QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT QUỐC TẾ - NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

Trong quá trình hình thành và phát triển luật quốc tế của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đóng một vai trò khá quan trọng. Các nguyên tắc của luật quốc tế là nền tảng, nguồn góp phần trong việc xây dựng và hoàn thiện luật quốc tế. Một trong những đặc trưng của Luật quốc tế thể hiện ở chỗ, trong hệ thống pháp luật này có các quy phạm mang tính nguyên tắc, được coi là nguyên tắc cơ bản, có hiệu lực pháp lý tối cao trong quan hệ quốc tế. Các nguyên tắc này đồng thời mang trong mình sức mạnh chính trị và đạo đức đặc biệt trong mối giao lưu của cả cộng đồng, nên trong thực tiến ngoại giao còn gọi là những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.

Có thể nói rằng hầu hết các hành vi của các quốc gia trên phạm vi quốc tế, các quan hệ quốc tế trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế và cả một số hành vi của các quốc gia trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế và cả một số hành vi của các quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình, trong một chừng mực nhất định đều được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế hoặc được thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Đó là vì đa số các quốc gia, kể cả các cường quốc, đều muốn sống trong một thế giới ổn định và có thể dự báo trước một cách tương đối hành vi của các thành viên khác của cộng đồng quốc tế. Và để đạt được điều đó thì việc xây dựng và phát triển Luật quốc tế luôn phải được đặt lên hàng đầu và bắt buộc các quốc gia trên thế giới phải thực hiện. Yếu tố trước tiên là phải đảm bảo đối với việc hình thành luật quốc tế, muốn đạt được điều đó cần phải có sự tham gia điều chỉnh của các nguyên tắc cơ bản này.

Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là nền tảng của quan hệ quốc tế hiện đại, Hiến chương Liên Hợp Quốc đã lấy nguyên tắc này làm cơ sở cho hoạt động của mình. Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các thành viên (khoản 1, Điều 2). Nguyên tắc này là nền tảng quan trọng nhất của toàn bộ hệ thống các nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại. Nó đã được ghi nhận trong điều lệ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực, trong nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương và trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng của các hội nghị và tổ chức quốc tế. Qua đó, các quy định của Luật quốc tế được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia vì trong quan hệ quốc tế việc xác định chủ quyền quốc gia có vai trò rất quan trọng. Việc thực hiện chủ quyền quốc gia sẽ khẳng định địa vị quốc tế của quốc gia được thể hiện qua quyền tự quyết về đối nội và đối ngoại của quốc gia. Hiện nay, trong quá trình quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế, sự ra đời của các tổ chức quốc tế phổ cập và khu vực đang ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc phối hợp hoạt động hợp tác của các quốc gia thành viên. Khi tham gia tổ chức quốc tế, các quốc gia thành viên tự nguyện trao cho tổ chức quốc tế một số thẩm quyền thuộc chủ quyền của mình. Sự trao quyền này không có nghĩa là quốc gia bị hạn chế chủ quyền. Quốc gia khi tự nguyện tham gia tổ chức quốc tế, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên, chịu sự chi phối nhất định của tổ chức quốc tế các hoạt động này phải được hiểu là quốc gia đang triển khai thực hiện chính chủ quyền của mình. Trong không gian quốc tế hiện nay, việc tôn trọng nghiêm chỉnh nguyên tắc này là cơ sở quan trọng để đưa trật tự thế giới phát triển theo xu hướng ngày càng ổn định, hội nhập và tiến bộ hơn.

Pháp luật quốc tế là phương tiện có nghĩa tạo lập môi trường ổn định, hòa bình, hữu nghị cùng phát triển, đó cũng chính là vai trò lớn nhất mà các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế mang lại. Các nguyên tắc cơ bản này đều là những quy phạm mệnh lệnh có giá trị bắt buộc với mọi chủ thể khi tham gia quan hệ quốc tế. Quy phạm này đóng vai trò làm nền tảng cho việc thiết lập và phát triển quan hệ bền vững, lâu dài giữa các chủ thế. Mặt khác trên cơ sở các nguyên tắc và quy phạm đó một trật tự sẽ được thiết lập trong đó quốc gia cũng như các chủ thể khác của pháp luật quốc tế phải tôn trọng, thực hiện tất cả những cam kết quốc tế của mình và phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm các kết quốc tế đó. Chính điều này sẽ tạo sự tin tưởng và thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực, cho dù các quốc gia này có chế độ chính trị - xã hội và hệ thống pháp luật khác nhau.

Chính các nguyên tắc cơ bản và các quy phạm pháp luật quốc tế sẽ là công cụ để các lực lượng tiến bộ đấu tranh xây dựng một trật tự thế giới mới trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, pháp lý trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và các bên cùng có lợi. Cụ thể hóa qua các điều ước, tuyên bố, định ước.. trong khuôn khổ Liên hợp quốc. Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực, dùng vũ lự được quy định tại khoản 4, Điều 2, Hiến chương LHQ. Nguyên tắc này đã cụ thể hóa một loạt các văn bản quốc tế quan trọng như Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với hiến chương LHQ (do Đại hội đồng thông qua năm 1970), Định ước Hexinki năm 1975.. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác xuất hiện đầu tiên trong các hiến pháp của một số nước tư sản thời kỳ cách mạng tư sản ở Châu Âu đã được ghi nhận trong Hiến chương LHQ (theo khoản 7, Điều 2). Nguyên tắc này đã góp phần vào điều chỉnh mối quan hệ quốc tế xây dựng nên quy định về quan hệ quốc tế giữa các quốc gia trong Tuyên bố của LHQ về các nguyên tắc của luật quốc tế liên quan đến quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia năm 1970. Ngoài ra, nguyên tắc này đã được ghi nhận trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng như Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị các nước Á Phi năm 1975 tại Băng – đung, Hiệp định Geneve.. Các quy phạm Luật quốc tế do chính các chủ thể của Luật quốc tế xây dựng không phải do một cơ quan quyền lực nào “sáng tạo” nên. Các quy phạm đó được xây dựng dựa trên cơ sở bình đẳng chủ quyền và trên cơ sở thỏa hiệp và nhân nhượng giữa các chủ thể của hệ thống pháp luật này. Tức là, trong quá trình xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế các chủ thể phải cố gắng đạt được sự thỏa hiệp tương ứng với các quy tắc xử sự và bên cạnh đó quan hệ với nhau, các chủ thể đó cùng công nhận quy tắc xử sự đó là bắt buộc (nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế).

Các nguyên tắc cơ bản quy định cơ sở của sự tác động qua lại khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Mặc dù chỉ là sản phẩm của quan hệ giữa các quốc gia, sau khi hình thành và phát triển, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế tạo nên một khung pháp lý vững chắc và tác động trở lại đối với các quốc gia và hành vi của các quốc gia trên cả bình diện quốc tế và trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Bởi vì trong thực tiễn quan hệ quốc tế, nhiều khi do sự mâu thuẫn, trái ngược về quan điểm và cả về lợi ích giữa các quốc gia mà dẫn tới một số quốc gia vì lợi ích của riêng mình mà có những hành động theo những xu hướng khác nhau. Tuy nhiên, các nguyên tắc cơ bản này là cơ sở để các quốc gia dựa vào tính chất, chuẩn mực của nó mà thỏa thuận tiến tới hình thành các điều ước, thỏa thuận quốc tế,…nhằm hướng tới quy chuẩn chung cho tất cả quốc gia phải tuân thu để giải quyết các mâu thuẫn hiện tại.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê (sưu tầm và Biên tập)