ông ngoại, giấy tờ được cả UBND xã xác nhận, hiện nay chị gái cháu do chưa trả hết nợ cho bên vay nên họ vào nhà lấy tài sản, gia đình cháu hứa sẽ thu xếp trả nốt nhưng họ nói kể cả trả xong cũng sẽ kiện chị cháu vì tội mạo danh chữ kí để lừa đảo, và họ sẽ kiện cả UB nữa. Xin luật sư cho cháu biết chị cháu có phạm tội không ?
Căn cứ theo quy định tại Điều 139 về tội lừa đảo chiếm đoạt tại sản và thông tin bạn đã trình bày thì hành vi của chị gái bạn không phải là dùng thủ đoạn " giả chữ ký " để nhằm lừa đảo chiếm đoạt số tiền của bên cho vay. Do đó, chị bạn gái bạn không phạm tội danh này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?