1. Quy định chung về quan hệ pháp luật hôn nhân

Thông thường quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ giới hạn giữa các thành viên trong gia đình. Trong một số trường hợp, chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình không phải là thành viên của cùng một gia đình. Các chủ thể trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình gắn bó với nhau bởi yếu tố tình cảm hoặc huyết thống hoặc cả hai yếu tố đó. Trong đa số các trường hợp, các yếu tố này quyết định việc phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình gồm ba yếu tố: chủ thể; quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình; khách thể (Xf. Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình; Khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

 

 

2. Định nghĩa quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình ?

Những quan hệ xã hội được Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh thì gọi là quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

 

3. Đặc điểm của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có những đặc điểm cơ bản sau:

- Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thông thường chỉ phát sinh giữa các thành viên gia đình với nhau và tồn tại trong một phạm vi hẹp là gia đình. Vì vậy, các chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thông thường là thành viên của một gia đình.

- Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình mang tồn tại lâu dài và bền vững, không thể xác định được thời hạn trước. Trong một số trường hợp, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình tồn tại ngay cả khi hôn nhân hoặc gia đình không còn tồn tại.

- Các chủ thể trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình gắn bó với nhau bởi yếu tố tình cảm hoặc huyết thống. Trong phần lớn các trường hợp, yếu tố tình cảm hoặc huyết thống quyết định việc phát sinh, thay đổi hay chẩm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

- Nội dung chính của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là các quyền và nghĩa vụ nhân thân. Các quyền và nghĩa vụ tài sản luôn gắn liền với các quyền và nghĩa vụ nhân thân của các chủ thể mà không thể chuyển giao cho người khác. Các quyền và nghĩa vụ tài sản phát sinh, tồn tại hay chấm dứt phụ thuộc vào các quyền và nghĩa vụ nhân thân.

- Quan hệ tài sản trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình không mang tính chất đền bù và ngang giá. Nghĩa vụ của các chủ thể đối với nhau không thể tính cân bằng. Khi một chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản thì không phụ thuộc vào việc trước đây họ có được hưởng quyền hay không hoặc được hưởng quyền như thế nào.

- Các chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thông thường tự nguyện thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Thông thường, các quy phạm pháp luật hồn nhân và gia đình không quy định biện pháp chế tài.

 

4. Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

- Năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình

Năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình là khả năng cá nhân có quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình, các quyền và nghĩa vụ đó được Nhà nước công nhận và được ghi nhận trong pháp luật. Các quyền và nghĩa vụ đó là: Quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; quyền được xác định cha, mẹ, con; quyền được kết hôn; quyền được nhận con nuôi hoặc quyền được làm con nuôi; quyền ly hôn... Quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình của chủ thể có trở thành hiện thực hay không còn phụ thuộc vào năng lực hành vi của chính chủ thể đó hoặc của chủ thể đối lập. Do đó, trong các quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình, có những quyền và nghĩa vụ chỉ phát sinh khi chủ thể thực hiện bằng chính hành vi của mình. Ví dụ: Quyền kết hôn, quyền được nuôi con nuôi... Bên cạnh đó, một số quyền của chủ thể trở thành hiện thực do chủ thể đối lập thực hiện nghĩa vụ của họ. Ví dụ: Quyền được cha mẹ yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được nhận làm con nuôi...

- Năng lực hành vi hôn nhân và gia đình

Năng lực hành vi hôn nhân và gia đình là khả năng bằng các hành vi của mình, chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ hồn nhân và gia đình đã được pháp luật quy định. Năng lực hành vi của chủ thể phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi và khả năng nhận thức của chủ thể. Khi chủ thệ đạt độ tuổi nhất định do pháp luật quy định và có khả năng nhận thức thì chủ thể đó có năng lực hành vi hôn nhân và gia đình, về nguyên tắc, độ tuổi có năng lực hành vi là tuổi thành niên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật quy định độ tuổi có năng lực hành vi của công dân có thể sớm hơn hoặc muộn hơn. Chẳng hạn, người từ đủ chín tuổi ứở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của người đó. Hoặc nam từ hai mươi tuổi trở lên mới được kết hôn...

Người chưa đến tuổi có năng lực hành vi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì một số quyền mà pháp luật quy định phải do chính chủ thể thực hiện sẽ không trở thành hiện thực như quyền kết hôn, quyền nhận con nuôi, quyền yêu cầu ly hôn... Đồng thời những chủ thể này cũng không phải thực hiện các nghĩa vụ hôn nhân và gia đình của mình. Chẳng hạn như nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ, con... Một số quyền hôn nhân và gia đình họ vẫn được hưởng do các chủ thể khác thực hiện. Xem thêm: Khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là gì ?

 

5. Nội dung của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

Nội dung của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chính là quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là cơ sở làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình cho mỗi chủ thể. Khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thì sẽ có các quyền và nghĩa vụ nhân thân và quyền và nghĩa vụ tài sản. Quyền và nghĩa vụ nhân thân là yếu tố tinh thần, tình cảm phát sinh giữa các chủ thể. Quyền và nghĩa vụ tài sản là lợi ích vật chất phát sinh giữa các chủ thể, bao gồm quyền sở hữu tài sản giữa vợ và chồng, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng giữa các chủ thể. Quyền và nghĩa vụ tài sản luôn gắn liền với nhân thân của mỗi chủ thể và không thể chuyển dịch cho người khác.

Quyền và nghĩa vụ nhân thân của chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, theo bản chất pháp lý là quyền tưong đối. Quyền và nghĩa vụ tài sản của chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình vừa mang tính tương đối, vừa mang tính tuyệt đối.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

 

6. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ?

Quy định của pháp luật về những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình:

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.

4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

5. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú.

6. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến hôn nhân gia đình, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê